LUẬN VĂN:
Giải pháp phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại
thương Việt nam Lời mở đầu
2. Mục đích nghiên cứu:
Giới thiệu các lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế như: khái niệm, các
phương tiện, phương thức, quy trình của từng phương thức thanh toán quốc tế.
Tổng hợp và phân tích thực tế hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt nam.
Trên cơ sở các lý luận và thực tế đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm
hướng tới những thành công lớn hơn trong hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân
hàng Ngoại thương Việt nam.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu cơ bản về vấn đề nghiên cứu quốc tế và cụ thể thực tế
hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam trong thời gian
gần đây.
4.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp cơ bản để tiến hành nghiên cứu khoá luận là phương pháp duy
vật biện chứng cùng với các phương pháp khoa học khác như thống kê, phân tích, so
sánh…
5. Kết cấu khóa luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài viết bao gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về thanh toán quốc tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại
thương Việt nam
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
quan hệ TTQT giữa Việt nam và các nước XHCN cũng xuất phát từ thanh toán song
phương bằng đồng Rúp chuyển khoản(RCK).
Kể từ khi Việt nam tham gia vào hiệp định thanh toán đa phương(ngày
27/05/1977) và trở thành hội viên chính thức của Hội đồng tương trợ kinh tế
SEV(tháng 6/1978),quan hệ TTQT giữa Việt nam và các nước bạn được chia thành
hai loại: Thanh toán Clearing với các nước: Triều Tiên, Anbani, Lào, Campuchia và
thanh toán bằng RCK với các nước thuộc khối SEV. Bước sa sút và tan rã. Do đó, cơ
chế thanh toán đa phương bằng RCK không còn phù hợp nữa và đồng RCK bị loại bỏ
khỏi quan hệ TTQT của Việt nam.
Trong giai đoạn hiện nay, với sự tác động mạnh mẽ của các thành tựu khoa
học kỹ thuật hiện đại cùng với xu hướng phát triển của nhân loại, quan hệ TTQT đã
chuyển sang thời kỳ mới. Sự giao lưu hàng hoá không còn bị giới hạn bởi chế độ
chính trị mỗi quốc gia mà việc trao đổi hàng hoá dịch vụ diễn ra trên phạm vi thế giới
với hệ thống giá cả thống nhất. Chính vì vậy, hoạt động TTQT của mỗi nước cũng
từng bước đổi mới, không phân biệt thành phần kinh tế, chính trị, tôn giáo…
1.1.2. Khái niệm thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế(TTQT) là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ
phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức
kinh tế quốc tế, giữa các hãng giữa các cá nhân của mỗi quốc gia khác nhau để kết
thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức
chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng.
Khác với thanh toán nội địa, TTQT không những sử dụng nội tệ mà còn có sự
tham gia của ngoại tệ vì việc thanh toán đã vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia và
liên quan tới ít nhất 2 quốc gia nên có tới 2 đồng tiền liên quan. Để giải quyết vấn đề
này TTQT thường sử dụng các đồng hay một số đồng tiền chuyển đổi tự do như
USD, JPY, HKD…
Phần lớn việc chi trả trong TTQT được thực hiện thông qua điện tín, mạng
thì sẽ căn cứ vào các đại diện giao dịch.
- Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan
đến hàng hoá, không mang tính chất thương mại. Đó là chi phí của cơ quan ngoại
giao ở nước sở tại, chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách, chính phủ, các tổ
chức, cá nhân.
1.1.3. Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.3.1. Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
TTQT là khâu kết thúc một giao dịch buôn bán hàng hoá, dịch vụ ; là cầu nối
giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu thông qua việc chi trả lẫn nhau trong quá
trình thực hiện nghiệp vụ TTQT. Chính vì vậy, nó là chất xúc tác cho sự phát triển
hoạt động kinh tế đối ngoại và quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia trên
thế giới. Qua đó, Ngân hàng thực hiện TTQT sẽ có những mối quan hệ đại lưý với
Ngân hàng và các đối tác nước ngoài, góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hoá
tiền tệ quốc tế, tạo nên sự liên tục trong suốt quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá
trình lưu thông hàng hoá quốc tế.
