LUẬN VĂN: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn đông hà nội - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại NH Nông
nghiệp và phát triển nông thôn đông hà nội Chương I
Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ

I. Hoạt động TTQT của Ngân hàng thương mại và vai trò của TTQT.
1.1. khái quát về NHTM.
NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt

1.2.1. TTQT và sự hình thành phát triển của hoạt động TTQTtại NHTM.
TTQT là việc thanh toán giữa các nước với nhau về những khoản tiền nợ phát sinh từ
các quan hệ giao dịch về kinh tế, chính trị, văn hóa Chủ thể trong TTQT có thể là thể
nhân hoặc chính phủ của các nước.
TTQT đã hình thành từ rất lâu cùng với quá trình hình thành và phát triển hoạt động
xuất nhập khẩu quốc tế. Hình thức thanh toán xuất nhập khẩu sơ đẳng nhất là hàng đổi
hàng. Sự xuất hiện của tiền tệ làm cho việc mua bán trao đổi được diễn ra thuận tiện hơn.
Nhưng các quốc gia khác nhau lại sử dụng các đồng tiền khác nhau, chính vì vậy mà ngân
hàng xuất hiện làm trung gian chuyển hóa loại tiền này sang loại tiền khác, đại diện cho
bên mua thanh toán cho bên bán.
Khi kỹ thuật nghiệp vụ và mạng lưới hoạt động phát triển hơn, ngân hàng có thể đại
diện cho bên bán yêu cầu bên mua trả tiền trị giá món hàng đã mua. Đến đây vai trò của
ngân hàng còn giới hạn ở mức làm dịch vụ giúp hai đối tác và không can thiệp vào quyết
định mua bán thanh toán của họ, hai bên mua bán vẫn phải hiểu rõ và tín nhiệm lẫn nhau.
Ngoại thương phát triển tạo ra khả năng để các đối tác dù chưa hiểu nhau vẫn có thể
mua bán với nhau để tạo thị trường và tăng lợi nhuận, cho dù họ cách xa nhau về mặt địa
lý, hàng rào ngôn ngữ, phong tục tập quán, chưa hiểu rõ nhau để có thể làm ăn song phẳng
với nhau. Ngân hàng cung cấp thêm dịch vụ mới: dịch vụ cho mượn uy tín, giúp các đối
tác kinh doanh xuất nhập khẩu thanh toán mau chóng, thuận lợi và an toàn.
1.2.2. Vai trò của thanh toán Quốc tế
Tất cả các quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động khác trong
nền kinh tế đều được kết thúc bằng khâu thanh toán. Thanh toán quốc tế không chỉ đem lại
lợi ích cho những bên tham gia mua bán hàng hóa dịch vụ, nó còn đem lại lợi nhuận cho
các ngân hàng cũng như đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế.
 vai trò của TTQT đối với doanh nghiệp XNK
Phần lớn các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều không thể tự thực hiện TTQT do
có khó khăn về mặt địa lý, phong tục tập quán và rất nhiều khó khăn khác nữa dẫn đến nhu
cầu thanh toán hộ được thực hiện bởi các ngân hàng. Ngân hàng với sức mạnh về năng lực,
uy tín của mình có thể giúp các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hạn chế được rủi
ro trong thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt. Ngoài ra, cũng nhờ thanh toán qua ngân hàng

Phương thức TTQT là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch
mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại
thương, có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau thông qua ngân hàng như: chuyển
tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm, thể hiện thành
mâu thuẫn quyền lợi giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.Vì vậy, việc chọn phương
thức thanh toán thích hợp phải được 2 bên bàn bạc thống nhất, ghi vào hợp đồng mua bán
ngoại thương.
1.3.1. Phương thức chuyển tiền.
a. Khái niệm:
Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả
tiền, người mua, người nhập khẩu, người mắc nợ ) ủy nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình
trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho người khác ( người bán,
người xuất khẩu, chủ nợ ) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người thụ hưởng;
trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của người chuyển tiền
và người này có quyền hủy bỏ lệnh chuyển tiền, mà người thụ hưởng không thể khiếu nại
gì với ngân hàng. Như vậy, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, quyền lợi
của người xuất khẩu không đảm bảo. Ngược lại nếu việc chuyển tiền được thực hiện trước
khi giao hàng hóa thì việc giao hàng phụ thuộc vào thiện chí của người bán, quyền lợi của
người nhập khẩu không đảm bảo.
Có hai hình thức chuyển tiền: chuyển tiền bằng thư (mail transfer, M/T) và chuyển
tiền bằng điện báo (telegraphic transfer T/T ).
b. quá trình tiến hành nghiệp vụ
Trong phương thức thanh toán này, có các bên liên quan:
- Người phát hành lệnh chuyển tiền (người mua, người nhập khẩu )
- Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền (ngân hàng nơi đơn vị chuyển tiền mở
tài khoản tiền gửi ngoại tệ )
-Ngân hàng trả chuyển tiền (ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền)
- Người nhận chuyển tiền (người bán, tổ chức xuất khẩu )
Bước 1: Sau khi thỏa thuận đi đến ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương, tổ chức

a. Khái niệm:
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán, mà qua đó tổ chức xuất
khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ gửi hàng, giao chứng từ hàng hóa ủy thác cho ngân
hàng phục vụ mình thu hộ số tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra ở người nhập khẩu
thông qua ngân hàng phục vụ người nhập khẩu. Người nhập khẩu khi nhận được giấy báo
nhờ thu của ngân hàng, phải tiến hành ngay việc chi trả tiền để nhận lại chứng từ hàng hóa
và đi lãnh hàng.
Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả hai bên nước nhà nhập khẩu lẫn nhà xuất
khẩu, chỉ tham gia với tư cách là người trung gian đi thu tiền hộ, có nhận giữ các chứng từ
có liên quan đến hàng hóa đã gửi đi, nhưng không bị ràng buộc trách nhiệm, phải kiểm tra
các chứng từ gửi nhờ thu, cũng như việc giấy nhờ thu có được nhà nhập khẩu chấp nhận và
thanh toán hay không. Phương thức thanh toán này hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm lẫn
nhau giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, nó đảm bảo hơn hai hình thức thanh toán bằng
séc và chuyển tiền ở chỗ, nhà xuất khẩu yêu cầu ngân hàng bên mua không giao chứng từ
đi lãnh hàng cho nhà nhập khẩu, khi người này chưa thanh toán tiền. Tuy nhiên tốc độ
thanh toán vẫn chậm, rủi ro cho bên xuất khẩu lớn, trường hợp nhà nhập khẩu không chịu
thanh toán, từ chối nhận hàng vì lý do giá mua sản phẩm đang xuống thấp mà người bán
không chấp nhận giảm giá, và nhất là vì lô hàng nhập về không còn phù hợp thị hiếu người
tiêu dùng.
b. Quá trình tiến hành nghiệp vụ:
Trong phương thức thanh toán nhờ thu, có các bên liên quan như sau:
- Tổ chức xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ, người ký phát hối phiếu tức
là người ra lệnh.
- Ngân hàng nhờ thu là ngân hàng nhận sự ủy thác thu tiền, ngân hàng bên
xuất khẩu.
- Ngân hàng nhận nhiệm vụ thu tiền: thông thường là ngân hàng đại lý của
ngân hàng bên xuất khẩu tại nước nhập khẩu.
- Tổ chức nhập khẩu là người quyết định thanh toán, là người mà hối phiếu,
chứng từ sẽ gửi đến cho họ.
Căn cứ vào nội dung chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng nhờ thu, người ta chia

