Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
Hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động ngoại thương nói
riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất
nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiến hành sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như một mắt xích không thể thiếu
được trong hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các
Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng, nó được coi là công cụ,
là cầu nối trong quan hệ kinh tế, và thương mại giữa các nước trên thế
giới.Tuy nhiên thanh toán quốc tế là hoạt động rất phức tạp, bởi các chủ thể
tham gia có sự cách biệt về địa giới cũng như chế độ chính trị, kinh tế xã hội.
Do đó, các bên tham gia luôn quan tâm đến việc tìm ra phương thức thanh
toán có hiệu quả nhất, tức là có ít rủi ro nhất đối với cả người mua lẫn người
bán. Và phương thức tín dụng chứng từ được các chủ thể chọn trong thanh
toán quốc tế bởi nó hội tụ được các yêu cầu từ cả hai phía người nhập khẩu và
người xuất khẩu. Với những ưu điểm vượt trội của mình, phương thức tín
dụng chứng từ ngày càng trở nên phổ biến trong hoạt động thanh toán quốc
tế. Tuy nhiên đây là phương thức thanh toán phức tạp, đa dạng nên để hiểu và
sử dụng tốt phương thức này là việc không đơn giản.
Qua quá trình thực tập về nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại chi nhánh ngân
hàng công thương Nghệ An, em đã được tìm hiểu và nắm bắt được phần nào
về nghiệp vụ này. Em nhận thấy rằng việc mở rộng hình thức thanh toán theo
phương thức tín dụng chứng từ còn gặp phải không ít khó khăn, điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh chung của cả Ngân hàng. Do vậy
em đã chọn dề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại NHCT Nghệ An” Với nhận thức còn hạn
chế, thực tế còn ít, vì vậy đề tài còn nhiều khiếm khuyết.Ngoài phần mở đầu
và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương :
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
1
Chuyên đề tốt nghiệp
NHCT với các tổ chức tài chính khác ở trong và ngoài nước thông qua mạng
IBS (hệ thống nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của NHCTVN), mạng SWIFT
(mạng tài chính viễn thông liên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác.
1.1.2. Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ( Thư tín
dụng - Letter of Credit )
1.1.2.1 Khái niệm chung về phương thức tín dụng chứng từ.
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó, theo yêu
cầu của khách hàng ( người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (ngân hàng phát
hành L/C) sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of Credit ),theo
đó,NHPH cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba
( người thụ hưởng L/C) khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định của L/C.
Bàng ngôn ngữ luật,định nghĩa về Tín dụng chứng từ được nêu tại
Điều 2, UCP 600, như sau:”Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ,
cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn
và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp.
Thư tín dụng (Letter of credit - L/C) là một chứng thư trong đó ngân
hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng
từ phù hợp với nội dung L/C. Chính vì vậy, người ta còn gọi phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ là thanh toán L/C.
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
+ Người yêu cầu,Người mở, Người xin mở(aplicant): Là bên mà L/C
được phát hành theo yêu cầu của họ.trong thương mại quốc tế, người mở
thường là người nhập khẩu,yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một
L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc NHPH trả tiền cho người thụ hưởng
L/C.
+ Người thụ hưởng, Người hưởng, Người hưởng lợi (beneficiary):Là bên
buộc có sự tham gia của bên thứ ba là ngân hàng.
1.1.2.2. Các loại thư tín dụng chủ yếu.
a. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C)
Là loại thư tín dụng mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị ngân
hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo
trước cho người hưởng lợi biết (đương nhiên việc đó phải diễn ra trước khi
thư tín dụng được thanh toán).Như vậy loại thư tín dụng có thể huỷ ngang
thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Đứng trên giác độ
quyền lợi của bên bán, loại thư tín dụng này không đảm bảo quyền lợi cho họ;
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
5
Chuyên đề tốt nghiệp
do đó ngày nay nó ít được sử dụng trong thương mại quốc tế .
b.Thư tín dụng không thể huỷ ngang ( Irrevocable L/C ).
Đây là loại thư tín dụng mà sau khi nó đã được mở ra thì mọi việc liên
quan tới sửa đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ nó ngân hàng mở chỉ có thể được tiến
hành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên có liên quan.
c.Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirm
irrevocable L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng
khác đảm bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của ngân hàng mở
thư tín dụng đó.
Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi cho
nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán.
d. Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable
without recourse L/C).
Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi người thụ
hưởng đã được trả tiền thì ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất
kỳ tình huống nào.
e. Thư tín dụng chuyển nhượng (Irrevocable transferable L/C).
m. Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C).
Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo
vệ quyền lợi cho bên mua.
1.2.Vai trò của hoạt động TTQT đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh và dịch vụ trong
nước, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển, trong đó TTQT là mảng hoạt động có
vai trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt
giữa các ngân hàng.
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất, TTQT là nghiệp vụ bổ sung, hỗ trợ cho các mặt hoạt động
khác của ngân hàng, chẳng hạn như khi phát triển hoạt động TTQT sẽ tăng
cường được khả năng huy động và sử dụng vốn ngoại tệ của ngân hàng.
Thứ hai, tiến hành hoạt động TTQT tốt sẽ giúp ngân hàng đáp ứng tốt
hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó nâng cao được uy tín của mình..
Thứ ba, TTQT sẽ giúp ngân hàng mở rộng quan hệ hợp tác với các
ngân hàng khác trên thế giới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đổi mới công
nghệ ngân hàng, từ trang bị kỹ thuật đến đào tạo chuyên viên, góp phần đưa
ngân hàng trở thành ngân hàng đa năng, hiện đại, phục vụ ngày càng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng.
Thứ tư, TTQT là dịch vụ trung gian, phí thu được từ hoạt động TTQT
không phải là thu nhập chủ yếu nhưng cũng góp phần đáng kể vào tổng thu
nhập của ngân hàng. Hơn nữa, mức phí trong hoạt động TTQT cũng là công
cụ để ngân hàng thực hiện chiến lược lôi cuốn khách hàng
Nói tóm lại, TTQT là mảng hoạt động rất quan trọng của ngân hàng, nó
không chỉ tạo ra thu nhập mà còn là nhân tố giúp ngân hàng nâng cao uy tín,
tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng qui mô nghiệp vụ hoạt động cũng như
- Nghiên cứu đa dạng hoá các hình thức L/C
- Mở rộng mạng lưới ngân hàng đại lý
- Đổi mới công nghệ ngân hàng
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương
thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng công thương Nghệ An
2.1.Tổng quan về Ngân hàng công thương Nghê An
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Hệ thống ngân hàng Việt Nam được thành lập ban đầu là ngân hàng
một cấp; một hệ thống ngân hàng nhà nước vừa hoạt động quản lý nhà nước
về ngân hàng, vừa cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Đến năm 1989, hệ thống ngân hàng được tách thành hai cấp: Ngân
hàng Nhà nước quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, và các Ngân hàng
thương mại nhà nước cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. NHCTNA
cũng được ra đời từ đó.
Trước đây, NHCTNA là chi nhánh ngân hàng cấp 1 trực thuộc
NHCTVN, tổ chức gồm trụ sở chính, 02 chi nhánh ngân hàng cấp 2 và một số
phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm. NHCTNA hoạt động chủ yếu trên địa bàn tỉnh
Nghệ An, ngoài ra NHCTNA còn hoạt động ở một số địa bàn khác theo sự chỉ
đạo của NHCTVN hoặc liên kết với các tổ chức khác.
Đến năm 2006, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về thành lập,
điều chỉnh chi nhánh, phòng giao dịch; 02 chi nhánh ngân hàng cấp 2 trực
thuộc NHCTNA được tách ra khỏi NHCTNA và được điều chỉnh thành ngân
hàng cấp 1 trực thuộc NHCTVN. Từ đó đến nay, NHCTNA không có chi
nhánh trực thuộc.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công Thương Nghệ An.
- Căn cứ Điều lệ tổ chức và hoạt động của ngân hàng Công Thương
Việt Nam được thống đốc Ngân hàng nhà nước phê chuẩn tại quyết
tin
điện
toán
Ban Giám đốc
Phòng
thanh
toán
xuất
nhập
khẩu
Phòng
kế toán
giao
dịch
Quan hệ kiểm tra, kiểm soátQuan hệ quản lý, điều hành
Phòng
khách
hàng
cá
nhân
Phòng
tổ
chức-
hành
chính
Phòng
khách
hàng
doanh
nghiệp
4. Phòng khách hàng cá nhân:
- Trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình để
khai thác vốn;
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến huy động vốn, tín dụng, quản
lý các sản phẩm tín dụng;
- Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng cho các khách hàng cá nhân.
5. Phòng kế toán giao dịch:
- Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng;
- Thực hiện các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác
quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ;
- Cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán,
hạch toán kế toán;
Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy vi
tính;
Quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên;
- Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm
ngân hàng.
6. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu:
- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất nhập khẩu;
- Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, quản lý ngoại hối.
7. Phòng thông tin điện toán:
- Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán;
- Bảo trì, bảo dưỡng máy vi tính bảo đảm thông suốt hoạt động tại
NHCTNA.
8. Phòng quản lý rủi ro:
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tham mưu cho Ban giám đốc về công tác quản lý rủi ro;
- Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân
hình thức;
- Thực hiện các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, thanh toán và ngân quỹ;
- Tư vấn nghiệp vụ ngân hàng cho các khách hàng;
- Thực hiện cho vay bằng hình thức cầm cố.
Ngoài ra, tại NHCTNA còn có Bộ phận kiểm tra, kiểm soát trực thuộc
Ban Kiểm tra, kiểm soát nội bộ NHCTVN; thực hiện chức năng, nhiệm vụ
kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động tại NHCTNA theo sự phân công, phân
nhiệm của NHCTVN.
4. Mạng lưới hoạt động
Do có 02 chi nhánh trực thuộc NHCTNA vừa được nâng cấp lên trực
thuộc NHCTVN nên hiện tại NHCTNA có mạng lưới hoạt động rất nhỏ, trụ
sở chính và các Phòng giao dịch, Điểm giao dịch đều được bố trí trên địa
bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian tới, NHCTNA đang có
kế hoạch mở thêm một số phòng giao dịch ở các huyện lân cận thành phố
Vinh.
2.1.3. Một số hoạt động chính của ngân Hàng Công thương Nghệ An
2.1.3.1. Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 2007
Tổng quan chung năm 2007, tình hình kinh tế - xã hội Nghệ An diễn
biến trong điều kiện khó khăn: Giá cả các loại vật tư, xăng dầu tăng cao, giá
vàng trong năm tăng, giảm thất thường, đến cuối năm giá vàng bình quân
tăng 20% so với năm 2006 và đạt mức giá cao nhất so với những năm trước
đây. Tỷ giá USD cơ bản được bình ổn do giá thị trường và nguồn cung USD
vào Nghệ An tăng mạnh. Đồng thời, trong năm qua Nghệ An còn phải chịu
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt xảy ra liên tiếp… đã gây khó khăn,
làm hạn chế phát triển sản xuất kinh doanh. Nhưng với sự chỉ đạo, điều hành
tích cực của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Nên
tình hình kinh tế - xã hội tỉnh nhà tiếp tục có những bước phát triển nhất
định: 20/23 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch. Trong đó, tốc độ tăng
tác huy động vốn của chi nhánh đứng trước nhiều thách thức lớn. Tuy nhiên,
chi nhánh đã cố gắng duy trì, phát triển nguồn tiền gửi của khách hàng
truyền thống, tăng cường mở rộng mạng lưới, lập thêm quỹ tiết kiệm tại khu
vực có tiềm năng. Mặt khác, chi nhánh đặc biệt quan tâm nâng cao chất
lượng phục vụ, đa dạng hoá các sản phẩm Ngân hàng để nâng cao hiệu quả
hoạt động của các quỹ tiết kiệm. Nhờ vậy nguồn vốn huy động của Ngân
hàng vẫn giữ sự ổn định.
Tăng trưởng nguồn vốn huy động:
Tính đến 31/12/2007 - Tổng nguồn vốn huy động đến đạt 972 tỷ đồng,
tỷ lệ tăng trưởng 6,3% so với đầu năm, đạt 99,2% kế hoạch.
- Nguồn vốn huy động bình quân trong năm đạt 937 tỷ đồng, tỷ lệ tăng
trưởng 6,3% so với nguồn vốn huy động bình quân năm 2006.
- Thị phần nguồn vốn huy động của Chi nhánh chiếm tỷ trọng 10% trên
toàn Tỉnh.
- Cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng:
+ Tiền gửi TCKT đến cuối năm đạt 134 tỷ đồng năm, tăng trưởng
16,5% so với đầu năm, chiếm tỷ trọng 14% trên tổng nguồn vốn huy động.
+ Tiền gửi dân cư đến cuối năm đạt 838 tỷ đồng, tăng trưởng 5% so
với đầu năm, chiếm tỷ trọng 86% trên tổng nguồn vốn huy động.
2.1.3.3.Hoạt động tín dụng :
Thực hiện các chỉ tiêu tín dụng:
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến cuối năm đạt 971 tỷ đồng, tốc độ
tăng trưởng 15% so với đầu năm và đạt 105% kế hoạch.
- Dư nợ bình quân trong năm đạt 829 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 3,6%
so với dư nợ bình quân năm 2006.
- Thị phần dư nợ của Chi nhánh chiếm tỷ trọng 8% trên toàn Tỉnh.
- Tỷ lệ cho vay DNNN 45% trên tổng dư nợ, tỷ lệ cho vay không có tài
sản đảm bảo 34% trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu 0,057% trên tổng dư nợ.
hơn.
Với chiến lược tăng trưởng tín dụng thận trọng, chất lượng tín dụng của
NHCT Nghệ An tiếp tục được cải thiện, dư nợ nhóm 2, dư nợ xấu chiếm tỷ
lệ thấp trên tổng dư nợ. Nhờ chất lượng tín dụng được duy trì khá tốt, nên
trích lập dự phòng theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN trong năm 2007 chỉ
còn 7.955 triệu đồng (trong đó: Dự phòng củ thể chỉ còn 169 triệu), giảm rất
nhiều so với những năm trước. Nguyên nhân là do một mặt, tập trung vào
công tác xử lý thu hồi nợ nhóm 2, nợ xấu. Mặt khác, chi nhánh đã gắn tăng
trưởng với kiểm soát chất lượng tín dụng, tăng dư nợ có tài sản đảm bảo và
dư nợ cho vay các doanh nghiệp dân doanh. Thực hiện nghiêm túc các giới
hạn tín dụng được giao.
Trong công tác tín dụng đã tuân thủ chặt chẽ quy trình, thể lệ, chế độ
Tín dụng, Luật NHNN, Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
của Ngành, nhất là các văn bản chỉ đạo công tác tín dụng của NHCT Việt
Nam, đồng thời nâng cao chất lượng công tác thẩm định các dự án/ PA
SXKD; Thẩm định khách hàng vay vốn; Chỉ đạo, đôn đốc cán bộ thường
xuyên kiểm tra tình hình hoạt động SXKD, phân tích thực trạng tài chính,
phân tích tình hình bảo đảm tiền vay và xếp hạng Doanh nghiệp nhằm đánh
giá một cách chính xác để có hướng đầu tư vốn hợp lý.
2.1.3.4.Các hoạt động dịch vụ:
Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì các hoạt động dịch vụ càng
được chú trọng mở rộng và chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập của Ngân
hàng. Kinh nghiệm cho thấy phát triển dịch vụ vừa mang lại thu nhập an
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
toàn, vừa là biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ cho các sản phẩm chính, quảng bá
cho Ngân hàng, thu hút khách hàng. Nhận thức được điều đó, trong thời gian
qua, chi nhánh đã luân chú trọng mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch
vụ nhằm mang lại tiện ích lớn nhất cho khách hàng. Nhờ vậy thu nhập từ
dịch vụ của năm 2007 ngày càng tăng,,thể hiện:
bảo an toàn tuyệt đối về tài sản.
Tổng thu tiền mặt: 3.527 tỷ đồng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2006.
Tổng chi tiền mặt: 3.450 tỷ đồng, tăng 11 % so cùng kỳ năm 2006.
Bội thu tiền mặt: 77 tỷ đồng.
Chi trả tiền thừa cho khách hàng 322 món với số tiền 353 triệu đồng,
phát hiện 900.000 đồng tiền giả. Mặt hoạt động này đã góp phần tạo được
niềm tin của Khách hàng đối với Ngân hàng công thương.
