Lời mở đầu
Trong điều kiện hội nhập của đất nước ta hiện nay, TTQT giữ một vai trò
vô cùng quan trọng để thúc đẩy, tạo điều kiện cho nền kinh tế mở cửa, phát triển,
dễ dàng hơn trong việc giao lưu kinh tế với các nước khác. Trong các phương
thức TTQT thì phương thức L/C luôn được sử dụng nhiều nhất do những ưu
điểm vượt trội so với các phương thức khác. Vì thế trong mấy năm gần đây, các
ngân hàng luôn tìm các biện pháp để mở rộng, hoàn thiện nghiệp vụ này.
Eximbank HN là ngân hàng có thế mạnh về lĩnh vực tài trợ xuất nhập
khẩu. Trong những năm gần đây, hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng rất
phát triển, có uy tín cả trong và ngoài nước, đặc biệt là thanh toán qua L/C. Tuy
nhiên, trong thời gian tới, khi thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam xuất hiện
thêm những đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ có tiềm lực tài chính cũng như chất
lượng dịch vụ hoàn hảo từ các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới thì Eximbank
nói riêng cùng với toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó
khăn để giữ được khách hàng cũng như có thể tồn tại. Trong điều kiện hội nhập
thì ngân hàng nào có được chất lượng dịch vụ tốt hơn sẽ có cơ hội cạnh trạnh cao
hơn. Vì thế việc nâng cao chất lượng TTQT qua phương thức TDCT cho theo
kịp với trình độ thế giới cũng như thỏa mãn kịp thời những nhu cầu ngày càng
cao của khách hàng là vấn đề thiết yếu tại ngân hàng xuất nhập khẩu nói chung
và chi nhánh Hà Nội nói riêng. Trong nội dung bài chuyên đề này em xin được
trình bày về thực trạng chất lượng TTQT qua phương thức TDCT tại Eximbank
HN đồng thời đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng loại hình dịch vụ
này.
Đề tài ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo gồm 3
chương:
1
- Chương 1: Tổng quan về chất lượng thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ tại
ngân hàng thương mại (NHTM)
- Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ ở Eximbank Hà Nội
-Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán quốc tế theo phương thức
khác, sự vận động của vốn là một trong những chức năng quan trọng do các ngân
hàng thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi được sự tín nhiệm trong việc
sử dụng séc và thẻ tín dụng. Trong những năm gần đây đã có những đổi mới
quan trọng do các ngân hàng đã trang bị máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật
để đưa vào sử dụng những hình thức chuyển tiền mới như chuyển tiền điện tử,
mạng SWIFT và mạng hóa hệ thống máy tính trong ngân hàng… do đó thẻ tín
dụng có thể được sử dụng để rút tiền ở nhiều nơi.
Ngoài ra, còn có các hoạt động khách như: giao dịch hối đoái, kinh doanh
vàng, đá quý, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá,…
1.2.NHTM trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
NHTM tham gia tài trợ ngoại thương: đây là một trong những chức năng
quan trọng nhất do các NHTM thực hiện, liên quan trực tiếp đến quan hệ kinh tế
đối ngoại. Mặc dù ngoại thương được hình thành và bắt nguồn từ các hoạt động
nội thương nhưng có những sự khác biệt đáng kể và chính từ sự khác nhau đó
mà các NHTM cần phải cung ứng dịch vụ TTQT nhằm làm cho quá trình này
diễn ra một cách suôn sẻ. Sở dĩ như vậy là do mỗi nước có một hệ thống tiền tệ
riêng, không đồng nhất, và với năng lực tài chính của người mua và người bán ở
các nước khác nhau cũng không giống nhau, ngoài ra còn những hạn chế về
ngôn ngữ, môi trường văn hóa , phong tụ tập quán khách nhau, các chế độ kinh
tế- chính trị khác nhau, người mua và người bán cách xa nhau về địa lý… Chính
vì vậy, các NHTM có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, điều này
được thể hiện ở các mặt sau:
4
Một là, cung cấp bảo lãnh tín dụng: bao gồm bảo lãnh tín chấp, bảo lãnh
phát hành L/C, cho vay…đối với nhà nhập khẩu và chiết khấu chứng từ, mua lại
chứng từ nhờ thu… đối với nhà xuất khẩu.
Hai là, trung gian thanh toán: hệ thống ngân hàng cho phép việc thực hiện
thanh toán giữa các bên liên quan, đảm bảo an toàn nhanh chóng và chính xác.
