Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong điều kiện hội nhập của đất nước ta hiện nay, TTQT giữ một vai trò
vô cùng quan trọng để thúc đẩy, tạo điều kiện cho nền kinh tế mở cửa, phát triển,
dễ dàng hơn trong việc giao lưu kinh tế với các nước khác. Trong các phương
thức TTQT thì phương thức L/C luôn được sử dụng nhiều nhất do những ưu
điểm vượt trội so với các phương thức khác. Vì thế trong mấy năm gần đây, các
ngân hàng luôn tìm các biện pháp để mở rộng, hoàn thiện nghiệp vụ này.
Eximbank HN là ngân hàng có thế mạnh về lĩnh vực tài trợ xuất nhập
khẩu. Trong những năm gần đây, hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng rất
phát triển, có uy tín cả trong và ngoài nước, đặc biệt là thanh toán qua L/C. Tuy
nhiên, trong thời gian tới, khi thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam xuất hiện
thêm những đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ có tiềm lực tài chính cũng như chất
lượng dịch vụ hoàn hảo từ các nền kinh tế tiên tiến trên thế giới thì Eximbank
nói riêng cùng với toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó
khăn để giữ được khách hàng cũng như có thể tồn tại. Trong điều kiện hội nhập
thì ngân hàng nào có được chất lượng dịch vụ tốt hơn sẽ có cơ hội cạnh trạnh cao
hơn. Vì thế việc nâng cao chất lượng TTQT qua phương thức TDCT cho theo
kịp với trình độ thế giới cũng như thỏa mãn kịp thời những nhu cầu ngày càng
cao của khách hàng là vấn đề thiết yếu tại ngân hàng xuất nhập khẩu nói chung
và chi nhánh Hà Nội nói riêng. Trong nội dung bài chuyên đề này em xin được
trình bày về thực trạng chất lượng TTQT qua phương thức TDCT tại Eximbank
HN đồng thời đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng loại hình dịch vụ
này.
Đề tài ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo gồm 3
chương:
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chương 1: Tổng quan về chất lượng thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ tại
ngân hàng thương mại (NHTM)
- Chương 2: Thực trạng chất lượng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khoán của chính phủ, doanh nghiệp để tài trợ cho các hoạt động của chính phủ,
doanh nghiệp.
Ba là, hoạt động thanh toán: việc đưa ra một cơ chế thanh toán hay nói cách
khác, sự vận động của vốn là một trong những chức năng quan trọng do các ngân
hàng thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi được sự tín nhiệm trong việc
sử dụng séc và thẻ tín dụng. Trong những năm gần đây đã có những đổi mới
quan trọng do các ngân hàng đã trang bị máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật
để đưa vào sử dụng những hình thức chuyển tiền mới như chuyển tiền điện tử,
mạng SWIFT và mạng hóa hệ thống máy tính trong ngân hàng… do đó thẻ tín
dụng có thể được sử dụng để rút tiền ở nhiều nơi.
Ngoài ra, còn có các hoạt động khách như: giao dịch hối đoái, kinh doanh
vàng, đá quý, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá,…
1.2.NHTM trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu
NHTM tham gia tài trợ ngoại thương: đây là một trong những chức năng
quan trọng nhất do các NHTM thực hiện, liên quan trực tiếp đến quan hệ kinh tế
đối ngoại. Mặc dù ngoại thương được hình thành và bắt nguồn từ các hoạt động
nội thương nhưng có những sự khác biệt đáng kể và chính từ sự khác nhau đó
mà các NHTM cần phải cung ứng dịch vụ TTQT nhằm làm cho quá trình này
diễn ra một cách suôn sẻ. Sở dĩ như vậy là do mỗi nước có một hệ thống tiền tệ
riêng, không đồng nhất, và với năng lực tài chính của người mua và người bán ở
các nước khác nhau cũng không giống nhau, ngoài ra còn những hạn chế về
ngôn ngữ, môi trường văn hóa , phong tụ tập quán khách nhau, các chế độ kinh
tế- chính trị khác nhau, người mua và người bán cách xa nhau về địa lý… Chính
vì vậy, các NHTM có vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, điều này
được thể hiện ở các mặt sau:
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một là, cung cấp bảo lãnh tín dụng: bao gồm bảo lãnh tín chấp, bảo lãnh
phát hành L/C, cho vay…đối với nhà nhập khẩu và chiết khấu chứng từ, mua lại
2.1.Lịch sử hình thành và khái niệm của TTQT
Mỗi quốc gia phải thực hiện nhiều mối quan hệ quốc tế trên mọi lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật…Trong quá
trình hoạt động các quan hệ này đều liên quan đến công tác tài chính, thanh toán.
