LUẬN VĂN: Phân tích năng suất lao động và giải pháp
nhằm nâng cao năng suất lao động ở xí
nghiệp xây lắp thiết bị điện nước
Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình sản xuất không ngừng biến đổi, năng
suất lao động ngày càng được nâng cao. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay với sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá cùng với
tính chất khốc liệt của cạnh tranh thì vấn đề tăng năng suất lao động trở thành vấn đề
sống còn của một doanh nghiệp.
Tuy nhiên tại nước ta, trong một thời gian khá dài, vấn đề năng suất lao động
không được quan tâm đúng mức, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước, dẫn tới
hiệu quả sản xuất thấp. Do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập nền kinh tế đất nước vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay các doanh nghiệp đã quan
tâm tới việc khuyến khích tăng năng suất lao động.
những lý luận cơ bản về Năng suất lao động.
I. Khái niệm và phân loại Năng suất lao động (NSLĐ).
1. Khái niệm về năng suất lao động.
Theo Karl Marx thì NSLĐ là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”
1
. NSLĐ
thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một đơn vị thời gian
nhất định.
Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, là lượng lao
động để tạo ra đầu ra đó. NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Theo quan điểm tiếp cận mới về NSLĐ do Uỷ ban năng suất của Hội đồng năng
suất châu Âu đưa ra: NSLĐ là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm
để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người
có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa đó
đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những
điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới. Đó là sự
tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của loài người.
Như vậy, với quan niệm truyền thống, NSLĐ chỉ thuần tuý thể hiện mối tương
quan giữa “đầu ra” và “đầu vào”. Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầu vào thì có thể
nói NSLĐ cao hơn. Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh
về mặt số lượng. Còn theo quan niệm mới thì NSLĐ được hiểu rộng hơn, đó là tăng số
lượng sản xuất đồng thời với tăng chất lượng đầu ra. Điều này có nghĩa là sử dụng một
lượng lao động để sản xuất một khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất
lượng cao hơn. Với quan niệm như vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều
hơn mà không tổn hại đến chất lượng. NSLĐ không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn
phụ thuộc rất lớn vào chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất.
Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năng suất và chất
lượng được xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất lượng người ta phải hy
hiểu như NSLĐ của quốc gia, phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một người lao động cụ
thể. Nó là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sức mạnh kinh tế của một nước và so sánh giữa
các nước.
NSLĐ xã hội tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí lao động và lao động quá khứ cùng
giảm, tức là đã có sự tăng lên của NSLĐ cá nhân và tiết kiệm vật tư, nguyên liệu trong
sản xuất.
NSLĐ xã hội không chỉ phụ thuộc vào công cụ lao động, trình độ của người lao
động mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức lao động sản xuất của người lao động, điều
kiện tự nhiên, điều kiện lao động, bầu không khí văn hoá…
2.2. Mối quan hệ giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tăng năng suất
cá nhân dẫn đến tăng năng suất xã hội và tăng năng suất xã hội là Bảng hiện của tăng
năng suất cá nhân.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nói tăng NSLĐ cá nhân dẫn đến tăng
NSLĐ xã hội vì việc hạ thấp chi phí lao động sống nêu rõ đặc điểm tăng NSLĐ cá nhân.
Hạ thấp chi phí cả lao động sống và lao động quá khứ, nêu rõ đặc điểm tăng NSLĐ xã
hội, trong điều kiện làm việc với các công cụ hiện đại, không thể tách rời lao động của
hàng loạt ngành đã tham gia vào sáng tạo ra công cụ hiện đại đó. Mặt khác, trong quản
lý kinh tế, nếu chỉ chú trọng đơn thuần tính theo chỉ tiêu NSLĐ cá nhân (tiết kiệm lao
động sống) sẽ diễn ra hiện tượng coi nhẹ tiết kiệm vật tư, coi nhẹ chất lượng sản phẩm.
Thực tế cho biết có nhiều trường hợp, NSLĐ của một số cá nhân nào đó tăng nhưng
NSLĐ của toàn phân xưởng, toàn doanh nghiệp không tăng, thậm chí giảm. Như vậy,
đã có sự thay đổi giữa lao động sống và lao động quá khứ: lao động sống càng có năng
suất cao hơn thì đòi hỏi sự kết hợp với nhiều lao động vật hoá hơn.
Khi nói về mối quan hệ giữa NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội, Karl Marx viết:
“Giá trị của hàng hoá được quy định bởi tổng số thời gian lao động, lao động quá khứ
và lao động sống đã nhập vào hàng hoá đấy. NSLĐ tăng lên biểu hiện ở chỗ, phần lao
động sống giảm bớt, còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhưng tăng lên như thế
1
Karl Marx – Tư bản, Quyển 1, tập 2 – NXB Sự thật, Hà Nội, 1960,
trang 63.
2
Karl Marx – Tư bản, Quyển 1, tập 1 – NXB Sự thật, Hà Nội, 1960,
trang 70.
Tăng NSLĐ bằng việc tăng thời gian lao động bị hạn chế rất nhiều vì số lượng lao
động, thời gian lao động bị giới hạn về mặt tự nhiên do con người có nhu cầu nghỉ ngơi,
giải trí. Biện pháp này chỉ được áp dụng trong giai đoạn đầu của sự phát triển khi công
cụ lao động còn thô sơ.
Tăng NSLĐ bằng việc tiết kiệm chi phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm được thực hiện dễ dàng nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cải tiến tổ chức
quản lý…
Tăng NSLĐ không phải chỉ là một hiện tượng kinh tế thông thường mà là một quy
luật kinh tế chung cho mọi hình thái kinh tế xã hội. Nhưng điều đó không có nghĩa là,
sự vận động của quy luật tăng NSLĐ của tất cả mọi hình thái xã hội đều giống nhau.
Trái lại, giữa các hình thái xã hội do trình độ của lực lượng sản xuất khác nhau nên biểu
hiện của quy luật tăng NSLĐ không giống nhau.
Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, mức NSLĐ rất thấp, nguyên nhân là sản xuất chỉ
dựa vào sức người và sức động vật, công cụ lao động còn thô sơ, kiểu tổ chức lao động
là roi vọt.
Dưới chế độ phong kiến, NSLĐ đã tăng lên nhưng tăng rất chậm chạp. Vì lẽ, hệ
thống công cụ lao động chủ yếu vẫn là thủ công, ít có sự biến đổi, tổ chức sản xuất phân
tán, phân công lao động xã hội chưa phát triển.
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, dựa vào sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, nền sản
xuất đại công nghiệp phát triển, lao động bằng máy móc thay thế lao động chân tay,
công cụ lao động hiện đại thay cho công cụ thủ công, thô sơ. Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
một NSLĐ cao chưa từng thấy so với các xã hội trước. Nhưng do bản chất của chủ
với việc nâng cao sự thoả mãn của người lao động và tiết kiệm thời gian lao động. Vì
vậy việc nâng cao NSLĐ không chỉ là vấn đề quan tâm của một bộ phận người lãnh đạo
mà còn là vấn đề quan tâm của cả mọi người lao động. Nâng cao NSLĐ cũng có nghĩa
là nâng cao đời sống vật chất của chính bản thân người lao động.
3.4.2. Trong quản lý kinh tế.
Trong phạm vi một quốc gia, tăng NSLĐ quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của đất
nước và được xem như một chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tiêu chuẩn sống. Tăng
NSLĐ quốc gia cũng là chỉ số dùng để so sánh giữa các quốc gia. So sánh mức năng
suất giữa các quốc gia cho thấy nước nào có sức mạnh kinh tế trên thế giới.
Vì vậy, việc tăng năng suất xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đất nước
nhằm củng cố vị trí của nước mình trên trường quốc tế.
Trong phạm vi một tổ chức, một đơn vị, trước hết tăng NSLĐ làm cho giá thành
sản phẩm giảm vì tiết kiệm được chi phí tiền lương trong một đơn vị sản phẩm.
Tăng NSLĐ cho phép giảm được số người làm việc, do đó cũng dẫn đến tiết kiệm
được quỹ lương; đồng thời lại tăng tiền lương cho từng công nhân do hoàn thành vượt
mức sản lượng.
NSLĐ cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ của tổng sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết các vấn đề tích luỹ và tiêu dùng.
Tăng NSLĐ làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Đối với Việt Nam, vấn đề tăng NSLĐ càng có ý nghĩa quan trọng vì lẽ, NSLĐ còn
quá thấp do chưa khai thác hết tiềm năng đã là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu
nhập quốc dân tính trên đầu người hàng năm quá thấp (so với các nước trên thế giới).
Muốn tăng trưởng, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, Việt Nam phải tìm mọi
cách để tăng NSLĐ. Đó là biện pháp nhằm biến Việt Nam thành nước công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Khi nói đến các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ, Karl Marx viết “Sức sản xuất này lại
phụ thuộc vào những hoàn cảnh khác nhau, trong đó có trình độ thành thạo trung bình
của những người lao động, sự phát triển của khoa học và trình độ áp dụng khoa học về
Việc phân tích các yếu tố cho phép rút ra kết luận về tác dụng của từng yếu tố đối
với NSLĐ, phải đặc biệt chú trọng đến vai trò của khoa học kỹ thuật, công nghệ sản
xuất. Đó là yếu tố mạnh nhất làm tăng NSLĐ. Trình độ kỹ thuật của sản xuất biểu hiện
thông qua tính năng của công cụ sản xuất, trình độ sáng chế và sử dụng các đối tượng
lao động, các quá trình công nghệ sản xuất. Tính năng của công cụ sản xuất là mực
thước quan trọng nhất để đo trình độ kỹ thuật sản xuất. Ngày nay, ai cũng thừa nhận
máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ nhất làm tăng NSLĐ, sự phát triển của lực lượng
sản xuất xã hội thường bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy
máy móc thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho máy móc
cũ.
1.2. Các yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người.
Nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn của con người có ý nghĩa to lớn đối với
tăng NSLĐ. Thực ra, đây là một yếu tố không thể thiếu được. Vì rằng, bản thân khoa
học, kỹ thuật ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, sự sáng tạo đưa vào sản xuất các
loại công cụ ngày càng hiện đại, đòi hỏi những người lao động có trình độ chuyên môn
tương ứng, phải luôn học tập nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo. mà nếu thiếu
những yếu tố này, người lao động không thể điều khiển được máy móc, không thể nắm
bắt được các công nghệ hiện đại.
Đi đôi với tiến bộ kỹ thuật, cần nâng cao trình độ quản lý con người. Có thể kể
đến phân công và hiệp tác lao động, sự phân bố hợp lý lực lượng sản xuất và nguồn
nhân lực… đều là các yếu tố làm tăng NSLĐ xã hội. Trong lịch sử, sản xuất máy móc
tăng, phân công lao động phát triển bao giờ cũng dẫn tới nâng cao NSLĐ.
1.3. Các yếu tố gắn liền với điều kiện tự nhiên.
Vai trò của các điều kiện thiên nhiên đối với NSLĐ là khách quan không thể phủ
nhận. Thời tiết và khí hậu của nước nhiệt đới khác các nước ôn đới và hàn đới; do đó ở
các nước khác nhau có những thuận lợi và khó khăn khác nhau trong sản xuất. Tuy
nhiên thời tiết, khí hậu khắc nghiệt đã tác động không nhỏ đến sản xuất, đến NSLĐ.
Trong nông nghiệp, độ phì nhiêu tự nhiên của đất, của rừng, của biển khác nhau đưa lại
sự chênh lệch của cây trồng, năng suất đánh bắt cá, năng suất tăng trưởng và khai thác
Các yếu tố về tổ chức quản lý được Bảng hiện ở phân công lao động, hiệp tác lao động,
tạo động lực trong lao động (tiền lương, tiền thưởng…), mức sản lượng, tổ chức phục
vụ nơi làm việc (về kỹ thuật, về tổ chức…), thái độ cư xử của người quản lý, bầu không
khí tập thể…
2.3. Các yếu tố gắn với điều kiện lao động.
Các yếu tố về điều kiện lao động có tác động gián tiếp tới NSLĐ cá nhân.
Cải thiện điều kiện lao động sẽ tạo điều kiện không những làm tăng NSLĐ mà còn tác
động đến tâm lý, trạng thái của người lao động. Cải thiện điều kiện lao động như điều
kiện về chiếu sáng, tiếng ồn, độ rung, bụi, thông gió, khói, các chất độc hại, khí độc hại,
an toàn lao động… giúp tăng NSLĐ cá nhân.
Như vậy, ta thấy các yếu tố quan hệ đến NSLĐ cá nhân có rất nhiều. Vì thế,
muốn tăng NSLĐ phải quan tâm tới tất cả các yếu tố này. Điều đó đòi hỏi những đầu tư
nhất định để tạo ra được các điều kiện lao động tối ưu; đồng thời đòi hỏi về trình độ
quản lý con người để khai thác các khả năng tiềm tàng của lao động sống. Những kiến
thức đó không phải chỉ gồm có các môn về kinh tế và tổ chức mà đã mở rộng ra cả các
môn học về tâm lý, xã hội học lao động, kỹ thuật an toàn lao động và vệ sinh lao động.
Ngoài ra, nếu ta quan niệm, việc tái tạo lại sức lao động là nằm trong cả quá trình
tái sản xuất liên tục, không ngắt quãng của tái sản xuất sản phẩm và sức lao động thì
việc ăn uống, vui chơi, giải trí, học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, điều kiện và
phương tiện đi lại… đều phải được tính đến, phải được tổ chức tốt ở bên ngoài doanh
nghiệp để phục vụ cho con người. Tất cả những dịch vụ này sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp
làm tăng (hoặc giảm) NSLĐ cá nhân của người công nhân trong doanh nghiệp. Vì vậy,
không thể coi nhẹ các yếu tố này khi đề cập vấn đề tăng NSLĐ cá nhân.
Tóm lại, cho dù có xét các yếu tố chi tiết thế nào đi nữa, xét đến cùng, bao giờ
chúng ta cũng phải giảm được các chi phí về thời gian lao động dùng để sản xuất ra một
đơn vị sản phẩm.
III. Mối quan hệ giữa tăng Năng Suất Lao động với cường độ lao động, tiền lương,
hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh.
1. Tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động.
mà cũng tạo ra nhiều giá trị hơn, vì lúc đó, số sản phẩm trội lên là do lao động trội ra mà
có.”
7
. Như vậy ta thấy cả hai trường hợp, sức sản xuất đều tăng lên, nhưng trường hợp
thứ nhất không cần tăng thêm chi phí lao động, còn trường hợp thứ hai chính là do tăng
thêm các chi phí này.
Tuy nhiên, hai khái niệm NSLĐ và cường độ lao động không hoàn toàn tách rời
nhau (mặc dù chúng không giống nhau). Vì rằng, cường độ lao động cũng là một yếu tố
làm tăng NSLĐ. Trước kia do công cụ còn thô sơ, để tăng NSLĐ, người công nhân phải
làm việc nặng nhọc, vất vả (cường độ lao động cũng tăng). Nhưng khi xã hội phát triển,
máy móc hiện đại, ngày nay, cùng với việc tăng NSLĐ thì cường độ lao động không
tăng, thậm chí giảm. Lao động theo mức cường độ xã hội bình thường, có nghĩa là, sau
khi làm việc, với cường độ đó được nghỉ ngơi với mức cần thiết và đầy đủ, sẽ không
còn lại một hậu quả xấu nào trong cơ thể người lao động. Karl Marx gọi đó là “cường
độ tiêu chuẩn lao động quốc dân và không còn được tính đến nữa.”
8
2. Tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Theo cách hiểu chung nhất ở Việt Nam hiện nay, hiệu quả là mối quan hệ giữa
nhân tố đầu vào và nhân tố đầu ra. Tuy nhiên, nhắc đến hiệu quả kinh doanh xã hội
trong đó các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp không chỉ phản ánh kết quả của mình
thông qua các chỉ tiêu tài chính mà còn thông qua những kết quả xã hội mà hoạt động
đó đưa lại. Để đánh giá hiệu quả, chúng ta thường đưa ra một khái niệm NSLĐ xã hội
và nó được dùng làm tiêu chuẩn đánh giá mức độ hiệu quả. Việc nâng cao NSLĐ góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế.
6
Karl Marx – Tư bản, Quyển 1, tập 2 – NXB Sự thật, Hà Nội, 1960,
trang 63.
7
tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng sức mạnh kinh tế của
các nước, GDP trên đầu người tăng lên, tiêu chuẩn sống được nâng cao, tăng khả năng
đầu tư vào tài sản và quá trình. Điều đó lại tạo điều kiện cho tăng NSLĐ và nó lại tiếp
tục làm tăng khả năng cạnh tranh. Đây là mối quan hệ trong trạng thái động phát triển
không ngừng.
Có thể nói rằng, năng suất thấp đồng nghĩa với lãng phí, giảm quy mô kinh doanh.
Việc tăng NSLĐ sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng lợi nhuận, thu
nhập của người lao động, các điều kiện sống và làm việc tốt hơn. Tăng NSLĐ là kết quả
của giảm giá nhằm bù đắp phần tăng chi phí, duy trì lợi nhuận, tăng cạnh tranh. Sự thay
đổi lợi nhuận phụ thuộc vào hai nhân tố: tăng NSLĐ bù đắp giá và giảm giá trị đồng
tiền. Nhưng lợi thế do giảm giá trị đồng tiền sẽ không tồn tại được lâu và mất đi nhanh
chóng. Vì vậy, để đảm bảo tồn tại và phát triển (tức là tăng khả năng cạnh tranh) thì cần
không ngừng tăng NSLĐ.
4. Mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động với tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Nói chung, nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng NSLĐ và tăng việc làm.
Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy rằng, nếu có khả năng tổ chức phát triển
tốt, tăng NSLĐ không dẫn đến giảm việc làm mà ngược lại, hầu hết các nứơc có trình
độ NSLĐ cao lại là những nước giải quyết tốt vấn đề việc làm. Mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế với tăng NSLĐ và việc làm có thể được minh hoạ như sau:
Chẳng hạn GDP có thể được viết dưới dạng:
Nhưng: Do đó: GDP = NSLĐ
ULC =
Tổng chi phí lao động
Tổng sản phẩmChia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC =
Tổng chi phí lao động
Lao động
:
Tổng sản phẩm
Lao động
Ta có thể viết:
Tốc độ tăng chi phí cho một
đơn vị sản phẩm
=
Tốc độ tăng tiền
lương bình quân
-
Tốc độ tăng năng suất
lao động
Để tăng tính cạnh tranh, thì tốc độ tăng chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm
phải giảm dần. Có nghĩa là tốc độ tăng NSLĐ phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương.
5.2. Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của tổng năng suất chung.
Một mặt, tăng NSLĐ có phần đóng góp của người lao động như nâng cao trình độ
lành nghề, nâng cao kiến thức, tổ chức kỷ luật, sáng tạo… Tuy nhiên NSLĐ cá nhân và
xã hội còn tăng lên do các nhân tố khách quan khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp
lý tài nguyên…) Như vậy, tốc độ tăng NSLĐ rõ ràng có khả năng khách quan lớn hơn
: chỉ số năng suất giữa hai thời kỳ thực hiện/kế hoạch (hoặc kế
hoạch/báo cáo).
IV. Chỉ tiêu và phương pháp phân tích năng suất lao động
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động
Có nhiều loại chỉ tiêu để tính NSLĐ, nhưng dùng loại chỉ tiêu nào còn tuỳ thuộc
vào việc lựa chọn một thước đo cho thích hợp với đặc điểm của từng doanh nghiệp.
Hiện nay, người ta thường dùng 3 loại chỉ tiêu tính NSLĐ sau:
1.1. Chỉ tiêu năng suất lao động tính bằng hiện vật.
Chỉ tiêu này dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm (đơn vị tính kg, m
2
,
m
3
…) để biểu hiện mức NSLĐ của một công nhân (hay một công nhân viên).
Công thức tính:
Trong đó: W: mức NSLĐ của một công nhân (hay một công nhân viên).
Q: Tổng sản lượng tính bằng hiện vật.
T: Tổng số công nhân (hay công nhân viên).
Ưu điểm:
▫ Đánh giá trực tiếp được hiệu quả lao động.
▫ Biểu hiện mức NSLĐ một cách cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng
của biến động giá cả.
▫ Thích hợp với các nhóm, tổ, đội chỉ sản xuất 1 loại sản phẩm.
▫ Có thể so sánh được trực tiếp NSLĐ tại xí nghiệp, các đơn vị có cùng 1 loại
sản phẩm, hoặc có thể so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau khi có cùng
loại sản phẩm.
Nhược điểm:
▫ Chỉ dùng để tính cho 1 loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể dùng
▫ Đây là chỉ tiêu thông dụng nhất, có khả năng tính cho nhiều loại sản phẩm
khác nhau, khắc phục được nhược điểm chỉ tiêu tính bằng hiện vật. Phạm vi
sử dụng của nó rộng hơn từ doanh nghiệp đến ngành rồi giữa các ngành và
nền kinh tế quốc dân. Có thể dùng để so sánh mức NSLĐ giữa các doanh
nghiệp, giữa các ngành với nhau.
Nhược điểm:
▫ Không khuyến khích tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ.
▫ Chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản lượng theo phương pháp công
xưởng. Nếu sản phẩm hiệp tác với ngoài nhiều cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ
làm sai lệch mức NSLĐ của bản thân doanh nghiệp.
▫ Chỉ dùng trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản xuất không thay đổi
(hoặc ít thay đổi) vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch
mức và tốc độ tăng NSLĐ.
1.3. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
(hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện NSLĐ. Giảm chi phí lao động cho một
đơn vị sản phẩm dẫn tới tăng NSLĐ.
T
Q
W Công thức tính:
Trong đó: L: Lượng lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm (tính bằng
đơn vị thời gian).
T: Thời gian lao động đã hao phí.
Q: Số lượng sản phẩm (hoặc giá trị).
Lượng lao động này được tính bằng cách tổng hợp chi phí thời gian lao động của
các bước công việc, các chi tiết sản phẩm (đơn vị dùng để tính – T: giây, phút, giờ).
u im:
Phn ỏnh c c th mc tit kim thi gian lao ng sn xut ra sn phm.
Nhc im:
Tớnh toỏn khỏ phc tp, khụng dựng tớnh tng hp c NSL bỡnh quõn ca
mt ngnh hay mt doanh nghip cú nhiu loi sn phm khỏc nhau.
Ngoi ra, trong qun lý ngi ta phõn bit cỏc loi NSL tớnh theo nm, thỏng,
ngy, gi.
tế thực việc làm ngờingày Số
thu) doanh Tổng (hay lợng nsả trị giá Tổng
NSLĐ
ngày
tế thực việc làm ngời giờ Số
thu) doanh Tổng (hay lợng nsả trị giá Tổng
NSLĐ
giờ
2. Phng phỏp phõn tớch nng sut lao ng trong doanh nghip.
Ngi lao ng luụn mun hiu qu lao ng ca mỡnh ngy mt tng, ngha l
NSL khụng ngng tng lờn. Do ú phõn tớch NSL nhm mc tiờu nõng cao NSL.
Tt c s bin ng u cú th biu din tng quỏt di hai dng: s bin ng tuyt i
v s bin ng tng i. Vic phõn tớch nhm mc ớch tỡm ra nguyờn nhõn gõy nờn
s bin ng v vai trũ tỏc ng ca tng nguyờn nhõn.
Phân tích sự biến động này cho phép biểu hiện tính quy luật biến động của mức
NSLĐ thông qua các chỉ tiêu tăng, giảm tuyệt đối và tương đối. Từ đó nó cho phép dự
0
: Mức NSLĐ kỳ trước (hoặc kỳ kế hoạch).
▫ Tốc độ tăng NSLĐ:
Trong đó: T
w
: Tốc độ tăng NSLĐ (%)
2.2. Nội dung phân tích.
Nội dung của việc phân tích bao gồm:
▫ Phân tích chung tình hình NSLĐ, cụ thể sự biến động về mức NSLĐ giờ, ngày,
năm.
▫ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động này.
100
0
01
W
WW
T
W
0
1
W
W
T
W