Ba là, tư vấn: trong bất kỳ trường hợp nào nếu gặp phải những vấn đề liên
quan đến thanh toán trong giao dịch ngoại thương, khách hàng liên quan đều có
tổ chức hay cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông
qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Các quan hệ quốc tế
được phân chia thành TTQT mậu dịch và TTQT phi mậu dịch.
TTQT phi mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến
hàng hóa cũng như cung ứng lao vụ, nó không mang tính thương mại. Ví dụ như
chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở các nước sở tại, các chi phí
về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức của từng các
nhân…
TTQT mậu dịch là thanh toán phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các
dịch vụ thương mại, theo giá cả quốc tế. thông thường trong nghiệp vụ TTQT
mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc
với nhau bởi bởi hợp đồng thương mại hoặc bằng một hình thức cam kết khác
( thư, điện giao dịch).
6
Ta thấy TTQT ra đời từ rất lâu nhưng thật sự nó chỉ phát triển mạnh mẽ từ
khi chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển, khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế
ngày càng tăng thì khối lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng ngày càng
tăng đáng kể. Nếu tổng số khối lượng vốn thanh toán bình quân một ngày qua hệ
thống ngân hàng toàn cầu trong những năm 1973-1983 chỉ ở mức 10-20 tỷ USD/
ngày, thì năm 1992 khoảng 880-900 tỷ USD , đến năm 1995 con số này là 1400
tỷ USD và hiện nay lên đến trên 3000 tỷ USD.
2.2.Các phương thức TTQT
2.2.1Phương thức chuyển tiền
Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng
(người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) ủy nhiệm cho nhân hàng phục
vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho một người
khác (người bán, người xuất khẩu, chủ nợ…) ở một địa điểm nhất định và trong
một thời gian nhất định.
Yêu cầu để sử dụng phương thức này là hai bên mua bán phải có mối quan
hệ tin tưởng lẫn nhau.
Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán,
trong đó bên bán ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không chỉ căn
cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa kèm theo với điều
kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền (đối với hối phiếu có kỳ hạn)
sẽ trao bộ chứng từ cho người mua nhận hàng.
8
Như vậy trong trường hợp đơn vị nhập khẩu không đồng ý trả tiền, ngân
hàng không giao bộ chứng từ , tức là hàng hóa đã cung cấp qua nước nhập khẩu
vân thuộc quyền sở hữu của tổ chức xuất khẩu.
2.2.7.Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Đây là phương thức thanh toán tốt nhất trong tất cả các phương thức
TTQT nêu trên. Cụ thể về phương thức này sẽ được trình bày ở phần sau.
2.3. Rủi ro có thể gặp phải trong TTQT
Rủi ro trong TTQT là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện
thanh toán quốc tế liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ
quan hệ giữa các bên tham gia TTQT như: nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân
hàng…hoặc do những nhân tố khách quan khác gây nên như thiên tai, chiến
tranh, chính trị.
Như vậy, rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người,
đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán trước được. Đặc biệt
trong TTQT, liên quan đến các giao dịch thương mại quốc tế. Rủi ro trong giao
dịch thương mại quốc tế cũng giống như rủi ro trong giao dịch thương mại trong
nước nhưng khoảng cách về địa lý, những khác biệt về văn hóa, luật pháp…làm
cho việc dự báo trước rủi ro cũng như đưa ra những biện pháp phòng ngừa thêm
khó khăn.
Các phương thức thanh toán đều tiềm ẩn những rủi ro. Ví dụ như:
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền người mua có thể không nhận
được hàng như hợp đồng đã ký trong khi đã trả tiền trước cho người bán, người
bán thì có thể không nhận được tiền do người mua chây ì không thanh toán hoặc
không chịu thanh toán khi không muốn nhận hàng, còn với ngân hàng phục vụ
-Một phương tiện thanh toán. Một khi đã thỏa thuận thời hạn của hợp
đồng thương mại, tín dụng thư kèm chứng từ được chọn như hình thức thanh
toán có liên quan đến các nhiệm vụ độc lập với các nhiệm vụ quy định tại hợp
đồng nói riêng.
-Một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà một ngân hàng dành cho một
khách hàng mua, trong đó người bán phải xuất trình chứng từ.
Ngân hàng gửi thẳng L/C đó cho người xuất khẩu biết là theo yêu cầu của
người xuất khẩu, ngân hàng đã mở một L/C cho người nhập khẩu, cam kết trả
tiền cho người xuất khẩu, khi người xuất khẩu làm đúng các điều quy định trong
L/C và chuyển những chứng từ gửi hàng cho ngân hàng làm đảm bảo.
