LUẬN VĂN:
Biện pháp đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu của công ty xuất nhập
khẩu các sản phẩm cơ khí Lời nói đầu
“Mở cửa hội nhập với bên ngoài, phát huy lợi thế của đất nước, tranh thủ
vốn kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến của các quốc gia đi trước” đang
là xu thế của thời đại, là chiến lược phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia
đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam.
Trong chiến lược đó, hoạt động xuất khẩu được coi là một tác nhân liên
kết giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, là đòn bẩy kinh tế đất
Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động nghiệp vụ phát sinh trong quá trình
kinh doanh xuất khẩu hàng hoá của Công ty. Các hoạt động này có mối quan
hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau nhưng mỗi hoạt động đều có tính độc lập
tương đối.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình xây dựng đề tài là
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống kê,
tổng hợp, so sánh và phân tích kinh tế, kết hợp với các lý thuyết kinh tế và một
số quan sát thu thập được trong thực tế để đi sâu phân tích thực trạng hoạt
động kinh doanh của Công ty MECANIMEX.
Kết cấu của đề tài gồm ba chương:
Chương I: VAI TRò, NộI DUNG Và những NHÂN Tố ảNH Hưởng tới hoạt
động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
Chương ii: Phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu của ty MECANIMEX.
Chương III: Biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Công ty
MECANIMEX.
Chương I
VAI TRò, NộI DUNG Và những NHÂN Tố ảNH Hưởng tới hoạt động xuất
khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
I. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu hàng hoá.
1. Khái niệm.
Năm 1826 một tác giả thuộc trường phái chủ nghĩa trọng thương Anh
Thomat Man (1571- 1641) Đã phát biểu: “ Thương mại chính là hòn đá thử vàng
với sự phồn vinh của một quốc gia, các nước phát triển buôn bán với nước ngoài”.
Chủ nghĩa trọng thương cho rằng: “ Xuất khẳu chỉ có lợi cho một bên và gây thiệt
hại cho bên kia, dân tộc này làm giàu bằng cách hi sinh lợi ích cho dân tộc kia”.
Một số tác giả khác lại cho rằng: “Xuất nhập khẩu chính là mở rộng của hoạt động
mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ ra khỏi phạm vi biên giới”.
doanh còn phải nghiên cứu kỹ thị trường tài chính, phải có những kế hoạch dự
phòng nhằm đối phó với những biến động tài chính bất thường xảy ra.
Từ thực tế khách quan như vậy, hoạt động xuất khẩu hàng hoá là nhân tố
kích thích doanh nghiệp thương mại khi tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất
khẩu phải phát huy cao độ tính năng động và tự chủ trong kinh doanh. Nó đòi hỏi
các doanh nghiệp thương mại phải luôn thích nghi với những biến động của môi
trường kinh doanh, vận dụng một cách sáng tạo nhất các phương pháp kinh doanh,
nghệ thuật kinh doanh.
2.3. Xuất khẩu hàng hoá tạo cơ hội liên doanh liên kết kinh tế với nước
ngoài nhằm thu hút vốn, khoa học - công nghệ và trình độ quản lý.
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá có vai trò mở rộng mối quan hệ làm ăn hợp
tác kinh tế giữa doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế ngoài nước, nâng cao uy tín
của doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế nước ngoài, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp trên thương trường quốc tế. Điều này là cơ sở thuận lợi cho phép doanh nghiệp tăng cường quan hệ liên doanh liên kết với đối tác nước ngoài nhằm thu
hút được vốn, khoa học - công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến.
2.4. Xuất khẩu hàng hoá có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và
trình độ quản lý ở doanh nghiệp thương mại.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động hướng ra thị trường thế giới, một thị
trường đầy rẫy những sự cạnh tranh quyết liệt. Để tồn tại và phát triển, một mặt
các doanh nghiệp thương mại phải tìm kiếm những nguồn hàng có phẩm chất cao,
có giá cả cạnh tranh, mặt khác bản thân doanh nghiệp phải có một hệ thống trang
thiết bị hiện đại cũng như phải có một trình độ quản lý khoa học tiên tiến.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan đặt ra các doanh nghiệp thương mại luôn
phải đầu tư đổi mới trang thiết bị phục vụ cho hoạt động xuất khẩu đặc biệt là thiết
bị bảo quản và vận chuyển hàng hoá, thiết bị thu thập và xử lý thông tin, luôn phải
đổi mới phương thức quản lý phù hợp với sự phát triển của thị trường quốc tế.
2.5. Đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động.
Theo hình thức này, Công ty đứng ra nhập hàng hóa hoặc bán thành phẩm
cho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm bán lại cho bên nước ngoài.
Công ty được hưởng phần trăm phí ủy thác gia công, phí này được thỏa thuận
trước với xí nghiệp trong nước.
Các bước tiến hành:
- Ký hợp đồng ủy thác với các đơn vị trong nước.
- Ký hợp đồng gia công với nước ngoài, nhập nguyên liệu.
- Giao nguyên liệu gia công ( Định mức đã thỏa thuận gián tiếp giữa đơn vị
sản xuất trong nước với bên nước ngoài)
- Thanh toán phí gia công cho đơn vị sản xuất ( bên nước ngoài trả) và được
hưởng phí gia công ủy thác.
Ưu điểm của hình thức này là không phải bỏ vốn vào kinh doanh, rủi ro ít,
thanh toán khá đảm bảo vì đầu ra chắc chắn. Tuy nhiên đòi hỏi phải làm nhiều thủ tục nhập và xuất, cán bộ kinh doanh phải có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ này
để giám sát quá trình gia công.
1.3. Xuất khẩu ủy thác:
Công ty đứng ra với vai trò là người trung gian xuất khẩu làm thay cho
đơn vị sản xuất ( bên có hàng) những thủ tục cần thiết để xuất hàng và hưởng
phần trăm phí ủy thác tùy theo giá trị hàng xuất khẩu đã được thỏa thuận.
Các bước tiến hành:
- Ký hợp đồng xuất khẩu ngoại với khách hàng nước ngoài.
- Ký hợp đồng xuất khẩu uỷ thác với đơn vị (trong nước) có hàng xuất
khẩu.
- Khách hàng nước ngoài mở L/C.
- Thuê tàu biển (nếu xuất khẩu theo giá CFR hoặc CIF) và đăng ký tàu
(nếu xuất khẩu theo giá FOB).
- Làm thủ tục hải quan.
- Xin chứng nhận xuất xứ (C/O).
được thêm một khoản lợi do việc chiếm dụng vốn.
Nhược điểm của tái xuất khẩu là đòi hỏi trình độ nghiệp vụ của cán bộ xuất
khẩu cao, phải có sự nhạy bén về tình hình thị trường, giá cả và có sự hiểu biết cặn
kẽ về các hợp đồng mua bán ngoại thương.
1.6. Xuất khẩu tại chỗ:
Đây là hình thức kinh doanh mới nhưng đang được phổ biến rộng rãi. Đặc
điểm của loại hình này là hàng hoá không qua biên giới quốc gia mà đến tay
khách hàng nước ngoài ngay tại nước xuất khẩu. Do vậy không nhất thiết phải có
các hợp đồng phụ trợ như hợp đồng vận tải, hợp đồng bảo hiểm, các thủ tục hải
quan.
Hiện nay, số lượng khách hàng đi lu lịch nước ngoài ngày càng nhiều. Đây là
một cơ hội cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động cung cấp hàng hoá và
dịch vụ để thu ngoại tệ. Nếu tận dụng được phương thức xuất khẩu này doanh
nghiệp có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí như chi phí đi lại, ăn ở để tìm hiểu
thị trường, độ rủi ro thấp hơn nhiều vì môi trường kinh doanh hoàn toàn quen thuộc. Sản phẩm đến ngay với người sử dụng nên doanh nghiệp có thể biết ngay
được kết quả của những hoạt động mà mình đã tiến hành.
Xuất khẩu tại chỗ là hình thức đang được các quốc gia đặc biệt là các nước
có tiềm năng về du lịch khai thác và đã thu được những kết quả đáng kể, hình thức
này giảm bớt được nhiều khâu trung gian, doanh lợi lớn và nguồn vốn thu hồi
nhanh.
2. Nội dung của hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa:
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa phải trải qua rất nhiều công đoạn, mỗi đoạn
đều có mối liên hệ mật thiết hữu cơ với nhau. ở mỗi khâu đều đòi hỏi nhà xuất
khẩu phải thực hiện một cách chính xác, thận trọng, và vận dụng một cách sáng
tạo, linh hoạt các nghiệp vụ ứng với từng khâu, từng công đoạn đó. Tùy theo các
hình thức xuất khẩu khác nhau mà số bước thực hiện cũng như cách thức tiến
hành có những nét đặc trưng riêng. Song thông thường nội dung của hoạt đông
này là phát hiện ra các nguồn thông tin và khai thác triệt để nguồn thông tin đó.
Nghiên cứu tại bàn cho phép ta nhìn được khái quát thị trường mặt hàng cần
nghiên cứu. Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là dựa vào tài liệu đã được
xuất bản nên thời gian đã qua, có thể có độ trễ so với thực tế.
+ Nghiên cứu tại hiện trường: Chính là việc thu thâp thông tin chủ yếu
thông qua tiếp xúc với mọi người trên hiện trường. Nghiên cứu tại hiện trường có
thể thu thập được các thông tin sinh động, thực tế, hiện tại. Tuy nhiên cũng tốn
kém chi phí và cần phải có cán bộ vững về chuyên môn và khả năng nắm bắt thực
tế tốt.
2.2. Lập phương án kinh doanh:
Trên cơ cở kết quả đạt được từ hoạt động nghiên cứu thị trường, doanh
nghiệp cần tiến hành xây dựng các phương án kinh doanh và lựa chọn một phương
án được đánh giá là phù hợp nhất và đem lại hiệu quả cao nhất.
Xét về mặt hình thức, phương án kinh doanh là một tập hồ sơ trình bày một
cách chi tiết và có hệ thống, tính vững chắc, thực hiện phương án kinh doanh theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật tài chính và tổ chức quản lý. Những nội dung cơ
bản của một phương án kinh doanh bao gồm:
- Khối lượng và chủng loại hàng hóa sẽ đưa vào kinh doanh, các nguồn cung
cấp loại hàng đó.
- Thị trường xuất khẩu hàng hóa và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
về giá cả, chất lượng và sự phụ thuộc về cung ứng hàng hóa, khả năng tài chính,
quản lý và kỹ thuật.
- Các quy định của thị trường xuất khẩu về bao bì, phẩm chất và vệ sinh.
- Cơ cấu quản lý gồm những bộ phận nào? Sử dụng phương pháp tính toán
nào?
- Đánh giá hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp sẽ thu được khi triển khai thực
hiện phương án kinh doanh.
2.3. Triển khai thực hiện phương án kinh doanh.s
người giao dịch mà doanh nghiệp chọn phương thức giao dịch phù hợp. Các hình
thức giao dịch cơ bản gồm: giao dịch trực tiếp; giao dịch qua trung gian; buôn bán
đối lưu; đấu giá quốc tế; giao dịch tại sở giao dịch hàng hóa; giao dịch tại hội chợ
triển lãm.
Đàm phán: Đàm phán chính là việc các bên bàn bạc trao đổi với nhau
về các điều kiện mua bán để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng. Các hình thức
đàm phán thường được sử dụng hiện nay là: Đàm phán bằng cách gặp mặt trực
tiếp; đàm phán qua thư; điện thoại; fax; hay mạng Internet.
Ký kết hợp đồng: Thực chất đó là kết quả cuối cùng của quá trình
giao dịch, đàm phán giữa các bên ký kết hợp đồng, là hành vi tự nguyện của cả hai
bên ràng buộc quyền và nghĩa vụ của họ với nhau, nói cách khác hành vi này sẽ
làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý ở mỗi bên.
Tính hiệu lực của hợp đồng được tính từ thời điểm các bên ký vào văn bản
hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thỏa thuận về tất cả
những điều khoản chủ yếu của hợp đồng.
Nội dung các điều khoản thường có ở một hợp đồng xuất khẩu hàng hóa
gồm: - Ngày tháng năm ký hợp đồng, tên, địa chỉ, số tài khoản ngân hàng và ngân
hàng giao dịch của các bên; họ tên người đại diện, người đứng tên đăng ký kinh
doanh.
- Tên hàng.
- Điều kiện phẩm chất và quy cách xác định.
- Điều kiện về số lượng và cách xác định.
- Điều khoản giao hàng.
- Điều khoản giá cả, đơn giá, tổng hàng.
- Điều kiện cơ sở giao hàng.
- Điều khoản thanh toán tiền trả.
- Điều khoản bao bì ký mã hiệu.
- Lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu: chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở
lấy số hiệu giữa thu nhập từ hoạt động xuất khẩu với chi phí phải bỏ ra để thực
hiện hoạt động đó.
- Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu: với công thức:
Kết quả thu được từ hợp đồng kinh doanh
xuất khẩu
Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu =
Chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt đông xuất
khẩu
- Mức doanh lợi vốn cố định: chỉ tiêu này phản ánh số tiền lãi thu được trên
một đồng vốn cố định hoặc số vốn cần thiết để tạo ra một đồng lợi nhuận. Công
thức tính:
Lợi nhuận hoặc lãi thực hiện
Mức doanh lợi của vốn cố định =
Vốn cố định bình quân
- Mức doanh lợi vốn lưu động: phản ánh số tiền lãi thu được trên một đồng
vốn lưu động. Công thức.
Lợi nhuận hoặc lãi
thực hiện
Mức doanh lợi của vốn lưu động = Vốn lưu dộng bình quân
- Hiệu quả sử dụng chi phí xuất khẩu: phản ánh doanh thu đạt được khi bỏ
ra một phần chi phí. Công thức tính:
Doanh thu từ xuất khẩu
Hiệu quả sử dụng chi phí xuất khẩu =
Chi phí cho xuất khẩu
- Tỷ suất ngoại tệ đối với hàng xuất khẩu: là lượng bản tệ phải chi ra để có
động của xã hội theo ý trí của giai cấp thống trị.
Đối với doanh nghiệp, đây là yếu tố nằm ngoài sự điều chỉnh, sự kiểm soát
của họ. Doanh nghiệp chỉ có thể điều chỉnh những hoạt động của mình sao cho
phù hợp với sự vận động của yếu tố này.
Sự tác động của yếu tố chính trị, luật pháp tới quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp thông qua những quy định của luật pháp, các chế tài của các quy
phạm pháp luật. Nói cách khác, sự tác động của nó được thể hiện thông qua việc
thiết lập một hành lang pháp lý cho phép doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ
hành lang đó.
Đây là yếu tố rất quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp mà còn cả đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2. Nhân tố kinh tế:
Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, yếu tố kinh tế bao gồm cả kinh
tế trong nước và kinh tế thế giới. Yếu tố này bao hàm những nội dung sau:
- Tình trạng tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
- Cơ cấu thu nhập và tiêu dùng của dân cư
- Cung, cầu cạnh tranh trên thị trường.
Các nhân tố kể trên luôn vận động và tác động đến quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Những tác động này ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp, đến quá trình thực hiện chiến lược và đến hiệu quả
của hoạt động kinh doanh
1.3.Nhân tố địa lý: Địa lý tức là những nghiên cứu về bề mặt trái đất, khí hậu, đất, nước, con
người, tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố môi trường không thể kiểm
soát được đối với các doanh nghiệp.
Khí hậu và địa hình là những yếu tố quan trọng nhất của địa lý. Ngoài ra,
cộng thêm các tài nguyên thiên nhiên và dân cư cùng các tuyến thương mại quốc
tế hợp thành những yếu tố của thị trường thế giới. Như là một yếu tố địa lý, thực
Đây là nhóm các yếu tố nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có thể điều chỉnh chúng theo ý đồ chủ quan của mình sao cho phù hợp với
môi trường bên ngoài và khả năng của mình. Nhóm nhân tố này cũng có ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa, khả năng đẩy mạnh xuất khẩu
hàng hóa của doanh nghiệp. Các nhân tố cơ bản bao gồm:
2.1. Vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho quá trình thực hiện hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Đối với một doanh nghiệp, vốn
được chia làm vốn cố định và vốn lưu động. Vốn nầy được hình thành từ các chủ
sở hữu, các nhà đầu tư, các cổ đông và từ phần lợi tức của doanh nghiệp.
Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, vốn có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh, khả năng mở rộng thị trường; đến công tác thu mua tạo nguồn hàng,
dự trữ hàng hóa ở doanh nghiệp thương mại.
Việc kiểm soát vốn được doanh nghiệp thực hiện thông qua các kế hoạch
được sử dụng và huy động vốn, bao gồm cả kế hoạch sử dụng vốn cố định và vốn
lưu động, kế hoạch huy dộng vốn từ chủ sở hữu lẫn vốn chiếm dụng sao cho đảm
bảo sự cân đối giữa nhu cầu về vốn với nguồn tài trợ, giữa nhu cầu về vốn với quy
mô kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2. Bộ máy quản lý và trình độ quản lý.
Bộ máy quản lý của doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có
mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được bố trí theo những
cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và
phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp. Như vậy bộ máy quản lý được coi là trung tâm đầu não của doanh nghiệp,
là nơi trực tiếp tạo ra những thông tin điều khiển mọi hoạt động của doanh nghiệp
nhằm đưa doanh nghiệp tiến tới mục đích đề ra.
ở doanh nghiệp thương mại bộ máy quản lý tác động trực tiếp đến hoạt động
Phân phối là dòng hàng hóa hoặc dịch vụ được vận động thông qua các kênh
phân phối. Các kênh phân phối bao gồm các đơn vị trong và ngoài doanh nghiệp
thực hiện các chức năng nối liền người sản xuất với người tiêu dùng, nối liền giữa
người bán và người mua.
Hiện nay đang tồn tại hai loại kênh phân phối trên thị trường: phân phối
hàng hóa trực tiếp tức là bán hàng hóa và dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng và
phân phối gián tiếp tức là bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các khâu trung gian.
Việc lựa chọn kênh phân phối trực tiếp hay gián tiếp là do quyết định của
doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm của khách hàng, của sản phẩm, của những
phong tục tập quán ở thị trường mà doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh
doanh. Việc lựa chọn kênh phân phối của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
khả năng tiêu thụ hàng hóa, từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh cũng
như khả năng mở rộng họat động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.5. Quảng cáo giới thiệu sản phẩm:
Trong những nguyên nhân thất bại của việc tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghệp về việc người bán không gặp được người mua, không nắm bắt được đúng
nhu cầu thị hiếu của khách hàng và không làm cho khách hàng hiểu rõ giá trị sử
dụng của sản phẩm. Vì thế, để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, nâng cao khối
lượng sản phẩm bán ra phải tổ chức tốt công tác quảng cáo giới thiệu sản phẩm.
Quảng cáo giới thiệu sản phẩm là sự tuyên truyền giới thiệu hàng hóa và
dịch vụ nhằm thu hút sự chú ý của con người, có thể là người mua. Gây sự thích
thú của họ đối với hàng hóa và dịch vụ, và cuối cùng trở thành khách hàng thực tế
của tổ chức kinh doanh hàng hóa và dịch vụ đó.
Như vậy, quảng cáo được coi là một trong những vũ khí lợi hại để thu hút
khách hàng, mở rộng thị trường của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quảng cáo sao cho
có hiệu quả không phải là việc đơn giản mà ngược lại, nó là một quá trình, một
quy trình mang tính nghệ thuật đòi hỏi nhà làm quảng cáo phải hiểu rất rõ về nền văn hoá ngự trị ở thị trường đó, tâm lý và sở thích của người tiêu dùng ở thị
chương iI
Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng hoá của công ty mecanimex.
I. tổng quan về công ty mecanimex.
1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty xuất nhập khẩu các sản phẩm cơ khí được thành lập ngày 26/3/1985
theo giấy phép kinh doanh số 0111012/GP của Bộ trưởng Bộ cơ khí và luyện kim
cũ nay đổi thành Bộ Công nghiệp. Đã quy định Công ty MECANIMEX là một
doanh nghiệp nhà nước với các thông số sau:
1/ Tên đơn vị : Công ty xuất nhập khẩu các sản phẩm cơ khí.
Tên tiếng Anh: The Viet Nam National Mechanical Products Import-
Export Company.
Tên viết tắt : MECANIMEX - Hà Nội
2/ Trụ sở chính đặt tại: 37 Tràng Thi - Hà Nội.
Điện thoại: 8263904-8257459
Telex: 412285- MECA-VT
Fax: 84-48263904
Chi nhành: 35 Tôn Đức Thắng- Thành phố HCM.
Văn phòng đại diện tại Hải Phòng.
3/ Tài khoản tiền Việt Nam: 350.102.000.210 đồng tại Việt Combank.
Tài khoản ngoại tệ : 240.125.358.012 đồng tại Việt Combank.
4/ Vốn điều lệ trong đó : - Vốn cố định: 293.274.463 đồng
- Vốn lưu động: 8.474.196.748 đồng
Công ty chịu trách nhiệm kinh tế và dân sự về các hoạt động bằng các tài
sản của mình. Công ty hoạt động theo luật nước CHXHCN Việt Nam, luật Doanh
nghiệp và các quy định của Bộ Công nghiệp.
Công ty được sát nhập trên cơ sở sát nhập hai phòng là phòng xuất nhập
khẩu của Tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm (Tocontap) và công ty xuất nhập
khẩu máy (Machinoimport) khi đó MECANIMEX được coi như là một trong
những công ty xuất nhập khẩu hàng đầu của Bộ Công nghiêp.
chức năng: Thực hiện các hoạt động thương mại dịch vụ, trực tiếp tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (tự doanh và uỷ thác) với các đối tác trong và
ngoài nước.
b) Nhiệm vụ:
Xây dựng và tổ chức các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu.
Xây dựng và tổ chức các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn của hoạt động kinh
doanh.
Tổ chức nghiên cứu thị trường, tìm hiểu và xác định các mặt hàng kinh doanh
phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nước.
Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao. Công ty được phép huy động vốn
của các tổ chức và các thành phần kinh tế để tổ chức hoạt động kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Thực hiện nghĩa vụ và nhiệm vụ Nhà nước giao đồng thời thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ chung của Nhà nước.
3. Cơ cấu bộ máy tổ chức và điều kiện hoạt động của Công ty.
a) Cơ cấu bộ máy tổ chức:
Với phơng châm gọn, nhẹ nhưng hiệu quả, Công ty MECANIMEX có cơ cấu
tổ chức rất gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và không chồng chéo.
Công ty MECANIMEX có cơ cấu tổ chức bộ máy theo kiểu trực tuyến
chức năng, với một số phòng ban được sáp nhập với nhau.
Hình1. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty