LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ở
Ngân hàng thương mai cổ phần Bắc Á, chi
nhánh 57A Phan Chu Trinh-Hà Nội Lời nói đầu
Khi nói đến nền kinh tế của một đất nước phát triển, hiệu quả và công bằng hay không,
các chỉ tiêu kinh tế vi mô, vĩ mô như thể nào cụ thể là: Tốc độ tăng trưởng (GDP) bỡnh
quõn hàng năm, cơ cấu ngành kinh tế (CN-DN-NN), tốc độ lạm phỏt (G), cụng bằng xó hội
và cỏc chỉ tiờu phỏt triển con người là những chỉ tiêu phản ánh đậm nét nhất.
Để có một nền kinh tế phát triển thỡ phải đạt được đồng thời hai chỉ tiêu là tăng trưởng
kinh tế đi kèm công bằng xó hội , tuy nhiờn, đây là một vấn đề dài hạn không những với
nền kinh tế của chúng ta mà cũn của cả cỏc nước có nền kinh tế được coi là phát triển.
Với đất nước Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua những cuộc chiến tranh với
nhiều hi sinh và mất mát, nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhất là trong cuộc
chiến chống đế quốc Mỹ.
Thực hiện đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lảnh đạo, nền kinh tế nước ta đó vượt
qua nhiều khó khăn và thử thách đó đạt được những thành tựu đáng khích lệ:
Hằng năm tốc độ tăng trưởng đạt cao trên 7%, lạm phát được kiềm chế và nằm trong
tầm kiểm soát, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đó ngày càng khẳng định vai
trũ của minh trờn thị trường không chỉ thu gọn trong quốc gia, mà đang vươn rộng ra khu
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế tiền tệ, mọi chủ thể trong quỏ trỡnh hoạt động của mỡnh, luụn xảy ra
tỡnh trạng mất cõn đối trong luồng tiền ra và luồng tiền vào, từ thực tế đó, trong nền kinh tế
luôn tồn tại những nguồn tài chính dư thừa chưa được sử dụng đến và nó bị đưa ra ngoài lưu
thông dưới dạng tiết kiệm, bên cạnh đó, việc thiếu hụt tài chính của một số bộ phận tạo nên
nhu cầu vốn của nền kinh tế. Như vậy một dư thừa không sinh lời, một thiếu hụt làm mất cơ
hội đầu tư, làm cho nền kinh tế không hiệu quả trong sử dụng nguồn lực tài chớnh của
mỡnh, từ đó mà các nguồn lực khác cũng không phát huy hiệu quả, vỡ sản xuất cấn kết hợp
đầy đủ các yếu tố: Nhân lực, vật lực và tài lực
Từ yêu cầu đó hoạt động tín dụng ra đời từ dạng sơ khai là dùng tiền dư thừa để cho
vay, đến đi vay để cho vay. Cùng với sự phát triển của nên kinh tế hoạt động tín dụng ngày
này phát triển khá toàn diện:
mạng lưới hoạt động và quan hệ rộng rói với cỏc doanh nghiệp cũng như các ngân hàng
khác trong nước và quốc tế )
Thứ hai: Quan hệ tín dụng có nguyên tắc hoàn trả, có nghĩa là người cho vay giao
vốn cho người đi vay sử dụng trong thời hạn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, khi đáo
hạn mà không có các thoả thuận khác, thỡ người đi vay phải hoàn trả lại số vốn đó cộng
thêm phần thặng dư cho người cho vay.
Thứ ba: Giá trị hoàn trả lại thông thường phải lớn hơn giá trị gốc ban đầu, tức là
chính bằng phần gốc với phần lói. Giỏ trị thặng dư này đảm bảo cho ngân hàng bù đắp
những khoản chi phí, rủi ro và mang lại cho ngân hàng một phần lợi nhuận, do vậy, việc tính
toán chính xác mức lói suất, phải vừa đảm bảo yêu cầu trên từ phía ngân hàng, vừa phải đảm
bảo tính cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.