Có thể nói, TTQT phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối
của giá trị trong quá trình chu chuyển hàng hoá và tư bản giữa các quốc gia.Như
vậy, nếu khâu TTQT đạt hiệu quả cao sẽ rút ngắn thời gian chu chuyển vốn, giảm
bớt và khắc phục những rủi ro liên quan tới sự biến động của tiền tệ, tới khả năng
thanh toán của con nợ, tạo điều kiện cho việc phát triển và mở rộng hoạt động ngoại
thương của mỗi nước.
1.1.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Đối với hoạt động Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT
có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là một dịch vụ thuần tuý mà được
coi là một mặt không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nó
bổ sung và hỗ trợ cho những mặt hoạt động khác của Ngân hàng.
Hoạt động TTQT giúp cho Ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu
mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại góp phần cải
thiện bộ mặt nền kinh tế quốc dân.
1.2. Nội dung thanh toán quốc tế
1.2.1. Các nguồn luật điều chỉnh quan hệ thanh toán quốc tế
Để thống nhất sự giải thích về hồi phiếu, trong phạm vi quốc tế có hai công
ước. Công ước quốc tế đầu tiên kưý năm 1930 tại Giơ-ne-vơ, trong đó có ban hành
một luật điều chỉnh về hồi phiếu gọi là “Luật điều chỉnh về hối phiếu”(Uniform Law
for Bill of Exchange, viết tắt là ULB 1930). ULB mang tính chất khu vực thuộc châu
âu.
Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, kỳ họp thứ 15,
NewYork, từ ngày 26/7 đến 06/8/1982 cũng ban hành văn kiện số A/CN, 9/211 ngày
18/02/1982 về kỳ phiếu và hối phiếu quốc tế (International Bills of Exchange and
Promissory notes, document No. A/CN, 9/211 18 February 1982). Văn kiện này
mang tính chất toàn thế giới.
Pháp tham gia công ước Giơ-ne-vơ năm 1930, nhưng chính thức áp dụng luật
ULB vào năm 1936. Việt nam là thuộc địa của Pháp, nên lúc đó cũng áp dụng luật
này từ năm 1937 trở đi theo nghị định của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương.
Những văn bản khác thường gặp là : Luật hối phiếu 1982 của Anh(Bill of
Exchange Act of 1882), đây là nguồn luật điều chỉnh hối phiếu ban hành sớm nhất
thế giới và luật thương mại thống nhất 1962 của Mỹ (Uniform Commercial Codes of
1962- UCC). Hai văn bản này mang tính pháp lý quốc gia.
1.2.2 Các nguồn luật điều chỉnh về séc
Một số các nguồn luật phổ biến điều chỉnh về séc là:
+ Công ước Geneva về séc được ký vào năm 1931, được nhiều nước áp
dụng trên thế giới.
+ Luật thương mại quốc tế về séc do Uỷ ban thương mại quốc tế của liên
ba.
Việc sử dụng đồng tiền nào là tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại
thương, hay trong hiệp định thương mại và trả tiền giữa các nước nói chung phụ
thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sự so sánh lực lượng thương mại của hai bên mua và bán;
+ Vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc tế;
+ Tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới;
+ Đồng tiền thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh tế trên thế giới.
Tiền lệ trong thanh toán quốc tế được phân loại thành 03 nhóm chính:
Căn cứ vào phạm vi sử dụng tiền tệ
+ Tiền tệ thế giới(World currency): Hiện nay chưa có một vật nào khác thay
thế vàng thực hiện chức năng này.Nhưng thực tế vàng không được sử dụng để thanh
toán các hợp đồng xuất nhập khẩu mà chỉ đóng vai trò dự trữ quốc gia và thanh toán
cuối cùng khi cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia thâm hụt.