- Công tác thông tin, điện toán:
Sau khi triển khai thành công chương trình hiện đại hóa giai đoạn I. Chi
nhánh NHCT Nghệ An tiếp tục được giao nhiệm vụ là đầu mối trong việc
thực hiện chương trình hiện đại hóa giai đoạn II, công tác điện toán của đã
thực hiện thành công nhiều lần nâng cấp, rà soát, chỉnh sửa chương trình
đảm bảo cho chi nhánh vận hành các chương trình phần mền hệ thống một
cách hiệu quả và an toàn.
Công tác điện toán với hệ thống thiết bị công nghệ thông tin, mạng
máy tính, mạng viễn thông, hệ thống các phần mềm ứng dụng hoạt động
thông suốt an toàn, hiệu quả, đã góp phần tạo ra một môi trường viễn thông,
công nghệ thông tin tốt cho hoạt động kinh doanh của toàn Chi nhánh.
- Các hoạt động khác:
Công tác kiểm tra kiểm soát luôn được coi trọng và dần dần đi vào
nề nếp với chất lương ngày càng cao. Năm 2007 công tác này được thực
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện thường xuyên, theo định kỳ hoặc đột xuất nhằm phát hiện, chấn chỉnh
kịp thời những thiếu sót trong tất cả các nghiệp vụ..
Bên cạnh đó, công tác tổ chức cán bộ nhằm quản lý, sử dụng lao động
một cách tốt nhất trên cơ sở nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt động của
phòng ban được ban giám đốc đặc biệt quan tâm. Mặt khác, công tác đào tạo
được đặc biệt chú trọng, chi nhánh luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi để CBCNV học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ.
thức tín dụng chứng từ chiếm khoảng 80 – 83 % tổng giá trị kim ngạch
thanh toán quốc tế.
So sánh tỷ trọng thanh toán theo L/C với các phương thức thanh toán
quốc tế khác
Đơn vị: tr.usd
Năm
Tổng k/n
chuyển tiền
Tổng k/n
nhờ thu
Tổng kim
ngạch L/C
Tổng k/n
TTQT
Tỷ trọng
k/n L/C
(%)
2005 6.48 5.92 53.6 66 81,21
2006 7.2 5.89 56.91 70 81,3
2007 5.32 3.4 41.28 50 82,56
Tổng 19 15.21 151.79 186 81,61
Qua bảng trên, chúng ta thấy rằng, phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng nhiều nhất là phương thức tín dụng chứng từ bởi những ưu
đIểm của nó. Khối lượng thanh toán của phương thức thanh toán này chiếm
giá trị 80% đến gần 83% tổng giá trị thanh toán quốc tế đang được sử dụng.
Nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ là nguồn thu chính cho hoạt động
SV: Hồ Quang Thắng Lớp: TTQTC - K7
Chuyên đề tốt nghiệp
thanh toán quốc tế của phòng kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng Công
(9)
(3)
(8)
(7)
(6)
(4)
(5)
Chuyên đề tốt nghiệp
(3) Ngân hàng Công thương Việt Nam chuyển cho Ngân hàng thông
báo qua mạng SWIFT.
(4) Ngân hàng thông báo chuyển tiếp thông báo L/C cho người xuất
khẩu.
(5) Người xuất khẩu giao hàng.
(6) Người xuất khẩu xuất trình chứng từ theo quy định của L/C và yêu
cầu thanh toán.
(7) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ đòi tiền Ngân hàng Công
thương Nghệ An.
(8) Chuyển tiền thanh toán ( nếu là thanh toán ngay ) hoặc thông báo
thanh toán ( nếu là thanh toán có kỳ hạn thanh toán chậm ) cho ngân hàng
phục vụ người xuất khẩu theo bản hướng dẫn được gửi đến từ ngân hàng
phcụ vụ người xuất khẩu.
(9) Giao chứng từ cho người nhập khẩu khi đã hoàn thành thủ tục cần
thiết.
Bảng mức lệ phí thanh toán hàng nhập khẩu
Loại hình Lệ phí thanh toán L/C
1.Phát hành 0,1% giá trị L/C (10-300USD)
2.Sửa đổi, tăng tiền 0,1% chênh lệch L/C (1o-300USD)
3.Sửa đổi khác 15 USD/ 1lần
4.Thanh toán L/C 0,2% giá trị L/C (15-500USD)
5.Huỷ bỏ L/C. 10 USD