Thanh toán quốc tế là việc chi trả bằng tiền liên quan đến các dịch vụ mua bán
hàng hóa hay cung ứng lao vụ…giữa các tổ chức hay cá nhân nước này với các
tổ chức hay cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông
qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Các quan hệ quốc tế
được phân chia thành TTQT mậu dịch và TTQT phi mậu dịch.
TTQT phi mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến
hàng hóa cũng như cung ứng lao vụ, nó không mang tính thương mại. Ví dụ như
chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở các nước sở tại, các chi phí
về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách nhà nước, các tổ chức của từng các
nhân…
TTQT mậu dịch là thanh toán phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hóa và các
dịch vụ thương mại, theo giá cả quốc tế. thông thường trong nghiệp vụ TTQT
mậu dịch phải có chứng từ hàng hóa kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc
với nhau bởi bởi hợp đồng thương mại hoặc bằng một hình thức cam kết khác
( thư, điện giao dịch).
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ta thấy TTQT ra đời từ rất lâu nhưng thật sự nó chỉ phát triển mạnh mẽ từ
khi chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển, khối lượng mua bán, đầu tư quốc tế
ngày càng tăng thì khối lượng giao dịch thanh toán qua ngân hàng ngày càng
tăng đáng kể. Nếu tổng số khối lượng vốn thanh toán bình quân một ngày qua hệ
thống ngân hàng toàn cầu trong những năm 1973-1983 chỉ ở mức 10-20 tỷ USD/
ngày, thì năm 1992 khoảng 880-900 tỷ USD , đến năm 1995 con số này là 1400
tỷ USD và hiện nay lên đến trên 3000 tỷ USD.
2.2.Các phương thức TTQT
2.2.1Phương thức chuyển tiền
thanh toán.
2.2.6.Phương thức thanh toán nhờ thu
Theo thông lệ, phương thức thanh toán này được phân ra thành 2 loại: Nhờ thu
trơn, nhờ thu kèm chứng từ.
Phương thức thanh toán nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó
bên bán ủy thác cho bên ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn
cứ vào hối phiếu do chính người bán lập.Các chứng từ thương mại có liên quan
đã chuyển giao trực tiếp cho bên mua mà không qua ngân hàng.
Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán,
trong đó bên bán ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không chỉ căn
cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa kèm theo với điều
kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền (đối với hối phiếu có kỳ hạn)
sẽ trao bộ chứng từ cho người mua nhận hàng.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy trong trường hợp đơn vị nhập khẩu không đồng ý trả tiền, ngân
hàng không giao bộ chứng từ , tức là hàng hóa đã cung cấp qua nước nhập khẩu
vân thuộc quyền sở hữu của tổ chức xuất khẩu.
2.2.7.Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Đây là phương thức thanh toán tốt nhất trong tất cả các phương thức
TTQT nêu trên. Cụ thể về phương thức này sẽ được trình bày ở phần sau.
2.3. Rủi ro có thể gặp phải trong TTQT
Rủi ro trong TTQT là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện
thanh toán quốc tế liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ
quan hệ giữa các bên tham gia TTQT như: nhà xuất khẩu, nhập khẩu, ngân
hàng…hoặc do những nhân tố khách quan khác gây nên như thiên tai, chiến
tranh, chính trị.
Như vậy, rủi ro là sự việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người,
đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán trước được. Đặc biệt
trong TTQT, liên quan đến các giao dịch thương mại quốc tế. Rủi ro trong giao
3.Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
3.1.Khái niệm, các bên tham gia và lợi thế của phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ (TDCT)
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, mà trong đó có một
ngân hàng (ngân hàng phát hành) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (người
nhập khẩu) cam kết hay cho phép một nhờ thu khác (ngân hàng ở nước xuất
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khẩu) chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của nhà xuất khẩu theo đúng những
điều kiện và chững từ thanh toán, phù hợp với thư tín dụng.
Như vậy, một thư tín dụng là:
-Một phương tiện thanh toán. Một khi đã thỏa thuận thời hạn của hợp
đồng thương mại, tín dụng thư kèm chứng từ được chọn như hình thức thanh
toán có liên quan đến các nhiệm vụ độc lập với các nhiệm vụ quy định tại hợp
đồng nói riêng.
-Một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà một ngân hàng dành cho một
khách hàng mua, trong đó người bán phải xuất trình chứng từ.
Ngân hàng gửi thẳng L/C đó cho người xuất khẩu biết là theo yêu cầu của
người xuất khẩu, ngân hàng đã mở một L/C cho người nhập khẩu, cam kết trả
tiền cho người xuất khẩu, khi người xuất khẩu làm đúng các điều quy định trong
L/C và chuyển những chứng từ gửi hàng cho ngân hàng làm đảm bảo.
Thực chất L/C là một bức thư được gửi cho người bán, được soạn thảo và ký bởi
một ngân hàng hành động thay mặt người mua. Trong bức thư, ngân hàng hứa sẽ
trả tiền các hối phiếu được ký phát cho chính nó nếu người bán tuân thủ các điều
kiện cụ thể được quy định trong L/C.Thông qua L/C ngân hàng đưa ra những
cam kết trả tiền của chính mình thay cho nhà nhập khẩu . Do đó L/C trở thành
một hợp đồng tài trợ giữa ngân hàng phát hành và một người thụ hưởng được chỉ
định độc lập với giao dịch thương mại.
Mục đích của L/C ở đây không phải là không phải là để chuyển tiền từ
nước người nhập khẩu sang nước người xuất khẩu mà là để tiến hành việc trả
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hành thường là ngân hàng ở nước ngoài, cũng có trường hợp ở nước thứ ba nào
đó.
Ngân hàng thông báo: là ngân hàng báo tín dụng chứng từ cho người thụ
hưởng một cách trực tiếp hoặc thông báo cho một ngân hàng khác. Ngân hàng
này thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C tại nước người xuất khẩu.
Người thụ hưởng: là người bán hàng xuất khẩu và là bên được hưởng lợi
tín dụng chứng từ.
Ngoài 4 thành viên trên trong trường hợp đặc biệt còn có các thành viên: ngân
hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu, ngân hàng trả tiền.
Thực tế không nhất thiết phải có sự tham gia của tất cả các ngân hàng ở trên,
thông thường chỉ có 2 thậm chí 1 ngân hàng đứng ra làm tất cả các chức năng
nói trên về nghiệp vụ.
*Trong thực tế, phương thức thanh toán này đã thể hiện được những lợi thế so
với các phương thức khác. Bởi vì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã
dung hòa, cân bằng với quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia
hợp đồng mua bán ngoại thương. Cụ thể:
Đối với nhà nhập khẩu, họ có được những lợi ích sau: Chắc chắn nhà xuất
khẩu phải đáp ứng các quy định của L/C, người mua chỉ phải thanht oán khi
nhận được bộ chững từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C để đi
nhận hàng. Người mua được sự trợ giúp của ngân hàng trong việc bảo đảm các
điều kiện của L/C được tuân thủ, dễ dàng được ngân hàng tài trợ về vốn. Được
các điều khoản của UCP 500 bảo vệ. Tuy nhiên ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ
sở chứng từ nên buộc phải thanh toán bất kể hàng hóa có tốt hay xấu. Rủi ro
thuộc về phía người mua nếu người bán cố ý lập các chứng từ hàng hóa giả tạo
để lừa đảo.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với nhà xuất khẩu, họ được bảo đảm thanh toán khi tuân thủ các điều
khoản và điều kiện của L/C và nhận được thanh toán nhanh nhất, được ngân
ngân hàng đòi hỏi người mua phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định nào đó thì mối
quan hệ này trở thành mối quan hệ tín dụng.
Giữa ngân hàng phát hành và người hưởng lợi: Với việc mở L/C cho
người mua, ngân hàng phát hành đã cam kết việc thanh toán cho người hưởng
lợi, điều đó có nghĩa là ngân hàng phát hành sẽ trả tiền cho người thụ hưởng thực
hiện đầy đủ các điều kiện hay khi người mở không trả hay không muốn trả theo
L/C. Rủi ro này thuộc về mối quan hệ tín dụng cho nên khi nhận được thư yêu
cầu mở L/C, ngân hàng cần xem xét kỹ tình hình tài chính của khách hàng để có
thể phán quyết chính xác trước khi mở L/C.
Giữa ngân hàng thông báo và người hưởng lợi: Khi ngân hàng thông báo
chỉ thực hiện việc thông báo tín dụng chứng từ mà không có cam kết nào về
thanh toán với L/C thì quan hệ với người hưởng lợi của ngân hàng thông báo chỉ
là vai trò người đưa thư.
Giữa ngân hàng xác nhận và người hưởng lợi: Ngân hàng xác nhận và
người hưởng lợi đã cam kết việc thanh toán cho người hưởng lợi. Đồng thời
ngân hàng xác nhận đã đồng ý chịu trách nhiệm với ngân hàng phát hành về
nghĩa vụ trả tiền L/C.
Giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận: Ngân hàng phát hành
và ngân hàng xác nhận đã đồng ý chịu trách nhiệm về một khoản nợ . Một khi
ngân hàng xác nhận không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình đã cam kết,
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
người hưởng lợi có quyền đòi tiền ngân hàng xác nhận. Khi ngân hàng xác nhận
đòi tiền ngân hàng phát hành mở ký quỹ một khoản tiền nhất định thì quan hệ
này trở thành quan hệ tín dụng.
Giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo: Mối quan hệ đồng
nghiệp và ngân hàng thông báo không bị bất cứ một ràng buộc pháp lý nào.
3.3.Nội dung chủ yếu của L/C
Số hiệu: Số hiệu dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện
L/C. Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng. Số hiệu của L/C còn được dùng để
Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình: bản gốc L/C, hóa đơn thương
mại, giấy tờ bảo hiểm, vận đơn, giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận
xuất xứ, bản kê khai hàng hóa và một số giấy tờ khác theo yêu cầu của nhà nhập
khẩu.
Cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C.
Những điều khoản đặc biệt.
Chữ ký của ngân hàng mở L/C.
3.4. Một số loại L/C và quy trình nghiệp vụ
3.4.1.Phân loại theo công cụ của thư tín dụng
3.4.1.1.L/C có thể hủy ngang (Revocable L/C) :
Đây là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ mà không cần thông báo cho
người thụ hưởng. Nó chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi
hoặc hủy L/C có thể xảy ra khi hàng hóa đang trên đường vận chuyển hoặc trước
khi thanh toán. L/C hủy ngang tạo cho người mua sự chủ động tối đa. L/C có thể
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hủy ngang chỉ được sử dụng trong trường hợp: việc giao hàng được thực hiện
giữa công ty mẹ và công ty con, giữa người mua và người bán có quan hệ tín
dụng rất tốt.
3.4.1.2.L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C):
Là loại L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung
hay hủy bỏ trong thời gian hiệu lực của nó nếu chưa có sự thỏa thuận của các
bên tham gia. L/C không thể hủy ngang bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia
nên nó được sử dụng rộng rãi.
Quy trình nghiệp vụ L/C không thể hủy ngang
Hợp đồng ngoại thương
3.hàng hóa
9.thanh 4.BCT 6.Bộ 7.thanh
toán +HP 2.L/C 1.đơn CT toán
xin mở
3.4.2.1. L/C trả ngay (L/c payable by draf at sight)
Là loại L/C không thể hủy ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu
được xuất trình. Rủi ro trong loại L/C này thường phải thanh toán trước khi nhận
hàng, vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng cập cảng.
3.4.2.2. L/C trả chậm (L/C available by deffered payment)
Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho người
thụ hưởng số tiền của L/C một số ngày sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất
trình hoặc sau ngày giao hàng. Loại L/C này có 2 dạng: L/C có kỳ hạn, L/C trả
dần
3.4.2.3. L/C chấp nhận (L/C available by acceptance)
Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành thực hiện chấp nhận hối phiếu
hoặc chỉ định bên thứ ba chấp nhận hối phiếu , với điều kiện người thụ hưởng
xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C. Ngân hàng phát hành trong bất kỳ
19
Nhà xuất khẩu Nhà nhập khẩu
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng thông
báo xác nhận
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu đã chấp nhận, khi các điều kiện
của L/C được đáp ứng đầy đủ.
3.4.3.Theo quan hệ đối tác
3.4.3.1. L/C trực tiếp (Straight L/C)
là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ giới
hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của L/C. Dạng L/C này thường yêu cầu
người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân ahngf phát hành (hết hạn
hiệu lực tại điểm giao dịch của ngân hàng phát hành)
3.4.3.2. L/C cho phép chiết khấu (L/C available by negotiation)
Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành ủy quyền cho một ngân hàng
tương tự cho người cung cấp hàng hóa.
3.5.Những tham chiếu áp dụng khi sử dụng phương thức thanh toán TDCT
Hoạt động ngoại thương là việc thực hiện buôn bán giữa các chủ thể hoặc
những nước khác nhau, mỗi nước có những luật lệ khác nhau, chính vì vậy để
tránh những tranh chấp do hiểu lầm hay cố ý vi phạm trong TTQT, phòng
thương mại quốc tế (ICC) ban hành các qui tắc để hướng dẫn các bên khi tham
gia thực hiện TTQT như: ULC 1931 (Uniform law for check), ULB (Uniform
customs for bill of exchange), UCP (Uniform customs and practice for D/C),
URC (Uniform rules collection),…
Đối với phương thức L/C thì cần phải quan tâm nhất đến UCP. UCP mang
tính chất pháp lý tùy ý, do vậy các bên sử dụng có quyền lựa chọn. UCP được
sửa đổi nhiều lần, đến nay là UCP 600, sẽ có hiệu lực thi hành vào 1/7/2007.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
UCP 600 có một số thay đổi cơ bản so với bản UCP 500 như sau: (i) Thứ nhất,
UCP 600 đã bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới dể làm rõ
nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500; (ii) Thứ hai, thuật
ngữ “thời gian hợp lý” (reasonable time) cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài
liệu đã được thay thế bằng khoảng thời gian cố định là “05 ngày làm việc ngân
hàng”; (iii) Thứ ba, UCP 600 bổ sung thêm các quy định mới cho phép chiết
khấu tín dụng thư chậm trả; và (iv) Thứ tư, theo UCP 600, các ngân hàng có thể
chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dung dẫn chiếu đến các điều khoản miễn
trừ (exclusion clause).
Để có thể hiểu và thực hiện chính xác, có hiệu quả các quy định của UCP 600,
trong khoảng thời gian 07 tháng còn lại, các ngân hàng và doanh nghiệp được
khuyến cáo là phải nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định mới của UCP 600.
4.Quan niệm về nâng cao chất lượng TTQT theo phương thức TDCT
4.1.Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng TTQT theo phương thức
TDCT
TTQT là một loại hình dịch vụ do ngân hàng cung cấp tới những khách
về địa lý nên việc thanh toán thường bị chậm trễ. Kéo dài thời gian thanh toán
làm cho các nhà xuất khẩu bị đọng vốn, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả.
Thứ ba, quy mô và tỷ trọng thu nhập từ lĩnh vực TTQT qua L/C của ngân
hàng không ngừng tăng lên. Đây là kết quả tổng hợp của sự đa dạng dịch vụ, sự
phát triển dịch vụ và đương nhiên là cả chất lượng dịch vụ của ngân hàng tăng
lên. Song, chất lượng dịch vụ có tính nổi trội hơn cả. Bởi vì nếu như chất lượng
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dịch vụ không đảm bảo, không được nâng cao, thì sự đa dạng các dịch vụ và phát
triển các dịch vụ sẽ không có ý nghĩa vì không được khách hàng chấp nhận.
4.2.Khái niệm về nâng cao chất lượng TTQT theo phương thức TDCT
Các NHTM là những người cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. Dịch vụ
ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán,…
mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời,
sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ
giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại
các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ,
một bách hoá tài chính với hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau
tuỳ theo cách phân loại và tuỳ theo trình độ phát triển của ngân hàng. Trong đó
việc cung cấp dịch vụ TTQT đặc biệt là phương thức thanh toán qua L/C ngày
càng nắm vai trò quan trọng. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là
phương thức thanh toán ngày càng được sử dụng rộng rãi, được nhiều nhà kinh
doanh xuất nhập khẩu tin tưởng lực chọn do những ưu thế của nó. Trong xu thế
hội nhập kinh tế thế giới, các ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều và mỗi ngân
hàng đều phải nỗ lực chạy đua với nhau trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ
mà mình cung cấp để cạnh tranh, tạo chỗ đứng trên thị trường. Dịch vụ thanh
toán quốc tế qua L/C là một trong số đó.
Như vậy việc nâng cao chất lượng TTQT qua phương thức TDCT là làm
sao để ngày càng thỏa mãn nhiều hơn nhu cầu ngày càng gia tăng của khách
hàng trong cả hiện tại và tương lai.