Thực chất L/C là một bức thư được gửi cho người bán, được soạn thảo và ký bởi
một ngân hàng hành động thay mặt người mua. Trong bức thư, ngân hàng hứa sẽ
trả tiền các hối phiếu được ký phát cho chính nó nếu người bán tuân thủ các điều
kiện cụ thể được quy định trong L/C.Thông qua L/C ngân hàng đưa ra những
cam kết trả tiền của chính mình thay cho nhà nhập khẩu . Do đó L/C trở thành
một hợp đồng tài trợ giữa ngân hàng phát hành và một người thụ hưởng được chỉ
định độc lập với giao dịch thương mại.
Mục đích của L/C ở đây không phải là không phải là để chuyển tiền từ
nước người nhập khẩu sang nước người xuất khẩu mà là để tiến hành việc trả
tiền cho người xuất khẩu. Người thụ hưởng L/C đó không phải là người yêu cầu
mở L/C mà là bạn hàng của người đó. L/C không giao cho người yêu cầu mở L/
C mà trao cho người thụ hưởng.
11
Chữ tín dụng ở đây được dùng theo nghĩa rộng, tức là tín nhiệm chứ
không phải để chỉ khoản tiền cho vay theo nghĩa thông thường của từ này. Vì
trong trường hợp người nhập khẩu phải ký quỹ 100% số tiền của L/C, thì thực
chất là ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào cả mà là cho người nhập
khẩu vay sự tín nhiệm của mình. L/C là lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho
lời hứa trả tiền của người nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn.
Nét đặc trưng của L/C còn thể hiện ở chỗ, việc chi trả có liên quan đến
*Trong thực tế, phương thức thanh toán này đã thể hiện được những lợi thế so
với các phương thức khác. Bởi vì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã
dung hòa, cân bằng với quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia
hợp đồng mua bán ngoại thương. Cụ thể:
Đối với nhà nhập khẩu, họ có được những lợi ích sau: Chắc chắn nhà xuất
khẩu phải đáp ứng các quy định của L/C, người mua chỉ phải thanht oán khi
nhận được bộ chững từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C để đi
nhận hàng. Người mua được sự trợ giúp của ngân hàng trong việc bảo đảm các
điều kiện của L/C được tuân thủ, dễ dàng được ngân hàng tài trợ về vốn. Được
các điều khoản của UCP 500 bảo vệ. Tuy nhiên ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ
sở chứng từ nên buộc phải thanh toán bất kể hàng hóa có tốt hay xấu. Rủi ro
thuộc về phía người mua nếu người bán cố ý lập các chứng từ hàng hóa giả tạo
để lừa đảo.
13
Đối với nhà xuất khẩu, họ được bảo đảm thanh toán khi tuân thủ các điều
khoản và điều kiện của L/C và nhận được thanh toán nhanh nhất, được ngân
hàng giúp đỡ và tư vấn, giảm thiểu được các rủi ro. Ngoài ra người bán có thể sử
dụng L/C như là một phương thức tài trợ cho xuất khẩu như: chiết khấu bộ
chứng từ, bán bộ chững từ cho ngân hàng hay vay vốn ngân hàng bằng cách thế
chấp bộ chứng từ… Tuy nhiên chi phí để thực hiện phương thức thanh toán qua
L/C rất cao, quy định phức tạp, đôi khi không đáp ứng được nên việc thanh toán
có thể bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối thanh toán.
Đối với ngân hàng, họ cũng thu được lợi ích khá lớn từ các khoản thu phí
dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, bảo lãnh quốc tế kinh doanh ngoại tệ…
Tuy nhiên ngân hàng cũng bị ràng buộc bởi trách nhiệm của mình đối với người
mua và người bán với tư cách là một thành viên tham gia vào phương thức thanh
toán.
Qua đó, ta thấy những nghĩa vụ và trách nhiệm được đan xen, ràng buộc
lẫn nhau tạo nên một sự đảm bảo và chắc chắn hơn cho cả việc thanh toán tiền
hàng, nâng cao quyền bình đẳng trong quan hệ thanh toán giữa người mua và
ngân hàng xác nhận đã đồng ý chịu trách nhiệm với ngân hàng phát hành về
nghĩa vụ trả tiền L/C.
Giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận: Ngân hàng phát hành
và ngân hàng xác nhận đã đồng ý chịu trách nhiệm về một khoản nợ . Một khi
ngân hàng xác nhận không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đã cam kết,
15
người hưởng lợi có quyền đòi tiền ngân hàng xác nhận. Khi ngân hàng xác nhận
đòi tiền ngân hàng phát hành mở ký quỹ một khoản tiền nhất định thì quan hệ
này trở thành quan hệ tín dụng.
Giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo: Mối quan hệ đồng
nghiệp và ngân hàng thông báo không bị bất cứ một ràng buộc pháp lý nào.
3.3.Nội dung chủ yếu của L/C
Số hiệu: Số hiệu dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện
L/C. Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng. Số hiệu của L/C còn được dùng để
ghi vào các chứng từ có liên quan như hối phiếu, các chứng tờ cần thiết khác.
Địa điểm mở L/C: là nơi ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất
khẩu . Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn pháp luật áp dụng khi xảy ra
tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó.
Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với
người nhập khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C.
Tên, địa chỉ của những người có liên quan: người nhập khẩu, người xuất khẩu,
ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận, ngân hàng trả
tiền, và các ngân hàng khác nếu có.
Số tiền của L/C: Vừa được ghi bằng chữ, vừa được ghi bằng số và thống nhất với
nhau, đơn vị tiền tệ rõ ràng. Không nên ghi số tiền tuyệt đối mà hi theo một số
giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt dược hoặc là một giới hạn chênh lệch
hơn kem % của tổng số tiền.
Thời hạn hiệu lực: là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà
xuất khẩu, nếu người này xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp
với những điều quy định trong L/C.Thời hạn này được tính từ ngày mở L/C đến
dụng rất tốt.
3.4.1.2.L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C):
Là loại L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung
hay hủy bỏ trong thời gian hiệu lực của nó nếu chưa có sự thỏa thuận của các
bên tham gia. L/C không thể hủy ngang bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia
nên nó được sử dụng rộng rãi.
Quy trình nghiệp vụ L/C không thể hủy ngang
Hợp đồng ngoại thương
3.hàng hóa
9.thanh 4.BCT 6.Bộ 7.thanh
toán +HP 2.L/C 1.đơn CT toán
xin mở
2.L/C L/C
5.BCT+HP+thư đòi tiền
8.thanh toán
3.4.1.3.L/C xác nhận (confirming L/C)
Là loại L/C không thể hủy ngang , được một ngân hàng khác xác nhận,
nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành , L/C còn có thêm sự
cam kết thanh toán của ngân hàng xác nhận. . Ngân hàng xác nhận có thể là ngân
hàng thông báo hoặc là một ngân hàng thứ ba khác.Khi người thụ hưởng nghi
ngờ về tình hình tài chính cũng như khả năng thanh toán của người nhập khẩu
hay lo lắng về những biến động về kinh tế, chính trị ở nước người nhập khẩu, họ
sẽ yêu cầu đến sự phục vụ của ngân hàng xác nhận. Sau khi ngân hàng xác nhận
18
Nhà xuất khẩu Nhà nhập khẩu
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng thông
báo/NH trả tiền
thanh toán cho người thụ hưởng theo đúng quy định nó có quyền truy đòi lại số
trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu đã chấp nhận, khi các điều kiện
của L/C được đáp ứng đầy đủ.
3.4.3.Theo quan hệ đối tác
3.4.3.1. L/C trực tiếp (Straight L/C)
là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ giới
hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của L/C. Dạng L/C này thường yêu cầu
người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân ahngf phát hành (hết hạn
hiệu lực tại điểm giao dịch của ngân hàng phát hành)
3.4.3.2. L/C cho phép chiết khấu (L/C available by negotiation)
Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành ủy quyền cho một ngân hàng
nhất định hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng nào mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do
người thụ hưởng xuất trình. L/C có thể chiết khấu có thể được xác nhận hoặc
không. Thông thường ngân hàng được ủy quyền sẽ chỉ mua chững từ với điều
kiện bảo lưu, nghĩa là ngân hàng chiết khấu giành quyền truy đòi lại từ người thụ
hưởng số tiền chiết khấu nếu không thu được từ ngân hàng phát hành L/C.
3.4.4.Một số loại L/C đặc biệt
*L/C có điều khoản đỏ (red clause L/C)
Là loại L/C, trong đó có một điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ
chuyển số tiền hoặc ủy quyền cho ngân hàng thông báo (hay ngân hàng xác
nhận, chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người thụ hưởng một số tiền nhất
định trước khi giao hàng.
*L/C tuần hoàn (revolving L/C)
Là loại L/C không thể hủy ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khi
hết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ mà không cần mở
L/C mới.
20
*L/C chuyển nhượng (transferable L/C)
Là loại L/C mà người thụ hưởng đầu tiên có thể yêu cầu ngân hàng phục
vụ mình chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần giá trị gốc cho một hoặc nhiều
người hưởng lợi thứ hai.
trừ (exclusion clause).
Để có thể hiểu và thực hiện chính xác, có hiệu quả các quy định của UCP 600,
trong khoảng thời gian 07 tháng còn lại, các ngân hàng và doanh nghiệp được
khuyến cáo là phải nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định mới của UCP 600.
4.Quan niệm về nâng cao chất lượng TTQT theo phương thức TDCT
4.1.Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng TTQT theo phương thức
TDCT
TTQT là một loại hình dịch vụ do ngân hàng cung cấp tới những khách
hàng là cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức…Bất kì sản phẩm hay dịch vụ nào đều
được đánh giá trên cơ sở chất lượng của chúng.
Chất lượng thông thường được sử dụng để nhấn mạnh vào sự “ tuyệt hảo” của
một sản phẩm hoặc dịch vụ. Chất lượng đơn giản là đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng trong hiện tại và tương lai. Có thể nói nhu cầu của khách hàng đối
với dịch vụ TTQT là sự an toàn tuyệt đối, nhanh chóng, không quá rườm rà,
phức tạp, được các nhân viên ngân hàng tôn trọng, giúp đỡ tận tình… Tóm lại,
chất lượng TTQT qua phương thức TDCT là việc đáp ứng được các nhu cầu của
khách hàng đối với loại hình dịch vụ này.
22
Để đánh giá chất lượng TTQT người ta thường áp dụng những chỉ tiêu cụ
thể làm cơ sở. Qua nghiên cứu thực tiễn, có thể nêu lên một số chỉ tiêu vừa có
tính chất định tính vừa có tính chất định lượng:
Thứ nhất, quan trọng nhất là sự thoả mãn sự hài lòng của khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng do ngân hàng cung ứng là để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng hoàn hảo, có chất lượng cao thì
khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng. Không những vậy, những
lời khen, sự chấp nhận, thoả mãn về chất lượng của khách hàng hiện hữu họ sẽ
thông tin tới những người khác có nhu cầu TTQT tìm đến ngân hàng để giao
dịch.
Thứ hai, sự hoàn hảo của việc cung cấp phương thức TTQT qua L/C. Nó
được hiểu là giảm thiểu các sai sót trong giao dịch với khách hàng và rủi ro trong
hàng đều phải nỗ lực chạy đua với nhau trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ
mà mình cung cấp để cạnh tranh, tạo chỗ đứng trên thị trường. Dịch vụ thanh
toán quốc tế qua L/C là một trong số đó.
Như vậy việc nâng cao chất lượng TTQT qua phương thức TDCT là làm
sao để ngày càng thỏa mãn nhiều hơn nhu cầu ngày càng gia tăng của khách
hàng trong cả hiện tại và tương lai.
4.3.Những nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng TTQT theo phương
thức TDCT
4.3.1.Nhân tố chủ quan
24
Quy trình thanh toán L/C: Đây là toàn bộ trình tự thực hiện được quy định
một cách chi tiết và cụ thể do ngân hàng lập ra. Đây là một trong những nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thanh toán qua L/C. Vì thế, quy trình thanh
toán phải được chuẩn hóa, thống nhất và linh hoạt; các điều khoản quy định phải
chặt chẽ, hợp lý, giảm thiểu những rủi ro xảy ra. Dựa trên UCP 500 và tới đây là
UCP 600, mỗi hệ thống ngân hàng đều lập quy trình thanh toán riêng cho hệ
thống của mình. Các nhà xuất nhập khẩu có thể xem xét quy trình này để đánh
giá và lựa chọn ngân hàng cung cấp dịch vụ. Chính vì vậy, với quy trình thực
hiện vừa đơn giản, rõ ràng, vừa đảm bảo tính chi tiết, chặt chẽ, phù hợp sẽ nâng
cao chất lượng hoạt động thanh toán, đẩy nhanh tiến độ công việc, rút ngắn thời
gian thanh toán và giảm rủi ro xảy ra.
Công nghệ và trang thiết bị: Dựa vào công nghệ ngân hàng trang bị và sử
dụng, khách hàng có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung
cấp. Công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ giúp nâng cao tốc độ thanh toán, rút ngắn
thời gian xử lý công việc, giảm các sai sót do các thao tác thủ công gây ra. Hiện
nay hầu hết ngân hàng sử dụng mạng SWIFT để thanh toán bởi sự an toàn,
nhanh chóng, đơn giản, giá rẻ.
Trình độ nghiệp vụ của nhân viên TTQT: Phương thức TTQT qua L/C là
phương thức chặt chẽ và phức tạp, yêu cầu độ chính xác, tỉ mỉ cao. Vì vậy, năng
lực và trình độ của cán bộ nhân viên có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ.