LUẬN VĂN:Phân tích cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Phân tích cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
của công ty dệt Minh Khai
Lời mở đầu

Trong quá trình hội nhập nề kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu đang rất
được Nhà nước cũng như nhiều doanh nghiệp quan tâm. Xuất khẩu không những đem lại
nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, mà còn giảI quyết hàng triệu công ăn việc làm cho
người lao động, thức đẩy các ngành khác phát triển.
Ngành dệt may ngày nay đang là một trong những ngành xuất khẩu chính của toàn
bộ các ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp dệt may được đánh giá có vai trò rất quan
trọng trong sự phát triển của đất nước.
Công ty dệt Minh Khai là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu đứng đầu của

Hình thức pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước
Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất khăn mặt và khăn tắm, màn tuyn
Điện thoại: 84-4-8624002
Fax: 84-4-8624255
1.1.2. Lịch sử hình thành của công ty:
Công ty dệt Minh Khai là một trong những đơn vị chủ lực của ngành công nghiệp
Hà Nội , thuộc sự quản lý của sở công nghiệp Hà Nội. Trước khi thành lập công ty có tên
là Nhà máy dệt khăn mặt khăn tay.
Công ty được khởi công xây dựng từ cuối những năm 60 - đầu những năm 70 của
thế kỷ 20 - đây là thời kỳ cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở Miền Bắc Việt Nam
đang ở giai đoạn ác liệt nhất. Vì vậy, việc xây dựng công ty có những thời gian bị gián
đoạn và phải dời đi sơ tán ở những địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Nội. Đến đầu
những năm 70, công ty chuyển về đóng trụ sở tại địa bàn phía Đông Nam thành phố Hà
Nội.
Năm 1974, Công ty cơ bản được xây dựng xong và chính thức được thành lập theo
quyết định của UBND thành phố với tên gọi là Nhà máy dệt khăn mặt khăn tay. Cũng
năm đó nhà máy đi vào sản xuất thử và đến năm 1975 công ty chính thức nhận kế hoạch
của nhà nước giao. Đến năm 1983, công ty đổi tên thành: Nhà máy dệt Minh Khai.
Năm 1992, công ty được thành lập lại theo quyết định số 338/TTg của thủ tướng
chính phủ với số vốn là 8,680 tỷ đồng, trong đó:
- Vốn ngân sách cấp: 1,300 tỷ đồng
- Vốn huy động (vay): 7,380 tỷ đồng

Năm 1994, để thuận tiện trong giao dịch sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị
trường, nhà máy đổi tên thành Công ty dệt Minh Khai.
Đến 2004, công ty dệt Minh Khai đã đạt đến quy mô:
 Diện tích mặt bằng: gần 4 ha
 Công ty gồm 4 phân xưởng sản xuất, 5 phòng chức năng, với tổng số cán bộ
công nhân viên trong danh sách 1061 người.
 Số ngày làm việc trong năm: 350 ngày

hoàn thiện dây chuyền sản xuất được tiếp tục, năng lực sản xuất được tăng thêm, lao động
được bổ sung, năng suất lao động và doanh thu ngày càng tăng.
* Giai đoạn 1981-1989:
Đây là thời kỳ phát triển cao của công ty. Những năm này, công ty được thành phố
đầu tư thêm cho một dây chuyền công nghệ dệt kim đan dọc của CHDC Đức (cũ) để dệt
các loại vải tuyn, rèm, valide. Như vậy, về mặt sản xuất, công ty đã được giao cùng một
lúc quản lý và triển khai thực hiện 2 quy trình công nghệ dệt khác nhau là dệt kim đan
dọc và dệt thoi. Công ty cũng đã tập trung đầu tư chiều sâu, đồng bộ hoá dây chuyền sản
xuất, bằng mọi phương pháp kinh tế và kỹ thuật đưa dần toàn bộ máy móc thiết bị ở khâu
đầu dây chuyền sản xuất như: nồi hơi, nồi nấu áp lực, máy nhuộm, máy sấy sợi đi vào
hoạt động, phục vụ cho sản xuất. Nhờ đó công ty đã chấm dứt được tình trạng khâu đầu
của sản xuất phải làm thủ công và đi thuê ngoài gia công.
Cũng trong thời kỳ này, để tháo gỡ những khó khăn về vấn đề nguyên vật liệu và thị
trường tiêu thụ, chủ động sản xuất kinh doanh, công ty đã chỉnh hướng sản xuất kinh
doanh từ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa sang lĩnh vực sản xuất phục vụ
cho xuất khẩu là chủ yếu (xuất khẩu sang cả 2 thị trường XHCN và TBCN). Năm 1981,
thông qua công ty xuất nhập khẩu hàng dệt TEXTIMEX, công ty đã ký hợp đồng xuất
khẩu dài hạn sang CHDC Đức và Liên Xô (cũ). Năm 1983, công ty bắt đầu sản xuất khăn
ăn xuất khẩu cho thị trường Nhật Bản với sự giúp đỡ của UNIMEX Hà Nội, và từ đó đến
nay, lượng hàng xuất khẩu sang thị trường này ngày càng lớn, thị phần của công ty trong
thị trường Nhật Bản ngày càng tăng. Đặc biệt từ năm 1988, công ty được Nhà nước cho
phép thực hiện xuất khẩu trực tiếp, trở thành công ty đầu tiên ở miền Bắc được Nhà nước
cho phép làm thí điểm về xuất nhập khẩu trực tiếp sang thị trường nước ngoài.
Trong thời kỳ 1981-1989, mức tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh của công ty
luôn ở mức cao (từ 9-11%/năm) , đặc biệt là chỉ tiêu xuất khẩu.
* Giai đoạn 1990 đến nay:
Những năm 90, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế quản lý mới theo tinh thần
nghị quyết Đại hội VI - VII của Đảng. Tình hình chính trị trên thế giới cũng có nhiều biến

động. Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ, các quan hệ bạn hàng


để thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong hơn 20 năm, công ty đã chế thử được hơn 300 mẫu
sản phẩm và đã đưa vào sản xuất trong đó 100 mẫu được khách hàng chấp nhận.
Trên đây là sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty dệt Minh Khai.
Với lịch sử phát triển của mình, công ty dệt Minh Khai đã đạt được một số thành tựu lớn,
đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta, hoàn thành nghĩa vụ đối với
nhà nước, xứng đáng là một công ty lớn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân và thành phố Hà Nội .
1.2. Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến cơ cấu sản phẩm
xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai :
1.2.1. Tính chất và nhiệm vụ sản xuất:
Công ty dệt Minh Khai là một công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu các loại khăn
bông, áo choàng tắm, màn tuyn và vải tuyn, đồng thời đáp ứng một phần nhu cầu tiêu
dùng trong nước. Sản phẩm của công ty được sản xuất hàng loạt trên dây chuyền với số
lượng lớn, kiểu dáng phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc do phòng kỹ thuật thiết kế trên
máy vi tính.
Công ty không đặt ra kế hoạch sản xuất trong thời gian dài mà đề ra kế hoạch theo
năm, năm trước đặt kế hoạch cho năm sau trên cơ sở phân tích năng lực sản xuất hiện có
của công ty về các mặt vốn, công nghệ, lao động Bên cạnh đó công ty cũng căn cứ vào
tình hình tiêu thụ sản phẩm của năm trước và những biến động trên thị trường.
Việc xuất khẩu chủ yếu của công ty là làm theo đơn đặt hàng và Nhật Bản là một
trong những khách hàng chính của công ty nên tính chất và nhiệm vụ sản xuất khó ổn
định. Thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt làm cho công tác lập kế
hoạch của công ty gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, do khách hàng chủ yếu của công ty là
các bạn hàng Nhật Bản cộng với sự cạnh tranh gay gắt nên vấn đề đa dạng hoá sản phẩm,
mẫu mã, chủng loại, cải tiến chất lượng và giá cả phù hợp với người tiêu dùng là nhiệm
vụ trọng tâm xuyên suốt quá trình sản xuất và kinh doanh của công ty. Với một môI
trường cạnh tranh khốc liệt việc lựa chọn một cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là tương đối
khó và cần được thực hiện từng bước nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.2.2. Đặc điểm về sản phẩm và cơ cấu sản phẩm của công ty:

dùng và còn phục vụ cho nhu cầu quảng cáo, khuyến mãi các sản phẩm khác như: dầu gội
đầu, sứ vệ sinh, dụng cụ thể thao
+ Bộ khăn dùng cho khách sạn bao gồm khăn tắm, khăn mặt, khăn tay, thảm chùi

chân, và áo choàng tắm. Công ty có hợp đồng cung cấp loại sản phẩm này cho gần 100
khách sạn tại Nhật Bản thông qua các công ty thương mại Nhật Bản là ASAHI, HOUEI,
DAIEI, VINASEIKO, DAIWABO, FUKIEN, FUJIWARA Ngoài ra, các khách sạn
trong nước nhất là các khách sạn liên doanh với nước ngoài tại các thành phố Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh cũng đặt hàng tại công ty.
- Các loại vải sợi bông sử dụng để may lót và may mũ giày phục vụ cho các cơ sở
may xuất khẩu như: giày Ngọc Hà, may X40.
- Với sản phẩm vải màn tuyn, công ty sản xuất từ nguyên liệu 100% sợi PETEX nên
đảm bảo cho màn tuyn có độ bền cao và chống được oxy hoá gây vàng màn. Loại sản
phẩm này mới được đưa vào sản xuất trong công ty hơn 10 năm, nên khối lượng sản xuất
ra chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Ngoài ra công ty cũng ký các hợp đồng xuất khẩu màn
tuyn sang các nước Châu Phi theo chương trình phòng chống sốt rét của Liên Hợp Quốc.
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu gồm các loại sản phẩm chính sau:
 Khăn Jacquard
 Khăn ăn các loại
 Khăn dobby
 áo choàng tắm
 màn tuyn
1.2.3. Đặc điểm thị trường xuất khẩu của công ty:
Thị trường tiêu thụ chính của công ty dệt Minh Khai là thị trường nước ngoài với
lượng sản phẩm chiếm khoảng 90% số lượng sản phẩm sản xuất. Trong đó thị trường
xuất khẩu truyền thống của công ty là các khách hàng Nhật Bản (chiếm 85% số lượng sản
phẩm xuất khẩu ), còn 5% là xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu và Châu á và các thị
trường khác .
Trước đây sản phẩm của công ty chỉ xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô
cũ là chính Song từ khi hệ thống Xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở những nước này thì công ty

bông không vì thế mà giảm đi, trái lại vì đây là mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày của người dân Nhật Bản nên sức tiêu thụ hầu như vẫn giữ ở mức ổn định. Tuy
nhiên giá cả có xu hướng giảm xuống. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới doanh số
bán hàng của công ty trên thị trường Nhật Bản.
Hơn nữa, hiện nay trên thị trường Nhật Bản công ty đang phải đối mặt với sự cạnh
tranh khốc liệt của các công ty sản xuất khăn bông Trung Quốc và của một số nước Đông
Nam á trong đó đặc biệt là từ Trung Quốc: sản phẩm khăn bông của công ty và sản phẩm

khăn bông của Trung Quốc tuy có chất lượng tương đương nhau, nhưng Trung Quốc lại
có lợi thế giá rẻ, do đó làm cho tốc độ tiêu thụ sản phẩm của công ty trên thị trường Nhật
Bản giảm xuống hẳn, gây ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu của công ty.
2.3.2. Thị trường EU:
EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của VN, trên 40%
hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là xuất sang EU. Nhờ có hiệp định buôn bán dệt
may mà số lượng hàng dệt may xuất khẩu sang EU tăng lên nhanh chóng, cơ hội mở rộng
xuất khẩu sang EU đang mở ra đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
EU là thị trường rộng lớn gồm 15 quốc gia với hơn 375 triệu người tiêu dùng, nên
nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng, phong phú. Đặc biệt với mặt hàng dệt may thì nhu cầu
càng đa dạng. Tuy có sự khác biệt về tập quán và thị hiếu tiêu dùng giữa thị trường các
quốc gia, song 15 nước trong khối EU đều nằm trong khu vực Tây Âu và Bắc Âu nên có
những nét tương đồng về kinh tế và văn hoá.Trình độ phát triển của những nước này khá
đồng đều nên người dân EU có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng.
Đối với mặt hàng dệt may, khách hàng EU rất quan tâm tới chất lượng và thời trang,
do đó yếu tố này có khi lại quan trọng hơn yếu tố giá cả. Người tiêu dùng EU có sở thích
và thói quen tiêu dùng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới, vì họ cho rằng những nhãn
hiệu này gắn liền với chất lượng và uy tín lâu đời nên sử dụng những mặt hàng này có thể
yên tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng. Những sản phẩm của các nhà sản
xuất ít danh tiếng hay những nhãn hiệu ít người biết đến sẽ rất khó tiêu thụ trên thị trường
EU. Mức sống của người tiêu dùng trong cộng đồng EU tương đối đồng đều và ở mức
cao nên tiêu dùng của họ rất cao cấp, yêu cầu khắt khe về chất lượng và độ an toàn, giá cả

STAUBLI và đầu Dobby STAUBLI của Thuỵ Sĩ, đây là loại thiết bị dệt khăn bông hiện
đại lần đầu tiên được lắp đặt và sử dụng tại Việt Nam. Đồng thời công ty đã đầu tư một
hệ thống thiết kế CAD/CAM trên máy vi tính, sử dụng phần mềm chuyên ngành của hãng
NEDGRAPHICS – Hà Lan để thiết kế những mẫu khăn Jacquard.
ở các phân xưởng công ty đều đầu tư thêm những máy móc thiết bị mới. Nhờ có sự
đầu tư thêm máy móc thiết bị mà trình độ công nghệ của công ty ngày càng nâng cao.
Từ khi mới thiết lập, trình độ công nghệ mới chỉ ở mức thủ công và cơ khí, đến nay
trình độ công nghệ của công ty mới chỉ ở mức trung bình so với trong khu vực nhưng
nhiều bộ phận đã đạt được trình độ công nghệ tự động hoá.Từ khi mới thành lập năm
1975, công ty chỉ có 260 máy dệt thoi khổ hẹp do Trung Quốc viện trợ. Sau đó công ty đã
từng bước đầu tư cả về chiều sâu vầ chiều rộng nên đã có một hệ thống thiết bị tương đối

hoàn chỉnh. Do vậy công ty đã lắp đặt được một số thiết bị của Nhật Bản, Đức, ý
…chuyển từ trình độ công nghệ mức thủ công và cơ khí đến trình độ công nghệ ở mức
trung bình và một số bộ phận đã được tự động hoá. Điều này đã tạo điều kiện cho công ty
nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, sản xuất được các sản phẩm cao cấp
và trung bình phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu. Cụ thể hiện nay số máy
móc thiết bị của công ty như sau:

Bảng 1.1. Tình hình trang bị máy móc thiết bị hiện có của công ty dệt Minh Khai
Loại máy Số lượng
(cái)
Khổ máy
rộng(cm)
Xuất sứ
(nước)
Máy dệt thoi 1511B và 1511S 300 175 Trung Quốc

việc nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.Không những thế đó còn
là tiền đề vật chất kỹ thuật quan trọng trong sự phát triển của công ty trong chiến lược lâu
dài đẩy mạnh hoạt động sản xuất của công ty ra các nước khác và mở rộng thị trường nội
địa.
Tính đến cuối năm 2002 tổng giá trị tài sản cố định của công ty là 35 tỷ đồng.
Vào cuối năm 2004, công ty đã cho nhập thêm một số máy móc mới hiện đại nhập
từ Trung Quốc với giá trị lên tới hàng tỷ đồng và công ty đang tiến hành xây dựng thêm
nhà xưởng để có thể đưa công nghệ mới vào sử dụng trong thời gian tới.
Bảng 1.2. Giá trị đầu tư năm 2004 (triệu đồng)
Ch
ỉ tiêu

Giá tr


- thiết bị 11,000
- xây dựng cơ bản khác 1,000
Tổng đầu tư 12,000

2.5. Đặc điểm về nguyên vật liệu sản xuất
Nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất của công ty chủ yếu là các loại sợi, trong đó
sợi bông để sản xuất khăn bông và áo choàng tắm chiếm 50%, 45% cho sợi PETEX sản
xuất ra màn tuyn và vải tuyn và các loại hợp chất, thuốc nhuộm. Tất cả các nguyên vật
liệu này chủ yếu được nhập khẩu từ các nước như ấn Độ, Pakistan, Indonexia, Nhật, Thuỵ
Sỹ lượng này thường chiếm 70-80% nhu cầu đầu vào của công ty, còn lại được cung
cấp từ thị trường trong nước. Cấc cơ sở trong nước thường cung cấp nguyên liệu sợi
100% Cotton cho công ty bao gồm; công ty dệt 8-3, công ty dệt Hà Nội công ty dệt 19/5,
công ty dệt Vĩnh Phú, công ty dệt Huế, công ty dệt Nha Trang.
Sở dĩ công ty phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên vật liệu đầu vào từ nước ngoài
như vậy là do yêu cầu của sản phẩm công ty sản xuất ra chủ yếu là để xuất khẩu nên sản

Chỉ tiêu Số lượng (người)
Lao động có trong danh sách 1190
Lao động có việc làm 1061
Nghỉ theo chế độ 105
Nghỉ vì lý do khác 24
Nguồn: Phòng tổ chức- Công ty dệt Minh Khai
Bảng 1.4 : Cơ cấu lao động của công ty dệt Minh Khai
Chỉ tiêu Người %
1. Tổng số cán bộ CNV
Lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp
Lao động nữ
2. Tuổi đời bình quân
1061
981
80
840
32
100
92.5
7,5
79
Nguồn : Phòng tổ chức- Công ty dệt Minh

Bảng 1.5 : Chất lượng lao động trực tiếp sản xuất
STT Tay nghề
SL
(người)
Tỷ lệ (%)
1

công ty là tương đối cao. Điều này thực hiện thông qua bảng 2. Lao động nữ có đặc điểm
cần cù, khéo léo, chăm chỉ nên năng suất lao động cao, song những đối tượng lao động
này có một đặc điểm khác biệt đó là họ cần có thời gian nghỉ phép để sinh đẻ, chăm sóc
con cái đau ốm. Đây là một hạn chế của đối tượng lao động này. Mặc dù vậy, công ty dệt
Minh Khai vẫn tạo mọi điều kiện cho đội ngũ lao động để họ có thể phát huy tối đa khả
năng làm việc.
Trình độ của đội ngũ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất của
công ty dệt Minh Khai. Lao động trực tiếp sản xuất có tay nghề bậc thợ càng cao thì sản
phẩm công ty sản xuất ra mới đạt được yêu cầu xuất khẩu. Sản phẩm chất lượng càng cao
thì lượng xuất khẩu được càng nhiều. Cán bộ quản lý trong công ty cũng đóng vai trò rất
lớn trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty thông qua hoạt động giao dịch,
đàm phán ký kết các hợp đồng xuất khẩu. Công ty dệt Minh Khai chủ yếu dựa vào các
hợp đồng xuất khẩu trực tiếp. Giám đốc công ty là người quyết định việc xuất khẩu, ký
kết hợp đồng xuất khẩu với các bạn hàng nước ngoài.Trình độ cán bộ công ty hiện nay:

 Đại học: 5.4% Tổng cán bộ- công nhân viên
 Công nhân bậc cao: 42% Tổng cán bộ- công nhân viên
Hiện nay, công ty dệt Minh Khai rất chú trọng quan tâm tới việc bồi dưỡng, đào tạo,
nâng cao chất lượng đội ngũ lao động. Những lao động quản lý có bằng cấp, lao động có
trình độ tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm ngày càng tăng và chiếm một tỷ trọng khá cao
trong số lao động của công ty.
2.7. Đặc điểm cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý của công ty:
2.7.1. Cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu của công ty. Mặc
dù các yếu tố sản xuất khác nhau đã chuẩn bị tốt và đầy đủ nhưng nếu cơ cấu sản xuất
không hợp lý sẽ gây lãng phí nguồn lực, và không đảm bảo cho việc thực hiện đúng thời
hạn hợp đồng xuất khẩu quy định.
Cơ cấu sản xuất của công ty thể hiện thông qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ cơ cấu sản xuất của công ty:


-Phân xưởng tẩy nhuộm:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn nấu, nhuộm, sấy khô và đóng hìnhcác loại
khăn, sợi và vải màn tuyn theo quy trình công nghệ sản xuất vải màn tuyn và mặt hàng
khăn bông xuất khẩu.
- Phân xưởng hoàn thành:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn cắt may, kiểm đóng gói, đóng kiện các sản
phẩm khăn bông, và cắt kiểm các loại vải tuyn, vải nối cùng quy trình công nghệ sản xuất
các mặt hàng.
Bốn phân xưởng này được bố trí theo yêu cầu của dây chuyền công nghệ sản xuất
sản phẩm. Do vậy các phân xưởng có mối quan hệ qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Riêng hai
phân xưởng là phân xưởng dệt và phân xưởng dệt thoi thì có sự độc lập nhau, do những
phân xưởng này có một quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm riêng biệt, song vẫn chịu
sự quản lý chung.
Với cơ cấu sản xuất như trên tuỳ theo tình hình hoạt động cụ thể mà công ty có kế
hoạch tổ chức, sản xuất, bố trí hợp lý các tổ sản xuất trong các phân xưởng và các bộ
phận phụ hợp lý bảo đảm dây chuyền sản xuất hoạt động cân đối nhịp nhàng và liên tục.
Có thể nói cơ cấu tổ chức sản xuất này đã giúp đỡ cho công ty có điều kiện chuyên
môn hóa và hợp tác hoá giữa các bộ phận một cách có hiệu quả, đồng thời tạo ra khả năng
tự chủ và quản lý sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm, khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng doanh thu và
doanh lợi cho công ty.
2.7.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
Trong thời kỳ bao cấp bộ máy quản lý của công ty rất cồng kềnh, kém hiệu quả.
Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, công ty đã tiến hành cải tổ, đổi mới bộ
máy quản lý làm cho nó gọn nhẹ và phù hợp với cơ chế mới. Một cơ cấu tổ chức hợp lý
gọn nhẹ sẽ tạo nên một môi trường nội bộ công ty thuận lợi cho công việc của công nhân
và các bộ phận khác. Nó tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu của công ty được diễn ra
thuận lợi.
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty hiện nay được tổ chức như sơ đồ 2.


Phó giám đốc

s
ản xuất

Phó giám đốc
k
ỹ thuật

Phòng

KH
TT

Phòng

Tài vụ

Phòng

HC
Y t
ế

Phòng

TC
BV

Phòng

công ty. Năm 2000 công ty đã triển khai xây dựng và từng bước thực hiện hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 cùng với sự giúp đỡ của trung tâm năng
suất chất lượng Việt Nam (VPC) và đã áp dụng thành công, được tổ chức GLOBAL của
Anh cấp chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời, có 270 cán bộ công nhân viên được đào
tạo nâng cao tay nghề và trình độ đảm bảo yêu cầu sản xuất và quản lý Do đó các sản
phẩm khăn bông của công ty đã đáp ứng được đầy đủ các thông số kỹ thuật đảm bảo cho
chất lượng sản phẩm làm ra có độ bền cao, mịn, dễ thấm nước, độ dày mỏng khác nhau
phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy công ty có thể duy trì, mở rộng quan
hệ lau dài với thị trường Nhật Bản và tin tưởng rằng trong tương lai công ty sẽ có thị phần
trên thị trường khác.
2.8.2.Cam kết chất lượng:
1. Liên tục cải tiến mẫu mã để đổi mới sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị
trường
2. Cung cấp những sản phẩm có chất lượng thoả mãn yêu cầu của khách hàng
3. Liên tục cải tiến hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượn phù hợp với :
 Yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2000
 Yêu cầu phát triển của công ty

 Sự phát triển của thị trường trong nước và quốc tế
1.3 .Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
1.3.1.Kết quả kinh doanh:
Nhiệm vụ ban đầu khi mới thành lập của công ty là phục vụ cho nhu cầu nội địa.
Song kể từ khi được nhà nước cho phép xuất nhập khẩu trực tiếp công ty đã chuyển
hướng sản xuất kinh doanh sang xuất khẩu là chính. Thời gian đầu công ty chủ yếu xuất
sang các nước Đông Âu nhưng bước sang những năm đầu của thập kỷ 90 do những biến
động lớn về chính trị trên thị trường truyền thống của công ty. Khi chủ nghĩa xã hội sụp
đổ, tình hình kinh tế các nước Đông Âu rối loạn và suy sụp các quan hệ bạn hàng của
công ty với các nước này không thể tiếp tục duy trì được nữa khiến cho công ty bị mất đi
một thị trường quan trọng và truyền thống.
Cũng từ năm 1983 công ty cũng bắt đầu xuất khẩu khăn ăn sang thị trường Nhật

Doanh thu xuất khẩu 56.500 53.400 68.800 68.920 73.540
Doanh thu thuần 63.800 65.970 76.600 50.500 87.950
Giá vốn hàng bán 55.800 58.340 67.700 71.100 78.900
Lợi nhuận gộp 8.000 7.630 8.900 9.400 9.050
Chi phí bán hàng 2.870 2.670 4.140 3.700 3.870
Chi phí QLDN 3.700 3.500 2.670 2.800 2.910
Lợi nhuận từ hoạt động KD 1.430 1.460 2.090 2.900 2.270
Lợi nhuận trước thuế 1.460 1.552 1.220 2.800 2.900
Lợi nhuận sau thuế 992,8 1.053,3 829.6 1.904 2.180
Nguồn: Phòng Tài vụ- Công ty Dệt Minh Khai
Tổng doanh thu năm 2004 tăng so với năm 2003 là 9.069%, từ 2000 đến 2004
doanh thu tăng 38.435%. Như vậy, tổng doanh thu của công ty cũng liên tục tăng qua các
năm nhưng với mức độ còn thấp và với tốc độ cũng không đồng đều.
Doanh thu hàng xuất khẩu luôn chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng doanh thu của doanh
nghiệp: năm 2003 doanh thu xuất khẩu chiếm 84.121%, năm 2004 chiếm 82.296%.
Doanh thu xuất khẩu năm sau luôn tăng so với năm trước: năm 2003 tăng 0.17% so với
năm 2002, năm 2004 tăng 6.7% so với năm 2003.
Chi phí quản lý doanh nghiệp đã giảm dần qua các năm, điều này sẽ giúp cho doanh
nghiệp giảm được chi phí gián tiếp từ đó tăng thêm doanh thu.

Trong thời gian gần đây, hoạt động bán hàng đã được quan tâm nhiều hơn thể hiện
rõ trong việc tăng chi phí bán hàng.
Cụ thể ta xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua các mặt hàng
Bảng 1.7: Kết quả sản xuất các mặt hàng của công ty
Chỉ tiêu Đơn vị
Năm
2000
Năm
2001
Năm

quychuẩn
1000cái

21.075

28.570

26.260

26.100

27.680

Khăn xu
ất
khẩu
1000cái

20.400

24.850

21.930

24.210

24.500

V
ải tuyn

Trích đoạn Theo hiệu quả xuất khẩu Đánh giá chungvề cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm Một số kiến nghị đối với nhà nước và với công ty dệt Minh Khai
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status