Thư tư: Trong quan hệ tớn dụng ngõn hàng, vỡ dựa trờn cơ sở các hợp đồng kinh tế
được pháp luật điều chỉnh, cho nên việc thực hiện đúng các thoả thuận đó cam kết là bắt
buộc.
Thứ năm: Hoạt động tín dụng gắn liền với hệ thông lưu thông tiền tệ của một quốc
gia. Biểu hiện chính là nó được thực hiện bởi các Trung gian tài chính và thông qua hoạt
động tín dụng của các Trung gian tài chính đó đó tỏc động trực tiếp đến quá trỡnh luõn
chuyển vốn của nền kinh tế. Cỏc Trung gian tài chớnh thụng qua huy động vốn và cho vay
đó thực hiện đưa vốn tiết kiệm từ dân cư (vốn ngoài lưu thông) vào quá trỡnh đầu tư có hiệu
quả, làm tăng vũng quay vốn của nền kinh tế.
Thứ sáu: Hoạt động tín dụng đa dạng phong phú và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tính đa
dạng của hoạt động tín dụng thể hiện ở: Thành phần khách hàng giao dịch (họ có thể ở cùng
miền hoặc miền khác nhau, thuộc các thành phần kinh tế và giai tầng xó hội khỏc nhau).
Trong thời kỡ cụng nghệ thụng tin phỏt triển mạnh mẽ như hiện nay, thỡ khoảng cỏch giữa
mọi người đó được thu hẹp, thị trường hoạt động được mở rộng, quan hệ tín dụng phát triển
về cả số lượng và quy mô, bên cạnh đó, mục đích sử dụng vốn cũng rất đa dạng liên quan
đến mọi hoạt động của nền kinh tế. Vỡ đa dạng và liên quan đến mọi hoạt động của nền kinh
tế cho nên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Rủi ro trực tiếp từ chính hoạt
động của NH như: Rủi ro thanh khoản (mất khả năng giải ngân), rủi ro mất vốn do chính
dịch, mà cũn đóng một vai trũ cực kỡ quan trọng đối với nề kinh tế bởi những lợi ích to lớn
mà chính nó mang lại.
Thứ nhất: Thông qua hoạt động này, vốn đó được tập trung và cung ứng cho nền kinh
tế; trên cơ sở đó, đảm bảo cho quỏ trỡnh luõn chuyển vốn và đầu tư của xó hội cú hiệu quả.
Thứ hai: Hoạt động tín dụng góp phần ổn định lưu thông tiền tệ và hàng hoá.
+ Với lưu thông tiền tệ: Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng có được thông tin
quan trọng để điều tiết lưu thông tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ.
+ Với lưu thông hàng hoá: Qua hoạt động tín dụng góp phần cân đối cung cầu trên thị
trường.
Thứ ba: Kiểm soát thị trường và thu hút đầu tư trong và ngoài nước.
+ Kiểm soát thị trường: Với thị trường vốn và thị trường tiền tệ hoạt động này của
ngân hàng đóng vai trũ điều tiết rất lớn, kênh huy động vốn (khách hàng là người cho vay và
ngân hàng đóng vai trũ là đi vay) và kênh cung cấp vốn (ngược lại); khi thị trường có nhưng
biến động, tín dụng thông qua lói suất và cỏc điều kiện cho vay sẽ điều tiết lại sự cân bằng
của thị trường, Với thị trường hàng hoá, hoạt động tín dụng cũng có sự kiểm soát nhất định.
Với cung hàng hoá qua kênh tín dụng có tác động trực tiếp hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp,
nhà máy hay thông qua cổ đông. Cũn với cầu hàng hoỏ hoạt động tín dụng gián tiếp tác
động đến tiêu dùng của khách hàng hay cầu đầu tư của doanh nghiệp. Như vậy với sự kiểm
soát thị trường, sẽ tạo nên sự ổn định và tính định hướng của thị trường.
+ Thu hút đầu tư: Ổn định môi trường, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền
Những điều này sẽ mang lại một môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư, không chỉ
trong mà cũn cả ngoài nước
Thứ tư: Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước thông
qua thuế thu nhập và đầu tư có uỷ thác của chính phủ.
1.1.4 Cỏc hỡnh thức cấp tớn dụng ngõn hàng
Điều 49 Luật Các Tổ chức tín dụng qui định: “ TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức,
cá nhân dưới hỡnh thức cho vay; chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giỏ
khỏc; bảo lónh; cho thuờ tài chớnh và cỏc hỡnh thức khỏc theo qui định của Ngân hàng Nhà
nước”.
số lói vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỡ hạn trong
thời hạn vay.
f.Cho vay theo hạn mức tớn dụng dự phũng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách
hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. TCTD và khách hàng thoả thuận
thời gian hiệu lực của hạn mức tớn dụng dự phũng, mức phớ trả cho hạn mức tớn dụng dự
phũng.
g.Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp thuận cho
khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng, để thanh toán tiền
mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động.
h.Cho vay theo hạn mức thấu chi: TCTD cho phép khách hàng chi vượt số tiền ghi trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của mỡnh phự hợp với cỏc quy định của Chính phủ và NHNN về
hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.1.4.2 Chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá.
Là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác cho ngân hàng để đổi lấy một số tiền bằng mệnh
giá của thương phiếu và các giấy tờ có giá, trừ đi lói chiết khấu và hoa hồng phớ (nếu cú).
Đây là một trong những kỹ thuật cho vay cổ điển của ngân hàng và vẫn được áp dụng rộng
rói đến ngày nay.
1.1.4.3 Cho thuê tài chính.
Cho thuờ tài chớnh là một hỡnh thức tài trợ vốn, trong đó theo yêu cầu sử dụng của
bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển giao cho bên đi thuê sử dụng
trong một khoảng thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuờ cho
bờn sở hữu tài sản theo kỡ hạn thoả thuận.
Hoạt động cho thuê đó trải qua hàng nghỡn năm, nhưng đến giữa thế kỉ XX mới trở
thành một ngành kinh doanh thực sự. So với các nước trên thế giới, hoạt động cho thuê tài
chính thâm nhập vào Việt Nam có phần muộn hơn. Hịên nay cả nước có trên 10 công ty cho
thuê tài chính bao gồm: Các công ty cho thuê trực thuộc các NHTM, công ty cho thuê liên
doanh và công ty cho thuê 100% vốn nước ngoài.
ngân hàng đó trong từng thời kỡ nhất định.
Về khía cạnh toàn bộ nền kinh tế: Đối với một nền kinh tế, hoạt động tín dụng có chất
lượng khi nó làm cải thiện các chỉ tiêu kinh tế vi mô và vĩ mô như: Cân bằng cung cầu trên
thị trrường, ổn định thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ trong từng thời kỡ, thỳc đẩy
hoạt động đầu tư, tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống của người lao động
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng.
Khi nói đến chất lượng tín dụng, các nhà quản trị phải biết những nhân tố nào quyết
định đến nó; từ đó có các quyết định quản trị phù hợp và hiệu quả nhằm mục đích cải thiện,
duy trỡ và nõng cao chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Chất lượng tín dụng là một chỉ
tiêu mang tớnh tổng hợp rất cao, vỡ nú nảy sinh trong quan hệ tớn dụng giữa ngõn hàng và
khỏch hàng trong nền kinh tế; cho nờn nhỡn nhận chất lượng tín dụng cũng phải đi từ các
khía cạnh:
Đứng từ khía cạnh khách hàng: Đối với khách hàng để đánh giá chất lượng tín dụng
thường qua các chỉ tiêu sau:
- Quy trỡnh, thủ tục. Khi đến với ngân hàng, khách hàng phải tuân thủ những quy
trỡnh thủ tục, theo quy định của ngân hàng.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng đối với khách hàng. Điều này cũng
ảnh hưởng không ít đến cái nhỡn của về quy mụ, uy tớn và tiềm lực tài chớnh và từ đó ảnh
hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của khách hàng.
- Chi phớ cấp tớn dụng: Bao gồm lói vay và cỏc loại phớ khỏc mà khỏch hàng phải
chịu; đây là yếu tố mà khách hàng chú ý nhất về một ngõn hàng. Nó biểu hiện khả năng
cạnh tranh, là sự ưu đói lớn với khỏch hàng khi tham gia giao dịch. Và chi phớ này cũng cú
ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của khách hàng.
- Tài sản đảm bảo: Điều kiện về tài sản đảm bảo là cần thiết, nhưng quá khắt khe
cũng không thể nói là có chất lượng được. Vỡ trong trường hợp này sẽ làm cho quan hệ tín
dụng khó xảy ra, khi khách hàng khó đáp ứng được.
- Các hỗ trợ khác: Trong điều kiện ngày nay, bên cạnh vốn thỡ cỏc hỗ trợ khỏc cũng
đóng vai trũ rất quan trọng như các dịch vụ thanh toán, mở tài khoản, thẻ tín dụng, tư vấn tài
chính cho khách hàng và đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, tư vấn kĩ thuật là điều rất
lưọng tuyệt đối hay tương đối biểu hiện tỉ lệ phần trăm giữa dư nợ tín dụng được cấp ra mà
không thu hồi được đúng hạn chia cho tổng dư nợ cho vay, cho thuê đến một thời điểm.
- Nợ quá hạn khó đũi, nợ khụng cú khả năng thu hồi: Đây là khoản vốn lỳc này
khụng cũn là rủi ro nữa, mà đó mang lại thiệt hại cho ngõn hàng. Đây là kết quả trực tiếp
biểu hiện chất lượng của một khoản tín dụng cấp cho khách hàng. Một ngân hàng khi có tỉ lệ
nợ này trên tổng dư nợ cho vay cho thuê là cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng
là rất thấp và lúc này cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mỡnh nếu khụng
hậu quả là khú lường trước được.
- Chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng dư nợ: Là kết quả tổng hợp của hoạt động kinh doanh
ngân hàng trong một thời kỡ, cho nờn chỉ tiờu này khụng những phản ỏnh chất lượng của
hoạt động kinh doanh nói chung, mà nó cũn cả chất lượng tín dụng nói riêng. Khi chỉ tiêu
này càng cao, chứng tỏ hoạt động tín dụng có hiệu quả cao.
- Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trên tổng lợi nhuận: Lợi nhuận của hoạt
động ngân hàng được mang lại từ rất nhiều hoạt động khác nhau; trong đó, tỉ trọng của lợi
nhuận từ hoạt động tín dụng phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động đó trên tổng lợi
nhuận, phản ánh hiệu quả từ nó mang lại. Nếu tỉ trọng này càng cao chứng tỏ một phần chất
lượng tín dụng của ngân hàng cao.
Từ phớa xó hội: Chất lưọng tín dụng cao mang lại nhiều hiệu quả kinh tế xó hội nhất
định, tạo điều kiện trực tiếp hay gián tiếp cho các ngành kinh tế khác phát triển:
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế ngành và liên ngành
- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế xó hụi: Gúp phần biến những vựng đất ngèo, dân cư
thưa thớt thành vùng kinh tế trù phú, góp phần thực hiện phân bố lại lao động trong cả nước
theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
- Các tác động gián tiếp về môi trường. Khi cung cấp tín dụng, ngân hàng phải quan
tâm đến mức độ ảnh hưởng của các dự án, phương án đến môi sinh môi trường, sức khoẻ
của người dân.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
Chất lượng tín dụng là chỉ tiêu tổng hợp, chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố cả về
phía ngân hàng và khách hàng.
- Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng của ngân hàng: Giúp ngân hàng loại bớt
những khoản vay có rủi ro cao, các điều kiện tín dụng. Điều kiện tín dụng mang đến cho
ngân hàng cơ sở pháp lý và kinh tế để cung cấp môt khoản vay an toàn và hiệu quả. Trong
đó đặc biết quan trọng là bảo đảm tín dụng giúp ngân hàng dự phũng cỏc khoản thu, nếu
khách hàng không thực hiện đúng hợp đồng và cũng là ràng buộc khách hàng sử dụng vốn
có hiệu quả hơn.
- Năng lực tài chính: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
cấp cho một khách hàng. Năng lực tài chính của khách hàng là khả năng về vốn và tài sản
của khách hàng đáp ứng cho sản xuất kinh doanh, cũng như trả nợ của khách hàng. Khả
năng tài chính của khách hàng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính như: Các hệ số
về cơ cấu vốn, hệ số về khả năng thanh toán, hệ số về kết quả kinh doanh
- Năng lực thị trường: Đối với một khách hàng, khi vay vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất
kinh doanh, ngân hàng cần phải đánh giá năng lực thị trường của khách hàng đó; tức là vị trí
của khách hàng, sản phẩm của họ trên thị trường như thế nào, từ đó mới biết được tính khả
thi của phương án, dự án sản xuất kinh doanh đó. Nhu cầu của thị trường trong hiện tại,
cũng như trong tương lai về sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua phân
tích tỡnh hỡnh và mức độ cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, các đối thủ cạnh
tranh để thấy điểm mạnh và điểm yếu và mạng lưới tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến
năng lực thị trường của khách hàng.
- Năng lực sản xuất: Nguốn trả nợ của khách hàng chủ yếu là từ chính kết quả của
quá trỡnh sản xuất, là lợi nhuận do phương án, dự án mang lại; do vậy, năng lực sản xuất
của khách hàng quyết định đến chất lượng và số lượng đầu ra của sản phẩm và từ đó, ảnh
hưởng đến doanh thu, lợi nhuận đầu vào của khách hàng, nguồn trả nợ ngân hàng.
- Năng lực quản lý: Cơ cấu hệ thống quản trị, ban điều hành, trỡnh độ kinh nghiệm,
phương pháp quản lý của cỏn bộ lónh đạo có ảnh hưởng đến tính chất và khả năng hoạt
động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Tư cách đạo đức: Trong quan hệ tín dụng với khách hàng tư cách đạo đức quyết
định đến thiện chí trả nợ và điều này quyết định đến hành động trả nợ của khách hàng.
1.3.2 Nhân tố từ phía ngân hàng.
lược tín dụng, chính sách phê duyệt tín dụng và cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy định của
ngân hàng.
- Tài sản đảm bảo nợ vay phải được thực hiện đầy đủ và phù hợp với quy định của
ngân hàng.
- Cỏc khoản gốc, lói, phớ tiền vay được thu, tính và hạch toán đầy đủ, đúng hạn.
- Đảm bảo tính chính xác, đúng đắn trong hoạt động tài chính của ngân hàng.
+ Nguồn vốn hoạt động: Quy mô, cơ cấu, thời hạn nói chung là chất lượng nguồn
vốn có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, bởi vỡ hoạt động cấp tín dụng phải
căn cứ vào nguồn vốn. Nếu nguồn vốn dồi dào, thời hạn và cơ cấu phù hợp, sẽ giảm chi phí
đầu vào và tạo nguồn hiệu quả nhất cho đầu ra, đảm bảo sức cạnh tranh thu hút khách hàng
tốt.
+ Công nghệ ngân hàng: Có tác dụng làm cơ sở nền tảng nâng cao chất lượng cho các
nghiệp vụ tín dụng.
+ Tổ chức bộ máy và chất lượng nhân sự: Nhỏ gọn, hiệu quả đảm bảo đủ số lượng,
đáp ứng chất lượng sẽ làm cho ngân hàng hoạt động tốt hơn.
1.3.3 Nhân tố từ môi trường khách quan.
+ Môi trường kinh tế: Có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của khách hàng và cả ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động cấp và thu hồi
tín dụng, cụ thể:
- Sự biến động có tính chu kỳ của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng tới điều kiện kinh doanh,
từ đó ảnh hưởng tới nguồn trả nợ ngân hàng. Được biểu hiện qua các chỉ số kinh tế vĩ mô
như: GDP, lói suất, tỷ giỏ, lạm phỏt
- Tính chất cạnh tranh của thị trường ảnh hưởng đến nguồn thu, lợi nhuận thậm chí
suy thoái và phá sản của khách hàng.
+ Môi trường chính trị và pháp luật: Sự ổn định về chính trị, sự thống nhất và hoàn
thiện, sự thay đổi của chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thể trong nền kinh
tế nói chung và ngân hàng, khách hàng nói riêng trong quan hệ tín dụng.
+ Khoa học - công nghệ: Sự tiến bộ khoa học - công nghệ quyết định đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của khách hàng và hoạt động của ngân hàng và đặt ra vấn đề thời đại
những khó khăn vướng mắc trong quá trỡnh cấp tớn dụng của ngõn hàng.
- Đa dạng và phức tạp. Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm đáp ứng nhiều nhu
cầu khác nhau của nhiều khách hàng khác nhau, cho nên rủi ro từ đó mang lại cũng rất đa
dạng và phức tạp. Do vậy, để có thể đối phó hiệu quả với rủi ro, ngân hàng cũng phải có
nhiều biện phỏp khỏc nhau phự hợp với từng loại rủi ro trong từng thời kỡ.
1.4.2 Nhận biết rủi ro tín dụng.
Một khoản vay khi được coi là có rủi ro cho ngân hàng, khi nó có những dấu hiệu có
thể ảnh hưởng đế khả năng thanh toán của khách hàng. Những dấu hiệu này khụng phải lỳc
nào cũng biểu hiện rừ ràng để chúng ta dễ nhận thấy, mà đội lúc trong quá trỡnh diễn tiến,
chỳng vẫn cũn rất mờ nhạt và đôi khi nhận thấy chúng thỡ đó quỏ muộn. Do vậy để nhận
thấy chúng một cách hiệu quả và kịp thời, chính cán bộ ngân hàng phải biết cách nhận biết
chúng một cách có hệ thống.
Nhóm 1: Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
- Trong quỏ trỡnh giao dịch vúi khỏch hàng thụng qua cỏc tài khoản, Ngõn hàng một
phần cú thể nắm được tính hỡnh tài chớnh của họ qua một số dấu hiệu quan trọng như: Phát
hành séc quá bảo chứng, khó khăn trong thanh toán lương, sự dao động của các tài khoản
mà đặc biệt là giảm sút số dư các tài khoản tiền gửi, tăng mức sử dụng bỡnh quõn cỏc tài
khoản, thường xuyên yêu cầu hỗ trợ vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, không có khả
năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí, gia tăng các khoản nợ thương mại hay không
có khả năng thanh toán nợ đến hạn với đối tác kinh doanh
- Đối với các hoạt động cho vay: Mức độ vay thường xuyên tăng, thanh toỏn chậm
cỏc khoản gốc và lói, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho gia hạn, yêu cầu các khoản vay
vượt quá dự kiến.
- Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động
phát triển dài hạn, chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, giảm các khoản phải trả,
tăng các khoản phải thu, hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu, có biểu hiện giảm
vốn điều lệ
Nhóm 2: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khỏch hàng:
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành.
dụng có thể nhỡn thấy như: Vấn đề về đạo đức thông qua dáng vẻ, cách giao tiếp, sự xuống
cấp trông thấy ở nơi kinh doanh
Như vậy thông qua đặc điểm và các dấu hiệu rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể đưa ra
và áp dụng các biện pháp phũng ngừa và hạn chế một cỏch thực sự cú hiệu quả để tránh rủi
ro mang lại cho ngân hàng và nâng cao chất lượng tín dụng. Cụ thể ngân hàng có thể sử
dụng các biện pháp như sau:
- Biện pháp đảm bảo các khoản vay.
- Gặp gỡ khách hàng: Sau khi cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở tin tưởng khách
hàng có đầy đủ khả năng trả nợ tuy nhiên khi xuất hiện một số dấu hiệu rủi ro cho thấy sự
giảm sút của chất lượng tín dụng thỡ ngõn hàng phải gặp gỡ khỏch hàng nhằm tỡm cỏc biện
phỏp khắc phục trờn cơ sỏ sự hợp tác hay bằng chính quyền của ngân hàng Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu một số lí luận cơ bản trên có thể đánh giá được vai trũ hết sức
quan trọng của hoạt động quản lí tín dụng tại ngân hàng thương mại. Từ đó, rút ra những
mặt đạt được và chưa được để tỡm ra biện phỏp khắc phục, thỏo gỡ nhằm đảm bảo hoạt
động tín dụng ngày càng hiệu quả, góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mạnh và ổn
định.
Hơn mười năm hoạt động kinh doanh, ngân hàng TMCP Bắc Á đó liờn tục phỏt
triển về quy mụ, vốn điều lệ, mạng lưới, tổ chức, hoạt động đảm bảo an toàn, kết quả kinh
doanh có lói, liên tục và được xếp vào một trong mười Ngân hàng cổ phần tốt nhất tại Việt
Nam. Với mức vốn điều lệ 71 tỷ đồng năm 2002 và vào năm 2004 đó đạt 115 tỷ đồng, tăng
gần gấp hai lần chỉ sau 4 năm. Trong hoạt động kinh doanh của mỡnh. Ngõn hàng tăng
cường hợp tác chặt chẽ với các Ngân hàng thương mại và Tổ chức tín dụng khác trên nhiều
lĩnh vực hoạt động kinh doanh như: hoạt động vốn trên thị trường liên ngân hàng, đồng tài
trợ, uỷ thác đầu tư, ứng dụng các công nghệ mới như: homebanking, internetbanking,
phonebanking, nhằm tăng chất lượng dịch vụ cho khách hàng. Cụ thể: Ngân hàng TMCP
Bắc Á là thành viên chính thức của Hiệp hội thanh toán viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu,
của Hiệp hội các Ngân hàng Châu á, Hiệp hội các Ngân hàng Việt Nam và Phũng thương
mại công nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, ngõn hàng cũn là một trong mười ngân hàng được
chọn tham gia vào hệ thống thanh toán tự động Liên Ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng có tăng trưởng hàng năm khá. Bên cạnh cho vay
các doanh nghiệp truyền thống là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay tiêu dùng, tài trợ
xuất nhập khẩu, cho vay du học, xuất khẩu lao động, cho vay cổ phần hoá ,cũng là đối
tượng tập trung đáp ứng của ngân hàng. Các dự án lớn, các công trỡnh lớn cũng được ngân
hàng chú trọng đầu tư thông qua hỡnh thức liờn doanh, đồng tài trợ mang lại hiệu quả cao.
Việc củng cố, tăng cường các mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các Ngân hàng với các Tổ
chức tài chính – Tín dụng khác vẫn luôn được Ngân hàng chủ động lưu ý đúng mức. Chất
lượng tín dụng được coi trọng, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn từ 2% năm 2001 giảm xuống cũn
dưới 1% trên tổng dư nợ cho vay cho đến nay.
Về kết quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng TMCP Bắc Á trong
mười năm qua đều tăng trưởng ổn định, đạt trên 9.925 triệu đồng năm tài chính 2002 đến
năm 2003 là 12.406 triệu đồng, năm 2004 đạt cao nhất 15.210 triệu đồng. Là một trong
những ngân hàng có mức lợi nhuận trước thuế cao của hệ thống các ngân hàng TMCP. Kể
từ khi thành lập và đi vào hoạt động đến nay, ngân hàng luôn thực hiện nghiêm túc, đầy đủ
nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Bên cạnh hoạt động kinh doanh chính, ngân hàng TMCP Bắc Á luôn chú trọng đến