- Nhờ thu phiếu trơn: Thích hợp khi hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc áp dụng
trong thanh toán một số dịch vụ liên quan đến xuất khẩu hàng hóa không cần chứng từ.
Tuy vậy, nó có nhược điểm là chưa ràng buộc trách nhiệm trả tiền của người nhập khẩu
dẫn đến rủi ro không nhận được tiền hàng của người xuất khẩu hoặc bị kéo dài thời hạn
thanh toán, điều này không đảm bảo quyền lợi cho người bán. nhưng đối với người mua
phương thức này cũng mang lại nhiều bất lợi khi áp dụng nếu hối phiếu đến sớm hơn
chứng từ hàng hóa, người mua trả tiền ngay nhưng sau đó không biết việc giao hàng của
người bán có đúng hợp đồng không.
- Nhờ thu kèm chứng từ: phương thức này có ưu điểm là khắc phục được một phần
nhược điểm của nhờ thu phiếu trơn do nhờ ngân hàng thu hộ tiền và khống chế bộ chứng
từ hàng hóa. điều đó có nghĩa là quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo vì thông qua
ngân hàng họ đã khống chế được quyền định đoạt hàng hóa đối với người mua. Nhưng
phương pháp này vẫn có nhược điểm là chưa hạn chế được việc trả tiền cũng như thời hạn
trả tiền của người mua, còn người mua thì lại không kiểm tra được số lượng, chất lượng
hàng hóa của người bán để biết có phù hợp như trong hợp đồng hay không.
1.3.3. Phương thức tín dụng chứng từ.
Đây là phương thức thanh toán khá phổ biến trong thương mại quốc tế.
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một thoả thuận mà trong đó một ngân
hàng (Ngân hàng phát hành thư tín dụng: Inssuing bank) đáp ứng những yêu cầu của khách
hàng (Người xin mở thư tín dụng: Applicant) cam kết hay cho phép một ngân hàng khác
(Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) cho trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của nhà xuất
khẩu theo đúng những điều kiện và chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng.
II. Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ.
2.1. quy trình nghiệp vụ.
Như vậy, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến các bên:
- Người xin mở thư tín dụng, người nhập khẩu hay người mua trong thư tín dụng:
“The applicant for the credit”
- Người thụ hưởng thư tín dụng, người xuất khấu hay người bán “benefitciary”
- Ngân hàng phát hành thư tín dụng: the Issuing bank; the Opening bank
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng: the Advising bank

Bước 9: Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu (NH mở L/C)giao bộ chứng từ nhận
hàng cho người nhập khẩu để đổi lấy việc thanh toán hoặc cấp tín dụng.
Bước 10: Người nhập khẩu sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu phù hợp thì thanh toán
cho ngân hàng nếu không sẽ từ chối thanh toán.
Đối với ngân hàng phương thức này có ưu điểm:
+ Phí dịch vụ thu được lớn hơn các hình thức khác. Ngoài việc thu phí mở thư tín
dụng, ngân hàng còn sẽ thu được thêm phí tu chỉnh, sửa đổi, xác nhận bảo lãnh hoặc thêm
các dịch vụ khác nếu có do khách hàng yêu cầu nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán
của khách hàng.
+ Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập, nâng cao trình độ
nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng.
+ Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ các khách hàng xuất nhập
khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được phát triển.
Nhược điểm
+ Phương thức này phức tạp hơn hai phương thức trên, trách nhiệm của ngân hàng
trong phương thức này cũng rất cao.
+ Phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro vì ngân hàng phải dùng uy tín của mình
cam kết trả tiền nếu người nhập khẩu không chịu thanh toán hay không có khả năng thanh
toán cho người xuất khẩu.
Tóm lại phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo được quyền lợi của người bán,
người mua trong quá trình hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và nâng cao vai trò của
ngân hàng trong hoạt động thanh toán khắc phục những mâu thuẫn của các phương thức
thanh toán khác, tuy vậy phương thức này còn nhiều phức tạp đòi hỏi các bên tham gia
phải có trình độ nghiệp vụ cao trong việc mở L/C và lập bộ chứng từ hoàn hảo.
2.2. Thư tín dụng là công cụ quan trọng của phương thức thanh toán TDCT.
2.1.1. Khái niêm về thư tín dụng:
Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C )là văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng
mở thư tín dụng đối với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản
thanh toán của hợp đồng ngoại thương nếu họ xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù
hợp với nội dung của L/C.

những người liên quan tới thư tín dụng cũng khác nhau. Do đó, khi mở L/C, người có nhu
cầu phải xác định cụ thể loại L/C cần mở.
d. Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ:
Những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ nói chung chia làm 2
loại: một là các thương nhân, hai là các ngân hàng.
Các thương nhân chỉ bao gồm những người nhập khẩu, là người yêu cầu mở L/C và
người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C.
Các ngân hàng tham gia gồm: ngân hàng mở L/C; ngân hàng thông báo L/C; ngân
hàng thanh toán; ngân hàng xác nhận.
e. Số tiền của thư tín dụng:
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số vừa đươc ghi bằng chữ và thống nhất với nhau.
Tên đơn vị tiền tệ cũng phải ghi rõ ràng cụ thể.
Không nên ghi rõ số tiền dưới dạng số tuyệt đối, vì như vậy có thể gây khó khăn
trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán. Vì vậy, ghi số tiền L/C ở một giới hạn
“khoảng chừng”.
f. Thời han hiệu lực của L/C :
Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người
này xuất trình được bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với quy định trong thư tín
dụng. Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở(date of issue) đến ngày hết hiệu lực
(expiry day).
g. Thời hạn trả tiền của L/C (date of payment):
Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền sau. Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào
quy định của hợp đồng.
Thời han trả tiền của L/C có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả tiền
ngay ) hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả tiền có kỳ hạn) trong
trường hợp này phải lưu ý là hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để ký chấp nhận
trong thời hạn hiệu lực của L/C.
h. Thời han giao hàng (date of delivery):
Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và cũng do hợp đồng thương mại quy định.
Đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín

+ Chứng từ tài chính trong thanh toán bằng L/C là hối phiếu.
+ Chứng từ thương mại còn được gọi là chứng từ hàng hóa, là những chứng từ mô tả
về tình trạng hàng hóa và bao bì hàng hóa. Trong một số trường hợp, chúng là chứng từ
đại diện hợp pháp cho hàng hóa. Điều quan trọng là chứng từ hợp lệ phải được lập đúng
chỗ, đúng lúc; và để đẩy nhanh việc giao hàng và thanh toán, chúng phải được đầy đủ một
cách hợp lệ. Chỉ một điểm nhỏ không rõ ràng trong chứng từ chắc chắn sẽ dẫn đến sự khó
khăn trong việc thanh toán.
Chứng từ thương mại bao gồm các loại chứng từ sau:
1.Hóa đơn thương mại(commercial invoice) là chứng từ do người bán lập tạo cho
người mua để chứng minh thực sự việc cung cấp hàng hóa hay dịch vụ sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng. Chi tiết của hóa đơn phải đúng như trong hợp đồng bán hàng; nếu một
thư tín dụng được mở, hóa đơn phải tuân theo chính xác các điều khoản của nó. Thông
thường người ta có vài bản sao hóa đơn để phục vụ cho người mua hải quan và các cơ
quan phụ trách nhập khẩu ở nước ngoài. Một số nước còn yêu cầu “hóa đơn chứng thực”
hay “giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa” để khẳng định hàng hóa xuất đi từ một nước cụ
thể.
2.Chứng từ vân tải( Bill of transport) là chứng từ vân tải cung cấp cho người gửi
hàng đồng thời xác định quan hệ pháp lý giữa đôi bên trong suốt quá trình vận chuyển
hàng hóa.
Vận đơn được coi là “sạch” khi chúng không có bất cứ điều khoản nào nó về tình
trạng hư hỏng của hàng hóa; ngược lại vận đơn bị coi là “phốt” hay “bẩn”.
Tùy theo từng loại phương tiện vận tải mà có nhiều loại vận đơn: như vận đơn đường
biển, vận đơn hàng không.
3.Các chứng từ bảo hiểm: là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người mua bảo
hiểm hàng hóa trong quá trình chuyên chở hàng hóa. Hàng hóa xuất khẩu luôn được bảo
hiểm đầy đủ từ thời điểm rời máy bay tới khi người mua nhận hàng. Người mua phải trả
bảo hiểm phí và công ty bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất rủi ro xẩy ra
theo những điều khoản đã được ký kết.
Ngoài ra con một số giấy chứng nhận như :
- Giấy chứng nhận phẩm chất hàng hóa (certificate of quality)

tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C. Ngân hàng xác nhận có thể do
người hưởng lợi chỉ định, hay ngân hàng mở lựa chọn nhưng phải được sự đồng ý của
người hưởng lợi.
- Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without Recourse L/C)
Đây là loại L/C không hủy ngang trong đó quy đinh rằng sau khi đã thanh toán cho
người hưởng, ngân hàng mở L/C mất quyền truy đòi lại số tiền trong bất kỳ trường hợp
nào. Khi phát hành hối phiếu theo L/C này người hưởng phải ghi trên hối phiếu không
được truy đòi người phát(without recourse to drawers). Loại L/C này được sử dụng phổ
biến trong thanh toán quốc tế đặc biệt là các hợp đồng mua chịu hàng hóa. * Các loại L/C đặc biệt:
- L/C tuần hoàn (Revolving L/C)
Là loại L/C mà sau khi đã sử dụng hết giá trị của nó hoặc đã hết thời hạn hiệu lực của
nó thì nó (tự động) có giá trị lại như cũ và tiếp tục tuần hoàn trong một thời gian nhất định
cho đến khi hoàn tất giá trị hợp đồng.
* Một thư tín dụng tuần hoàn có hai loại:
+ Thư tín dụng tuần hoàn tích luỹ: Cho phép chuyển số dư sang giai đoạn tiếp
theo và cứ như vậy cộng dồn cho đến L/C cuối cùng.
+ Thư tín dụng tuần hoàn không tích luỹ: không cho phép chuyển số dư của giai
đoạn trước sang giai đoạn kế tiếp.
*Thư tín dụng tuần hoàn theo 3 cách:
Tuần hoàn tự động: L/C sau tự động có giá trị không cần có sự thông báo của ngân
hàng phát hành L/C.
Tuần hoàn không tự động: Là chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/C thông báo cho
người bán thì L/C sau mới có giá trị hiệu lực.
Tuần hoàn hạn chế: Nếu sau một vài ngày kể từ ngày L/C hết hạn hiệu lực hoặc đã sử
dụng hết mà không có ý kiến gì của ngân hàng phát hành thì L/C kế tiếp tự động có giá trị
hiệu lực.
L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp 2 bên mua bán những mặt hàng có giá

đầu được viết bằng mực đỏ để lưu ý tính chất riêng của loại tín dụng này.
Tín dụng ứng trước là một tín dụng kèm theo một điều khoản đặc biệt ủy nhiệm cho
ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận, ứng tiền trước cho người hưởng trước khi
xuất trình các thủ tục. Điều khoản này được đưa ra theo yêu cầu riêng của người mở tín
dụng và việc trình bày phụ thuộc vào yêu cầu của bên đó. Số tiền ứng trước trong một vài
trường hợp có thể bằng toàn bộ số tiền của L/C
L/C dự phòng (Stand by L/C)
Tín dụng dự phòng là một trong các bảo đảm trả tiền ngay khi có yêu cầu lần đầu,
được các ngân hàng trên thế giới sử dụng rộng rãi bên cạnh các hình thức bảo lãnh cổ điển
như bảo lãnh tham dự đấu thầu, bảo lãnh bồi hoàn tiền ứng trước, bảo lãnh việc hoàn thành
dịch vụ cả người mua (nhập khẩu) lẫn người bán (nhà xuất khẩu) đều có quyền mở tín
dụng thư dự phòng hoặc yêu cầu bên đối tác mở cho mình nếu muốn quyền lợi của mình
được bảo đảm chắc chắn.
*Nếu không thực hiện đúng điều kiện đã quy định, người thụ hưởng tín dụng dự
phòng sẽ phát hành một văn bản nêu rõ những điều khoản cam kết không được tôn trọng,
ngân hàng mở tín dụng dự phòng sẽ phải thanh toán ngay số tiền bồi thường cho người thụ
hưởng.
L/C đối ứng (Reciprocal L/C)
Là loại L/C không thể hủy ngang này chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C kia đối ứng với
nó được mở.
L/C đối ứng được áp dụng trong phương thức mua bán đổi hàng hay gia công, nó
đảm bảo quyền lợi cho người gia công bởi vì sản phẩm làm ra có đặc điểm riêng do người
đặt hàng quy định nên hầu như chỉ có người đặt hàng tiêu thụ.
2.3. Trách nhiệm quyền hạn của các nhtm tham gia thanh toán theo phương
thức TDCT.
- Ngân hàng mở L/C:
Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để phát hành L/C và tìm cách
thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu.
Tiến hành việc sửa đổi, bổ sung những nội dung của L/C theo yêu cầu và thỏa thuận
của các bên xuất, nhập khẩu rồi thông báo ngay để các sửa đổi đó cho các bên liên quan.

thanh toán được cho người hưởng lợi khi họ xuất trình đầy đủ chứng từ hợp lệ.
Ngân hàng xác nhận được hưởng phí xác nhận khá cao và thường yêu cầu NH mở
L/C đặt tiền ký quỹ có khi tới 100% trị giá của L/C.
2.4. Những rủi ro đối với NHTM trong thanh toán bằng phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ
Trong thanh toán quốc tế tùy thuộc vào phương thức thanh toán do người xuất nhập
khẩu sử dụng mà vị trí vai trò của ngân hàng cũng như những rủi ro và thu nhập của nó
cũng sẽ khác nhau.
Đối với phương thức đơn giản như chuyển tiền, nhờ thu, trao chứng từ giao tiền thì
vai trò của ngân hàng chỉ làm trung gian trong việc thực hiện lệnh chi trả hay nhờ thu cho
khách hàng để thu phí mà không chịu trách nhiệm trong việc có thu được tiền hay không,
hay không thể chủ động trong việc thanh toán. Cũng chính vì vậy mà khi tham gia thưc
hiện các phương thức này ngân hàng ít bị rủi ro là mất tiền hay không thu được tiền do
người bán không thực hiện hợp đồng hay người mua không chịu trả tiền và ngân hàng
cũng chỉ thu được lợi nhuận bằng phí các bên trả khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Đối với TDCT thì rủi ro cho ngân hàng thường xảy ra ở chỗ ngân hàng đã cho vay rồi
nhưng không thu được nợ vì người vay mất khả năng trả nợ. Tín dụng chứng từ với mức
độ rủi ro của nó cũng không kém gì so với một số loại tín dụng ngắn hạn khác như tín
dụng ngân quỹ hay bảo lãnh vay vốn của khách hàng. Vì cơ sở đảm bảo nợ ở đây là một
con nợ, nghĩa là khi con nợ không thể trả được nợ thì ngân hàng sẽ mất vốn
Rủi ro cho ngân hàng từ phía người mua: Ngân hàng vì phải đứng ra cam kết thanh
toán cho người bán (người hưởng lợi ) rủi ro sẽ xảy ra khi người mua do nhiều lý do mà
hủy bỏ L/C hay không nhận hàng, từ chối bộ chứng từ không hợp lệ, hay vì họ không có
khả năng thanh toán trong khi ngân hàng không bắt buộc ký quỹ 100% trị giá L/C thì ngân
hàng sẽ phải lãnh chịu mọi hậu quả.
Rủi ro cho ngân hàng từ phía người bán: Vì tính chất thư tín dụng chỉ được xử lý trên
chứng từ chứ không căn cứ trên hàng hóa. Nếu nhà xuất khẩu có ý đồ gian lận tuân theo
các điều khoản của thư tín dụng, thì họ sẽ được thanh toán, cho dù hàng hóa họ giao chỉ là
những thứ không đáng giá.
Rủi ro do tính chất phức tạp của nhiều loại L/C: Điều này làm cho việc kiểm tra bộ

Chi nhánh NHNo & PTNT Đông Hà Nội là đại diện ủy quyền của NHNo & PTNT
Việt Nam, là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc NHNo Việt Nam và có con dấu, mã số
thuế, có bảng cân đối để hạch toán các hoạt động kinh doanh theo luật định.
Chỉ sau hai năm hoạt động, đến nay NH Đông Hà Nội đã và đang phát triển mạnh mẽ,
luôn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao đồng thời liên tục hoàn thành vượt mức
các chỉ tiêu kế hoạch đặt ra.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, của NH Đông Hà Nội.
 Nhiệm vụ:
- Sử dụng có hiệu quả, bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực của NHNo.
- Tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn hiệu quả phục vụ phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Chấp hành quy chế của Ngân hàng Nhà nước, NHNo về dự trữ bắt buộc, báo cáo
thống kê, kiểm tra kiểm toán
- Thực hiên các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của pháp luật và thực hiện một số
nhiệm vụ khác do tổng giám đốc NHNo giao.
 Để hoàn thành nhiệm vụ được giao NHNo có quyền thực hiện:
- Thực hiện các nhiệp vụ huy động vốn bằng cách phát hành các loại chứng chỉ tiền
gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu NH và nghiệp vụ tín dụng như nhận tiền gửi tiết kiệm,
tiền gửi thanh toán của các tổ chức dân cư trong ngoài nước bằng VNĐ và ngoại tệ.
- Cho vay trung dài hạn, ngắn hạn bằng VNĐ và ngoại tệ đối với các tổ chức kinh tế,
cá nhân, hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế theo cơ chế tín dụng của Ngân hàng
Nhà Nước và quy định của NHNo Việt Nam.
- Thực hiện các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng như thanh toán quốc tế, bảo lãnh, tái
bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ, kinh doanh ngoại tệ, rút tiền tự động, dịch
vụ thẻ tín dụng, dịch vụ ngân quỹ, tư vấn, chuyển tiền trong nước và quốc tế
- Thực hiện quan hệ đại lý thanh toán và dịch vụ ngân hàng đối với các ngân hàng
nước ngoài.
- Đầu tư dưới nhiều hình thức như: liên doanh mua cổ phần với các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế khác khi được NHNo VN cho phép.
- Thực hiện các nghiệp vụ tư vấn về tiền tệ, quản lý tiền vốn, các dự án đầu tư phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status