+ Tiền tệ quốc tế(International currency): là các đồng tiền hiệp định thuộc các
khối kinh tế và tài chính quốc tế như SDR, EUR
+ Tiền tệ quốc tế (National money): là đồng tiền riềng của từng nước. Ngày
nay, hầu hết các hợp đồng thương mại đều sử dụng đồng tiền các nước phát triển để
thanh toán như: JPY, USD, CHF Sức mua của đồng tiền có thể biến đổi phụ thuộc
vào tình hình chính trị, kinh tế của quốc gia đó.
Căn cứ vào tính chất chuyển đổi
+ Tiền tệ tự do chuyển đổi(Free Convertible currency): là những đồng tiền
quốc gia mà pháp luật nước đó cho phép nó được chuyển đổi tự do ra các đồng tiền
nước khác. Có 02 loại tiền tệ tự do chuyển đổi: tự do chuyển đổi toàn bộ và tự do
chuyển đổi từng phần.
+ Tiền tệ mạnh(Hard currency): là những đồng tiền có khả năng thanh toán
cao ở mọi nơi, mọi lúc.
Căn cứ vào hình thức tồn tại của tiền tệ:
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng đã quy định.
+ Người nhập khẩu trả tiền ngay khi nhận được bộ chứng từ hợp lệ từ người
bán – D/P(Documents against Payment).
+ Người nhập khẩu trả tiền ngay cho người xuất khẩu sau khi nhận xong
hàng hoá tại nơi quy định hoặc tại cảng đến, thường được gọi tắt là C.O.R(Cash On
Receip).
Trả tiền sau: gồm 04 loại và lấy mốc dựa vào 04 loại trả tiền ngay, việc
trả tiền sẽ xảy ra sau mốc đó x ngày:
+ Trả tiền sau x ngày kể từ ngày nhận được thông báo của người xuất khẩu đã
hoàn thành giao hàng không trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng đã quy định.
+ Trả tiền sau x ngay kể từ ngày người xuất khẩu hoàn thành giao hàng trên
phương tiện vận tải tại nơi giao hàng đã quy định.
+Trả tiền sau x ngay kể từ ngày nhận được chứng từ – D/A(Documents
against Acceptance).
+ Trả tiền sau x ngày kể từ ngày nhận xong hàng hoá.
1.2.2.4. Các phương tiện thanh toán quốc tế
Sec(Cheque)
Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản tiền gửi ra lệnh
cho Ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trên tờ séc, hoặc
trả theo lệnh của người ấy, hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định bằng
tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Séc là một phương tiện TTQT được sử dụng trong thanh toán nội địa và quốc
tế về cả hàng hoá, dịch vụ và phi mậu dịch.
Các loại séc:
Căn cứ váo tác dụng lưu chuyển:
+ Séc đích danh: là loại séc mà trên đó ghi tên người hưởng lợi, loại séc này
không thể chuyển nhượng bằng hình thức kưy hậu.
Các loại hối phiếu:
Căn cứ thời hạn trả tiền:
+ Hối phiếu trả tiền ngay: người trả tiền khi nhận được hối phiếu xuất trình thì
phải trả tiền ngay.
+ Hối phiếu có kỳ hạn: người trả tiền phải trả số tiền ghi trên tờ hối phiếu sau
một thời gian nhất định kể từ ngày người đó kưy chấp nhận trả tiền trên hối phiếu
hoặc kể từ ngày phát hành nó.
Căn cứ vào chứng từ đi kềm:
+ Hồi phiếu kèm chứng từ: loại hối phiếu này được chuyển đến cho người
nhập khẩu có kèm theo bộ chứng từ hàng hoá. Loại này gồm: Hối phiếu kèm chứng
từ trả tiền ngay và hối phiếu kèm chứng từ có chấp nhân.
