Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á - Pdf 30

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
LỜI CAM KẾT
Tên tôi là: VŨ THỊ DUNG.
Sinh viên lớp: Kinh tế Phát triển 48B
Khoa: Kế hoạch và Phát triển
Sau 4 năm học tập, 15 tuần thực tập tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á,
được sự cho phép của khoa Kế hoạch và phát triển cùng với sự hướng dẫn tận tình
của PGS.TS Phan Thị Nhiệm tôi đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng
tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin cam đoan đây là kết quả của việc áp dụng những kiến thức học tập được
tại nhà trường và những kiến thức thực tế tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á.
Nó là công trình nghiên cứu của riêng tôi chứ không sao chép từ bất kỳ một chuyên
đề, luận văn nào khác.
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Vũ Thị Dung
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1 Tình hình huy động vốn của ngân hàng TMCP Bắc Á. Error: Reference
source not found
Biểu 2.2: Biểu đồ kết quả hoạt động cho vay của ngân hàng TMCP Bắc Á Error:
Reference source not found
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
LỜI MỞ ĐẦU
Đã từ lâu, ngân hàng trở thành một dịch vụ nền tảng của những quốc gia phát
triển. Ngân hàng ra đời góp phần điều tiết các nguồn vốn, là kênh phân phối vốn,

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
Chuyên đề được chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan về chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại cổ phần Bắc Á
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Bác Á
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phan Thị Nhiệm đã hướng dẫn, giúp đỡ
em tận tình, em cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng tín dụng tại
ngân hàng TMCP Bắc Á đã giúp em có cái nhìn thực tế về hoạt động tín dụng tại
ngân hàng để em có thể hoàn thành đề tài này.

SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ những đồ vật quí cho những
người sở hữu nó tránh mất mát và người chủ sở hữu nó phải trả cho người giữ một
khoản tiền công. Khi xã hội phát triển kéo theo thương mại phát triển nhu cầu về
lượng tiền càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền và nhàn rỗi trong xã hội và
dùng lượng tiền đó cho vay lại. Đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt
động của ngân hàng.
Ngân hàng thương mại (NHTM) được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở các
nước trên thế giới. Ở một số nước, thì khái niệm NHTM để chỉ một số tổ chức tài

sự hoạt động của NHTM. Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn pháp định theo
luật thì ngân hàng phải thường xuyên quan tâm tới việc tăng trưởng vốn trong cả quá
trình hoạt động kinh doanh của mình. Thông thường kết cấu nguồn vốn của một
NHTM gồm có: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác. Mỗi loại vốn đều có
những ai trò tính chất riêng. Trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM và trong
suốt quá trình hoạt động của NHTM các nghiệp vụ huy động theo từng loại vốn kể
trên sẽ được tiến hành xen kẽ lẫn nhau phụ thuộc vào yêu cầu của hoạt động kinh
doanh và thực trạng vốn của ngân hàng.
* Nghiệp vụ sử dụng vốn
Sau khi huy động được vốn, NHTM phải sử dụng thế nào để hiệu quả hoá
những nguồn tài sản này. Thông thường hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng tập
trung vào các hình thức sau:
Nghiệp vụ ngân quỹ: là hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích bảo đảm
khả năng thanh toán thường xuyên như: các quỹ tiền mặt, các khoản tiền gửi thanh
toán ở NHTW và NHTM khác, các khoản tiền đang trong quá trình thu về.
Nghiệp vụ cho vay: là hoạt động kinh doanh giữ vị trí chủ chốt của ngân
hàng trong việc tạo ra lợi nhuận. Các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn từ 60-
80% tổng số tài sản có của NHTM và đem lại hơn 60% doanh lợi cho ngân hàng. Đại
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
bộ phận tiền huy động được ngân hàng cho vay theo 2 loại chính là cho vay ngắn hạn
và cho vay trung dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, đời sống,
dịch vụ kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế, đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường và của ngành ngân hàng, các NHTM còn đưa ra nhiều loại hình tín dụng
khác, đa dạng đáp ứng đầy đủ nhu cầu tín dụng của các thành phần trong nền kinh tế
như: tín dụng thông thường cho các đơn vị kinh doanh, tín dụng chứng từ, tín dụng
thuê mua,…
Nghiệp vụ đầu tư: hoạt động đầu tư của NHTM diễn ra chủ yếu trên thị
trường tài chính thông qua việc mua bán các chứng khoán. Thu nhập ngân hàng thu

chính là: lòng tin (sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của người
cho vay đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời gian người vay sử
dụng tiền vay); sự hứa hẹn hoàn trả. Và như vậy, phạm trù tín dụng có các đặc trưng
chủ yếu sau:
Tín dụng là có lòng tin: bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh
“creditum” có nghĩa là “sự giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín
dụng cũng cho ta thấy tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa
hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay.
Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu
tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có
lòng tin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay. Nếu người cho vay
không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì quan hệ tín dụng có thể
không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không
thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín
dụng cũng có thể không phát sinh. Trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay
đối với người đi vay quan trọng hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là người giao phó
tiền bạc hoặc tài sản của mình cho người khác giữ và sử dụng.
Tín dụng là có tính thời hạn: khác với các quan hệ mua bán thông thường khác
(sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt
bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không
trao đổi quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng
hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi
khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải
hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam
kết đã tảo thuận với người cho vay.
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ đều là hàng hoá và vì thế nó cũng
có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay chỉ bán “giá trị
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
6

+Phân loại theo kỳ hạn nợ: Phân loại theo kỳ hạn nợ căn cứ vào thời hạn trả
nợ đã thoả thuận trong hợp đồng vay vốn và khả năng thanh toán thực tế của bên vay
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
vốn để quy định từng lần vay vốn cụ thể cho một khoản vay. Theo tiêu thức này,
người ta chia các khoản nợ thành 3 loại: nợ chưa đến hạn, nợ đến hạn và nợ quá hạn.
Nợ chưa đến hạn là nợ chưa đến thời hạn thanh toán, khoản nợ này có thể thu
hồi được nhưng cũng có khả năng rủi ro. Giai đoạn này có thể biến Ngân hàng ở thế
bất lợi thành thuận lợi và ngược lại. Làm tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho việc hoàn
thành chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng .
Nợ đến hạn là khoản nợ đến hạn phải thanh toán, nó được dùng để đánh giá
một khoản tín dụng đã cung cấp và có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính và khả
năng thanh toán của NHTM. Không thể nói rằng tình hình của một NHTM là khả
quan khi có nhiều khoản nợ đến hạn mà không có khả năng thanh toán được.
Nợ quá hạn là những khoản nợ vì lý do nào đó mà đến thời hạn chưa thanh
toán được. Đây là nguyên nhân chính làm cho tình hình tài chính của NHTM trở nên
khó khăn. Nợ quá hạn càng lớn, mức độ rủi ro thiếu thanh khoản ngày càng cao. Mục
tiêu của NHTM là thu nợ đúng hạn. Thực hiện mục tiêu này, không những chỉ có thể
đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của NHTM mà nó còn cho thấy vai trò
đòn bẩy của vốn tín dụng trong thúc đẩy sản xuất phát triển.
Việc thực hiện quản lý các khoản nợ này là một dãy liên hoàn và có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình quản lý của một khoản cho vay. Quản lý, theo dõi
chặt chẽ các khoản nợ chưa đến hạn, thu nợ kịp thời khi khoản vay đến hạn thanh toán
sẽ góp phần hạn chế được nợ quá hạn. Phân loại theo kỳ hạn nợ giúp cho cán bộ tín
dụng có biện pháp theo dõi, quản lý thích hợp, dự kiến được khoảng thời gian và biện
pháp thu hồi nợ, trên cơ sở đó lập kế hoạch tín dụng cho thời kỳ tiếp theo.
+ Phân loại theo tính chất đảm bảo của khoản nợ:
Theo tiêu thức này, các khoản nợ được chia thành 2 loại: nợ có đảm bảo (bằng
tài sản thế chấp hay được bảo lãnh, tái bảo lãnh) và nợ không có đảm bảo. Mức độ

hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài chính cho
người cung cấp. Do đó, trong kinh doanh tín dụng, chất lượng tín dụng ngân hàng đ-
ược thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát
triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời phải đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng.
Với cách định nghĩa như trên, chất lượng tín dụng ở đây sẽ được đánh giá trên 3
góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.
Đối với NHTM: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, giới hạn, mức độ tín
dụng phù hợp với khả năng thực lực của bản thân ngân hàng đồng thời đảm bảo được
tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn và đồng thời có
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
lãi.
Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để đầu tư
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh do đó chất lượng tín dụng được đánh giá theo
tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng ở mức lãi suất và kỳ hạn hợp
lý. Hơn nữa đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng
nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc tín dụng.
Đối với nền kinh tế: với sự phát triển kinh tế xã hội, chất lượng tín dụng được
đánh giá thông qua khả năng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, khai thác các
khả năng trong nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tăng tr-
ưởng tín dụng, hoà nhập với cộng đồng quốc tế.
Hiểu đúng bản chất của chất lượng tín dụng, đánh giá và phân tích đúng chất lư-
ợng tín dụng hiện tại cũng như việc xác định chính xác các nguyên nhân những tồn
tại về chất lượng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thích hợp để có
thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM
Trong tổng thể các hoạt động ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng luôn

ngân hàng.
Các kết quả thu được từ việc nâng cao chất lượng tín dụng kể trên sẽ góp phần cải
thiện tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong suốt quá
trình cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động của khách hàng, kéo theo sự phát triển
của nền kinh tế. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là một tất yếu khách quan
vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của bản thân các NHTM.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM. Do đó, đo lường chất
lượng tín dụng là một nội dụng quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động
kinh doanh của NHTM. Tùy vào mục đích phân tích mà đưa ra nhiều chỉ tiêu khác
nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có nội dung khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật
thiết với nhau. Trong phạm vi bảng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh,
chúng ta có thể áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá tình hình chất lượng tín dụng của
ngân hàng.

*Chỉ tiêu sử dụng vốn
Huy động
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
Hệ số sử dụng vốn = 
Sử dụng
Hệ số sử dụng vốn là chỉ tiêu hiệu quả phản ánh chất lượng tín dụng, cho phép
đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Chỉ tiêu này càng
lớn thì càng chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn huy
động được.
* Chỉ tiêu dư nợ: Dư nợ ngắn hạn (hoặc trung - dài hạn) / Tổng dư nợ
Chỉ tiêu dư nợ là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu tín dụng trong trường
hợp dư nợ được phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung hoặc dài hạn). Chỉ tiêu này
còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng

doanh có hiệu quả,…
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng thể hiện ở cả một quá trình tính từ khi khoản tín dụng được
ngân hàng xét duyệt, giải ngân cho đến khi được thu hồi. Trong quá trình đó có rất
nhiều những tác động gây rủi ro dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được vốn và
có thể phải chịu thua lỗ. Để quản lý chất lượng tín dụng có hiệu quả đòi hỏi phải hiểu
rõ về các nhân tố gây ảnh hưởng.
1.2.4.1 Các yếu tố chủ quan (hay nhóm nhân tố từ phía ngân hàng)
Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho quá
trình hoạt động tín dụng. Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại
của ngân hàng. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần có
những chính sách tín dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết
hợp được lợi ích của khách hàng với ngân hàng.
Quy trình tín dụng: quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ
thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ trình tự, cách làm từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một
giao dịch thuộc nhiệm vụ, chức năng của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có
liên quan. Quy trình tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ
chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có hiệu quả.
Kiểm soát nội bộ: đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối với
mọi ngân hàng. Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
chặt chẽ và thường xuyên sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện
đúng các yêu cầu, đúng nguyên tắc. Kiểm soát nội bộ kịp thời ngăn ngừa, hạn chế
những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo
điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng.
Tổ chức nhân sự: con người luôn là nhân tố hàng đầu quyết định đến sự thành bại
trong hoạt động kinh doanh nói chung và tất yếu nó cũng không loại trừ khỏi hoạt động
trong lịch vực ngân hàng. Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh cũng như chất

Uy tín khách hàng cũng là một yếu tố mà ngân hàng cần lưu tâm. Uy tín của
khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và khả năng thực hiện các nghĩa
vụ cam kết trong hợp đồng của khách hàng. Uy tín của khách hàng được thể hiện
dưới nhiều khía cạnh đa dạng như: chất lượng, dịch vụ, giá cả hàng hoá, mức độ
chiếm lĩnh thị trường, các quan hệ kinh tế tài chính, sản phẩm, chu kỳ sống của sản
phẩm, vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng và ngân hàng. Uy tín được khẳng
định và kiểm nghiệm thông qua kết quả thực tế trên thị trường với thời gian càng dài
càng chính xác. Do vậy, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt
quá trình phát triển của khách hàng trong những thời gian khác nhau mới có kết luận
chính xác.
 Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng
Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm, năng lực
kinh doanh của khách hàng. Đây là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của
khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi
cho ngân hàng. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như kinh
nghiệm, học vấn,… thì doanh nghiệp có khả năng dễ bị thua lỗ, dẫn đến tình trạng trả nợ
kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.
 Mối trường kinh tế
Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế mỗi quốc gia luôn
có tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị
trường. Tính ổn định về kinh tế, trước hết là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định
tiền tệ, khống chế lạm phát là những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh quan tâm
hàng dầu vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nền
kinh tế ổn định là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công
trong kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn tất nhiên
cũng ảnh hưởng bao trùm lên các hoạt động của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất
lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng
 Môi trường chính trị
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B

Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch
bệnh, mất mùa… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả hệ
thống nền kinh tế dẫn đến rủi ro trong tín dụng ngân hàng là điều khó tránh khỏi.
Mặc dù những rủi ro này khó dự đoán nhưng bù lại nó lại chiếm một tỷ lệ không lớn,
mặt khác ngân hàng thường được chia sẻ thiệt hại bởi các Công ty Bảo hiểm hoặc
được Nhà nước hỗ trợ.
CHƯƠNG II:
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á
2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Bắc Á
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Bắc Á
Ngân hàng TMCP Bắc Á, được thành lập và hoạt động theo giấy phép hoạt
động số 0052/NH-CP ngày 01 tháng 09 năm 1994 của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, vốn góp cổ
phần do các cổ đông có uy tín. Là một trong số các ngân hàng TMCP lớn có hoạt
động kinh doanh lành mạnh của Việt Nam. Trụ sở chính của ngân hàng đặt ở thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An và là ngân hàng TMCP có doanh số hoạt động kinh doanh
lớn nhất khu vực miền Trung với thời gian hoạt động là 16 năm kể từ ngày cấp giấy
phép hoạt động.
Sau hơn 10 năm hoạt động , đến tháng 8 năm 2009, theo số liệu thông báo của
Ngân hàng Nhà nước vốn điều lệ của ngân hàng Bắc Á đã lên tới 1792 tỷ đồng.
Có mạng lưới hoạt động ở các tỉnh, thành phố kinh tế trọng điểm của cả nước
như Hà Nội, Thanh Hóa,Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,…
Cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng như: Mở tài khoản nội tệ và ngoại
tệ, nhận tiền gửi, đầu tư cho vay và bảo lãnh, séc du lịch, thanh toán trong và ngoài
nước, chuyển tiền nhanh, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại hối, phát hành và
thanh toán thẻ, homebanking, ngân hàng trực tuyến...

HỘI ĐỒNG TÍN DỤNG KHỐI NGÂN HÀNG BÁN
BUỐN
KHỐI TÀI CHÍNH KẾ
TOÁN
BAN CÔNG NGHỆ & TIN
HỌC
BỘ PHẬN HÀNH CHÍNH
NHÂN SỰ
KHỐI TÁC NGHIỆP & HỖ
TRỢ
BỘ PHẬN PHÁP CHẾ KHỐI QUẢN LÝ RỦI RO
BỘ PHẬN KIỂM TOÁN
NỘI BỘ
KHỐI NGUỒN VỐN & KINH
DOANH NGOẠI TỆ
HỘI ĐỒNG ALCO KHỐI NGÂN HÀNG BÁN
LẺ
BAN KIỂM SOÁT
CHI NHÁNH & PHÒNG
GIAO DỊCH
BỘ PHẬN PR &
MARKETING
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ
Mục đích hoạt động của Bắc Á là cung cấp cho khách hàng và thị trường các
sản phẩm, giải pháp và dịch vụ tối ưu nhằm đem lại giá trị gia tăng tối đa cho khách
hàng, lợi nhuận thỏa đáng cho cổ đông và đóng góp phần lớn vào công cuộc phát

Ban công nghệ & tin học: Đưa ra một số phần mềm, quản lý kinh doanh chặt
chẽ đảm bảo cập nhật thông tin chính xác.
Bộ phận PR & Marketing: Nghiên cứu phân loại thị trường, phân loại khách
hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng về nguồn vốn và thị trường tín dụng. Nghiên cứu
thị trường để đưa ra các sản phầm dịch vụ ngân hàng.
Chi nhánh và phòng giao dịch: huy động tiết kiệm đồng Việt Nam và ngoại tệ,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu đồng Việt Nam và ngoại tệ, dịch vụ thu đổi ngoại tệ và
trả tiền kiều hối, dịch vụ phát hành thẻ, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, nhận gửi và
thành toán séc nhờ thu các nhân, quản lý các tài khoản tiền gửi của cá nhân đồng Việt
Nam và ngoại tệ, cho vay thế chấp, cầm cố tài sản.
2.1.4 Một số hoạt động của ngân hàng TMCP Bắc Á
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng Bắc Á huy động vốn từ nhiều nguồn, và đã có sự thay đổi rõ rệt và
cả chất lượng và số lượng. Tỷ trọng nguồn vốn huy động trên thị trường liên ngân
hàng giảm mạnh trong khi nguồn vốn huy động từ dân cư và các doanh nghiệp tăng
lên và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Nguồn vốn được huy động từ các tổ chức tín dụng khác, tuy nhiên ngân hàng
đang có những chủ trương giảm số dư và tỷ trọng huy động từ thị trường liên ngân
hàng để góp phần bảo đảm nền tảng ổn định, giảm sự phu thuộc vào thị trường dễ
biến động, tránh đe dọa khả năng thanh toán khi thị trường diễn biến phức tạp.
Ngân hàng chú trọng vào hoạt động thu hút nguồn vốn từ dân cư và các
doanh nhiệp, đặc biệt từ các định chế tài chính như công ty chứng khoán, công ty bảo
hiểm, công ty tài chính…
SV: Vũ Thị Dung Lớp: Kinh tế Phát triển 48B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Thị Nhiệm
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng trong những năm gần đây:
Đơn vị: tỷ đồng
STT
Năm

trường tài chính với tổng số tiền huy động được trong năm lên tới 11102 tỷ đồng,
tăng lên 91,38% so với năm 2006. Là nguồn vốn huy động lớn nhất từ trước tới nay.
Tất cả các loại tiền gửi trong năm đều tăng lên, vượt mức 50% so với năm 2006.
Trong đó, số vốn huy động liên ngân hàng lên tới 8588 tỷ đồng. Qui mô Ngân hàng
ngày càng mở rộng và vị thế ngày càng được khẳng định.
Với sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu kéo theo sự đi xuống của ngành
ngân hàng, ngân hàng Bắc Á không nằm ngoài xu hướng đó. Tổng nguồn vốn huy
động được của ngân hàng năm 2008 đạt 6.529 tỷ đồng, giảm 4.573 tỷ đồng so với
năm 2007, tương đương giảm 41,2%. Nguồn vốn huy động của ngân hàng đã có sự
thay đổi rõ rệt cả về chất lượng và số lượng. Huy động từ các tổ chức tín dụng khác
đạt 2.676 tỷ đồng, giảm 68,84% so với đầu năm. Với chủ trương giảm số dư và tỷ
trọng từ thị trường liên ngân hàng được ngân hàng quán triệt đầu năm. Việc giảm số
dư và tỷ trọng phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng góp phần đảm bảo nền tảng
ổn định, giảm sự phụ thuộc vào thị trường biến động đồng thời tránh sự đe dọa khả
năng thanh khoản khi thị trường diễn biến phức tạp. Trong khi đó nguồn vốn huy
động từ dân cư và doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng đáng kể. Tổng nguồn vốn
huy động từ thị trường này đạt 3.663 tỷ đồng, tăng 1.498 tỷ đồng, tương đương tăng
62,44% so với đầu năm. Trong đó tiền gửi tiết kiệm đạt 3.125 tỷ đồng, tăng 89,05%
so với đầu năm. Huy động từ các doanh nghiệp tăng mạnh lên đến 538 tỷ đồng sau
khi ngân hàng chú trọng vào hoạt động thu hút nguồn vốn của các doanh nghiệp, đặc
biệt các định chế tài chính như công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài
chính…
Năm 2009, nền kinh tế đang dần thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, ngành
ngân hàng đi lên. Tổng nguồn huy động vốn của ngân hàng Bắc Á tăng lên rõ rệt so
với năm 2008, đạt 12275 tỷ đồng, tăng 88% so với năm 2008. Nguồn vốn huy động
tăng mạnh nhất.
Trong năm 2009, ngân hàng Bắc Á cũng đã triển khai thành công hai chương
trình khuyến mại lớn là chương trình “Tri ân khách hàng mừng sinh nhật Bắc Á” và
chương trình “Căn hộ hạnh phúc”. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng đã triển khai
chương trình “Chăm sóc khách hàng VIP” với việc tặng thẻ khám bệnh miễn phí tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status