+ Hối phiếu trơn: là hối phiếu được gửi đến người trả tiền mà không kèm
chứng từ hàng hoá. Trong TTQT, loại này thường dùng để thu tiền phạt, tiền bồi
thường, cước phí bảo hiểm, phí vận tải, lệ phí, thủ tục phí
Căn cứ vào chủ thể lập hối phiếu
+ Hối phiếu thương mai: loại này do người xuất khẩu lập để làm chứng từ đòi
tiền người nhập khẩu trong các nghiệp vụ thanh toán về hàng xuất khẩu hay cung ứng
dịch vụ.Hối phiếu thường đi kèm chứng từ hàng hoá trong các hình thức thanh toán
bằng L/C hay uỷ thác thu.
+ Hồi phiếu Ngân hàng: loại này do Ngân hàng phát hành để đòi tiền một
người nào đó hoặc chỉ định một người nhất định trả số tiền ghi trên hối phiếu.
Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng
+ Hối phiếu đích danh: là hối phiếu ghi rõ tên người hưởng, không kèm theo
điều khoản trả theo lệnh, không chuyển nhượng được.
+ Hối phiếu vô danh: là hối phiếu không ghi tên người hưởng lợi và khi
chuyển nhượng không phải ký hậu.
+ Hối phiếu theo lệnh: trong hối phiếu này phải ghi rõ trả theo lệnh của người
một số tiền nhất định cho một người khác(người thụ hưởng) ở một địa điểm nhất
định.
Có hai hình thức chuyển tiền: chuyển tiền bằng thư(M/T –Mail Transfer) và
chuyển tiền bằng điện(T/T - Telegraphic). Chuyển tiền bằng điện nhanh hơn nhưng
chi phí cao hơn so với chuyển bằng thư.
Các bên tham gia vào quy trình nghiệp vụ chuyển tiền:
+ Người chuyển tiền: là người nhập khẩu.
+ Người hưởng lợi: là người xuất khẩu.
+ Ngân hàng đại lưy: là Ngân hàng bên người xuất khẩu.
+ Ngân hàng chuyển tiền.
Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền
Sơđồ1:Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền
(2
)
Ngân
hàng
Chuy
ển
Ngân
hàng
đ
ại l
y
Người
Phương thức nhờ thu(Collection of Payment)
Nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì uỷ thác cho Ngân
hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình
lập ra.
Các bên tham gia vào quá trình nhờ thu:
+ Người tham gia hối phiếu: người xuất khẩu, người hưởng lợi.
+ Người bị kưy phát: người nhập khẩu, người chuyển tiền.
+ Ngân hàng chuyển chứng từ: Ngân hàng xuất khẩu nhận sự uỷ thác của
người hưởng lợi, thực hiện nghiệp vụ uỷ thác thu.
+ Ngân hàng thu tiền: Ngân hàng đại l ư? bên người nhập khẩu.
Các hình thức nhờ thu:
Căn cứ vào chứng từ trong thanh toán, nhờ thu được chia làm 02 loại chính:
Nhờ thu phiếu trơn:là phương thức thanh toán mà trong đó người bán uỷ thác
cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn
chứng từ hàng hoá thì giao trực tiếp cho người mua không thông qua Ngân hàng.
Quy trình nghiệp vụ:
Sơ đồ 2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn
Ngân hàng
Chuyển chứng
t
ừ
Ngân hàng
Thu tiền
(2
)
(7
phiếu đã được ky chấp nhận) sang Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu.
(7) Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu thanh toán trong đó người xuất
khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng thì lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu
và nhờ Ngân hàng thu hộ tiền của tờ hối phiếu với điều kiện người nhập khẩu trả tiền
hoặc đồng ưý trả tiền thì Ngân hàng mới giao bộ chứng từ để họ đi nhận hàng.
Quy trình nghiệp vụ:
Sơ đồ 3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ
(1) Người xuất khẩu chuyển giao hàng hoá sang người nhập khẩu theo điều
kiện của hợp đồng.
Ngân hàng
Chuyển chứng
t
ừ
Ngân hàng
Thu tiền
(2
)
(8
)
(3)
(7)
nhận) cho người xuất khẩu.
So với phương thức thanh toán nhờ thu trơn, thì nhờ thu kèm chứng từ đảm
bảo quyền lợi cho người xuất khẩu hơn vì đã có sự ràng buộc chặt chẽ giữa việc
thanh toán và nhận hàng. Ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ đơn thuần, mà
còn tham gia khống chế bộ chứng từ trong thanh toán.
Phương thức tín dụng chứng từ(Documentary Credit)
Định nghĩa:
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một Ngân
hàng (Ngân hàng mở thư tín dung) theo yêu cầu của khách hàng(người xin mỏ thư tín
dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác(người hưởng lợi), hoặc chấp nhận
hối phiếu do người này kưy phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình
cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín
dụng
Thư tín dụng(Letter of Credit – L/C) là một văn bản pháp lưý trong đó
Ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu trong một thời hạn nhất định
được quy định trong L/C.
Thư tín dụng là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức thanh toán
tín dụng chứng từ. Do đó nếu thư tín dụng hết hạn hiệu lực thì phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ sẽ không còn ưý nghĩa.
Thư tín dụng là văn bản thể hiện sự cam kết của Ngân hàng mở thư tín dụng
đối với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản thanh toán
của hợp đồng mua bán ngoại thương. Do đó nó được soạn thảo trên cơ sở hợp đồng
mua bán đã được kưý kết giữa hai bên mua và bán. Nhưng vì thư tín dụng là sự cam
kết của Ngân hàng mở L/C, do đó thư tín dụng độc lập hoàn toàn với hợp đồng mua
bán ngoại thương. Tính chất độc lập của thư tín dụng thể hiện ở chỗ: Ngân hàng mở
thư tín dụng không cần biết đến hợp đồng mua bán mà chỉ căn cứ vào nội dung đơn
xin mở L/C của nhà nhập khẩu để viết thư tín dụng(mở L/C) cho nhà xuất khẩu được
+Những chứng từ mà người xuất khẩu trình: Đây là nội dung then chốt của
thư tín dụng, là bằng chứng để chứng minh rằng người xuất khẩu hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng và làm đúng những điều kiện ghi trong thư tín dụng.
+ Các điều kiện khác.
+ Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mỏ thư tín dụng.
+ Chữ kưy của Ngân hàng mở thư tín dụng.
Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
+ Người xin mở thư tín dụng (Applicant): là người mua, người nhập khẩu.
+ Ngân hàng mở thư tín dụng(Applicant Bank) hay còn gọi là Ngân hàng
phát hành(Issuing Bank): là Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu.
+ Người hưởng lợi thư tín dụng(Beneficiary): là người bán, người xuất
khẩu hay bất kỳ người nào khác do người xuất khẩu chỉ định.
+ Ngân hàng thông báo thư tín dụng(Advising Bank): là Ngân hàng ở nước
người hưởng lợi.
Ngoài ra, tuỳ theo điều kiện cụ thể còn có các Ngân hàng khác tham gia
vào phương thức này như Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng chiết khấu, Ngân hàng bồi
hoàn
Quy trình thanh toán:
Sơ đồ 4: Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ
(1) Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại, lập đơn gửi Ngân
(8
)
(3
)
(7
)
(4
)
(5
)
(1
)
(6
)
(6)
(5
)
Người nhập
khẩu
Người xuất
xuất nhập khẩu. Nếu một nước có nền kinh tế tự cung tự cấp chắc chắn hoạt động
TTQT không phát triển và ngược lại, nếu nước đó có nền kinh tế mở thì hoạt động
ngoại thương được phát triển và theo đó hoạt động TTQT cũng sẽ phát triển.
Trình độ sản xuất, nguồn tài nguyên của mỗi quốc gia cũng có ảnh hưởng
đến hoạt động TTQT. Khi có trình độ sản xuất cao thì những sản phẩm sản xuất ra
không những có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có thể được xuất
khẩu. Trường hợp nếu thiếu nguồn nguyên liệu nào đó thì nước đó phải nhập nguyên
liệu đó cho hoạt động sản xuất chế biến của mình. Trong mọi trường hợp đều liên
quan đến hoạt động ngoại thương và do đó ảnh hưởng đến hoạt động TTQT.
Vị trí địa lý thuận lợi cũng là một lợi thế cạng tranh trong hoạt động ngoại
thương. Nếu một quốc gia ở một vị trí địa lý thuận lọi, ví dụ như đầu mối giao thông
quốc tế, sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn hơn. Vị trí địa lý thuận lợi sẽ giảm bớt được thời
gian vận chuyển hàng hoá, giảm được những rủi ro mất mát hàng hoá, đồng thời chi
phí vận chuyển sẽ rẽ hơn nhiều so với những vị trí khác không thuận lợi. Như vậy vị
trí địa lý thuận lợi là tiền đề cho hoạt động ngoại thương phát triển và là nhân tố cho
hoạt động TTQT phát triển.
1.3.3. Sự ổn định chính trị xã hội
Tình hình chính trị xã hội của mỗi quốc gia có ảnh hưởng đến tất cả hoạt
động kinh tế của quốc gia đó bao gồm cả nội thương và ngoại thương. Khi tình hình
chính trị xã hội ổn định, các hoạt động kinh tế sẽ có được một nền tảng vững chắc để
hoạt động. Sự bất ổn định chính trị xã hội là một trong những nhân tố to lớn trong
việc tàn phá nền kinh tế của mỗi quốc gia không loại trừ quốc gia đó theo thể chế
chính trị nào. Trong hoạt động ngoại thương, không một thương gia nào lại lựa chọn
đối tác của mình ở một nước đang có những biến động về chính trị. Sự biến động về
chính trị sẽ có thể làm cho bạn hàng của thương gia này(trong trường hợp họ là nhà
nhập khẩu) không thanh toán được tiền. Những rủi ro này nằm ngoài mong muốn của
hai phía, là những rủi ro bất khả kháng và thông thường không có những bảo hiểm
Ngoài ra Ngân hàng cũng phải luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người nhập khẩu trong
việc cấp tín dụng hay bảo lãnh các hợp đồng ngoại thương các điều kiện về lãi xuất,
tỷ lệ ký quỹ, điều kiện được vay vốn….để hoạt động xuất nhập khẩu và TTQT được
thực hiện dễ dàng.
Để hoàn thành vai trò của mình, điều quan trọng nhất là trình độ nghiệp vụ
của các cán bộ Ngân hàng phải đủ để phát hiện những thiếu sót, sai khác trong hợp
đồng, chứng từ hàng hoá…. đảm bảo lợi ích của khách hàng và Ngân hàng. Nếu cán
bộ Ngân hàng không phát hiện ra những sai sót mà trả tiền cho người bán thì người
mua có quyền từ chối thanh toán và Ngân hàng phải chịu trách nhiệm cho những sai
phạm này. Mặt khác, nếu Ngân hàng luôn đảm bảo được quyền lợi cho khách hàng
thì sẽ tạo được uy tín lớn, thu hút thêm nhiều khách hàng và đem lại nhiều lọi ích hơn
cho Ngân hàng.
Vì vậy vai trò trung gian thanh toán của các Ngân hàng rất quan trọng,
không có sự tham gia của các Ngân hàng thì việc thực hiện thanh toán cho các giao
dịch thương mại quốc tế sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro. Ngân hàng muốn thực hiện
tốt vai trò này thì luôn phải có những ưu đãi hợp lý để thu hút khách hàng, phải có
tiềm lực đủ để đáp ứng những nhu cầu của khách hàng cũng như phải có một đội ngũ
cán bộ nhân viên có đủ trình độ, kinh nghiệm.
chương ii
thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế
tại ngân hàng ngoại thương Việt nam.
2.1.Giới thiệu chung về Ngân hàng Ngoại thương Việt nam: