LUẬN VĂN: Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phân tích chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp trong các doanh
nghiệp xây lắp

Chương I những vấn đề lý luận chung về phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp.
I. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
1. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến quá
trình hình thành chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành xây dựng cơ bản là ngành có khả
năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó tạo ra
cơ sở vật chất cho toàn xã hội, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân, tăng cường tiềm lực
kinh tế, lẫn quốc phòng cho đất nước. Ngành xây dựng cơ bản có nhiều đặc điểm riêng biệt
xuất phát từ tính đặc thù của sản phẩm ngành xây dựng và sản xuất xây dựng. Chúng có ảnh
hưởng lớn đến việc tổ chức sản xuất và quản lý tài chính trong ngành xây dựng.
- Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định: Sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành thì

- Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc: Không bao giờ có hai công trình xây dựng
giống hệt nhau, bởi lẽ sản phẩm xây dựng được sản xuất theo đơn đặt hàng, ngay sau khi
hoàn thành sẽ được tiêu thụ ngay theo giá cả đã thoả thuận giữa các bên tham gia. Điều này
dẫn đến năng xuất lao động không cao, gây khó khăn trong việc so sánh giá thành, mức hạ
giá thành của sản phẩm xây lắp.
- Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự
nhiên, ảnh hưởng này thường xuyên làm gián đoạn quá trình thi công, năng lực của doanh
nghiệp không điều hoà, ảnh huưởng đến sản phẩm dở dang, vật tư thiết bị thi công…Đặc
điểm này yêu cầu doanh nghiệp xây dựng phải lập tiến độ thi công, tổ chức lao động hợp lý
để tránh thời tiết xấu, giảm thiểu tổn thất do thời tiết gây ra, tổ chức cải thiện đời sống của
người lao động.
Những đặc điểm trên đây của ngành xây dựng cơ bản cũng như sản phẩm xây lắp có
ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý chi phí và gía thành sản phẩm xây lắp, đòi hỏi các
doanh nghiệp xây lắp phải có các biện pháp, kế hoạch chi phí và giá thành sản phẩm hiệu
quả để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Để thực
hiện được điều này, trước hết chúng ta phải cùng tìm hiểu khái niệm về chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm.
2. Chi phí sản xuất xây lắp.
2.1 Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất. Quá
trình sản xuất là quá trình kết hợp của cả 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và
sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất cũng chính là quá trình tiêu hao của chính các yếu tố trên. Vì thế, sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất
là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người sản xuất .
Trong nền kinh tế nói chung, đặc biệt là nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là việc sản xuất sản phẩm ra thị trường nhằm mục
đích kiếm lời. Đó chính là quá trình doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định, những
chi phí đó biểu hiện dưới hình thức hiện vật hay giá trị, đó là điiêù kiện vật chất bắt buộc để

lắp.
2.2 Phân loại chi phí sản xuất xây lắp.
Chi phí sản xuất xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp phát sinh thường xuyên trong
quá trình sản xuất và bao gồm nhiêù loại, có nội dung, công dụng và đặc tính khác nhau nên
yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau. Vì vậy, để quản lý tốt chi phí thì cần phải
phân loại chi phí sản xuất xây lắp. Có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại
chi phí sản xuất xây lắp. Có nhiều cách phân chia chi phí sản xuất, song mỗi cách phân chia
chi phí sản xuất phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện sử dụng thông tin kinh tế nhanh nhất cho công tác quản lý chi phí sản
xuất phát sinh, phục vụ tốt cho công việc kiểm tra, giám sát chi phí sản xuất của doanh
nghiệp
- Đáp ứng đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc tính toán hiệu quả các phương án
sản xuất nhưng lại cho phép tiết kiệm chi phí hạch toán và thuận lợi sử dụng thông tin hạch
toán. Dưới đây trình bày các cách phân loại chi phí sản xuất xây lắp chủ yếu.
2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí sản xuất .
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích và công dụng nhất
định. Theo cách phân loại này các khoản chi phí có mục đích, công dụng giống nhau được
xếp vào cùng một khoản chi phí ,không cần xét đến khoản mục chi phí đó có nội dung kinh
tế như thế nào. Chi phí sản xuất xây lắp được chia thành các khoản mục sau: chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất
chung.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí về các loại vật liệu chính, vật liệu phụ,
vật kết cấu, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo) cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp,
không bao gồm chi phí vật liệu đã tính vào chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất
chung.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí tiền công, tiền lương, các khoản phụ cấp có
tính chất lương của công nhân trực tiếp xây lắp, khoản mục này không bao gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp và
đánh giá hợp lý chi phí và tìm biện pháp không ngừng giảm chi phí gián tiếp, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư.
2.2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm.
Theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm thì chi phí sản xuất
của doanh nghiệp dược chia thành chi phí cố định (bất biến), chi phí biến đổi (khả biến), chi
phí hỗn hợp.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí) là các chi phí mà tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi về khối lượng của hoạt động sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất
trong kỳ.
- Chi phí khả biến (hay còn gọi là biến phí) là những chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ
với sự thay đổi của mưc độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của định phí và biến phí.
Phân loại chi phí theo cách này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của
doanh nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết
để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
Ngoài các cách phân loại chi phí sản xuất trên tuỳ thuộc vào yêu cầu công tác quản lý
chi phí sản xuất xây lắp có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau: phân loại chi phí sản
xuất theo nội dung kinh tế của chi phí, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản
xuất với quy trình công nghệ, phân loại theo thẩm quyền ra quyết định.
3. Giá thành sản phẩm xây lắp.
3.1. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong quá trình sản xuất ở doanh nghiệp xây lắp phải bỏ ra các khoản chi phí sản xuất
, mặt khác kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu được là những sản phẩm, công việc xây
lắp nhất định đã hoàn thành. Những sản phẩm, công việc xây lắp đã hoàn thành cần phải
tính được giá thành thực tế, tức là những chi phí đã bỏ ra để sản xuất ra chúng.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động
vật hoá và các chi phí khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp bỏ ra để hoàn
thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình theo quy định.

-

Lãi
đ
ịnh mức

Mục công trình công trình
Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành được xác định trên cơ sở những
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, các biện pháp thi công.
Giá thành kế hoạch Giá thành dự toán của Mức hạ giá
Của công trình, hạng = công trình, hạng - thành
Mục công trình mục công trình kế hoạch
Giá thành thực tế: Giá thành thực tế của khối lượng xây lắp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành khối lượng xây lắp gồm: Chi phí định mức, vượt
định mức và không định mức như các khoản bội chi, lãng phí về vật tư, lao động trong quá
trình sản xuất xây lắp của đơn vị được phép tính vào giá thành. Giá thành thực tế được tính trên cơ sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất xây lắp của khối lượng xây lắp thực hiện trong
kỳ.
4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong quá trình sản xuất thi công, chi phí sản xuất xây lắp thể hiện hao phí trong kỳ
của doanh nghiệp xây lắp, chi phí này phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ hai
của quá trình sản xuất đó là kết quả của sản xuất. Giữa chi phí sản xuất xây lắp và giá
thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chi phí sản xuất xây lắp và giá
thành sản phẩm xây lắp là hai mặt thống nhất của cùng một quá trình sản xuất, vì vậy chúng
giống nhau về mặt chất. Chúng đều bao gồm các loại chi phí về lao động sống, lao động vật
hoá, các chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên
chi phí và giá thành sản phẩm có sự khác nhau về lượng. Chi phí sản xuất thể hiện những
chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một kỳ (tháng, quý, năm) không

phát triển của nền kinh tế mà đóng vai trò là người hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt
động kinh tế ở tầm vĩ mô thông qua các luật lệ, chính sách và các biện pháp kinh tế. Nhà
nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động phát triển sản
xuất kinh doanh và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào những nghề có
lợi cho đất nước, cho đời sống của nhân dân. Doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là các doanh
nghiệp Nhà nước phải tuân thủ chế độ quản lý kinh tế của Nhà nước đang áp dụng như :
Chế độ tiền lương, tiền công, cơ chế hạch toán kinh tế… Sự hoàn thiện các chế độ quản lý
kinh tế là điều kiện cơ bản cho việc áp dụng chế độ phân tích, kiểm tra và hạch toán chi phí
sản xuất kinh doanh. Các chế độ thể lệ của Nhà nước là chỗ dựa cho công tác quản lý chi
phí sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Giá cả và cạnh tranh: Nói đến thị trường, chúng ta không thể không đề cập đến hai
nhân tố cơ bản là giá cả và sự cạnh tranh.
Trước hết là sự ảnh hưởng của nhân tố giá cả đến chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp xây lắp. Biểu hiện, đó là khi giá cả của nhiên, nguyên liệu, vật liệu, dụng cụ,
đồ dùng…hoặc giá cả của các lao vụ, dịch vụ thay đổi sẽ làm thay đổi chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp . Nếu giá cả của nguyên liệu, vật liệu, dụng cụ tăng lên thì chi phí
sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên và ngược lại. Vì vậy, lựa chọn việc thay thế các loại nguyên
, vật liệu với giá cả hợp lý nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra của doanh
nghiệp cũng là yếu tố quan trọng để giảm chi phí.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh một mặt
thúc đẩy doanh nghiệp hạ thấp hao phí lao động cá biệt để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Mặt khác nó lại có tác động làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .Trong thị trường xây dựng, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây lắp diễn ra cũng không kém phần gay gắt và khốc liệt như trong thị trường hàng hoá tiêu dùng thông
thường. Biểu hiện rõ nét nhất của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây lắp trên thị trường
xây dựng đó là hoạt động tranh thầu. Như đã biết, đối với các doanh nghiệp xây lắp điều
kiện tiên quyết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện là
doanh nghiệp phải ký được các hợp đồng xây dựng- tức là bằng mọi giá doanh nghiệp phải

xuất cho doanh nghiệp. Nếu máy móc thiết bị sản xuất, dụng cụ quản lý đầy đủ, hiện đại thì
nó sẽ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất được thông suốt và giảm dược các khoản chi phí
do thuê ngoài. Ngoài ra, điều kiện kho bãi để bảo quản vật tư, nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị mà tốt sẽ làm giảm chi phí hao hụt trong khâu bảo quản, đồng thời hạn chế được sự
suy giảm chất lượng, hao mòn của vật tư, máy móc thiết bị…
- Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất và tài chính: Nhờ vào việc bố chí các khâu sản xuất
hợp lý có thể hạn chế được sự lãng phí nguyên vật liệu, chi phí về ngừng sản xuất … Bên
cạnh đó, việc sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu cho việc mua sắm vật tư
sẽ tránh được những tổn thất cho sản xuất như việc ngừng sản xuất do thiếu vật tư… Đồng
thời, thông qua việc tổ chức sử dụng vốn sẽ kiểm tra được tình hình dự trữ vật tư, từ đó phát
hiện ngăn ngừa kịp thời tình trạng ứ đọng, mất mát hao hụt vật tư… Việc đẩy nhanh sự chu
chuyển vốn có thể giảm bớt nhu cầu vay vốn, giảm bớt được chi phí trả lãi tiền vay… Tất cả
sự tác động trên đều làm giảm bớt chi phí sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.
Trên đây là các yếu tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng đến chi phí sản xuất
kinh doanh. Việc nghiên cứu các nhân tố này có ý nghĩa quan trọng trong các doanh nghiệp
sản xuất vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp đề ra các phương hướng và các biện pháp chung
nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
III. Mục đích, ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở
một doanh nghiệp .
1. Mục đích phân tích chi phí và giá thành sản phẩm ở một doanh nghiệp.
Mục đích phân tích chi phí: Phân tích tình hình chi phí nhằm mục đích nhận thức và
đánh giá chính xác, toàn diện và khách quan tình hình quản lý và sử dụng chi phí, qua đó
thấy được tác động ảnh hưởng của nó đến quá trình và kết quả kinh doanh. Qua phân tích
chi phí có thể thấy được tình hình quản lý và sử dụng chi phí có hợp lý hay không; có phù
hợp với những nhu cầu kinh doanh, với những nguyên tắc quản lý kinh tế – tài chính và
mang lại hiệu quả kinh tế hay không? Đồng thời, tìm ra những mặt tồn tại bất hợp lý trong
quản lý và sử dụng chi phí. Từ đó, đề xuất những chính sách, biện pháp khắc phục nhằm
quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tốt hơn.
Mục đích phân tích giá thành: Là nhằm nhận thức, đánh giá một cách chính xác,
toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất gia công của doanh nghiệp trong kỳ về mặt số

Để có thể quản lí kinh doanh, cần thiết phải biết được quá trình sản xuất kinh doanh
đang diễn ra như thế nào và kết quả ra sao. Qua phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm có thể đánh giá tổng hơp, khách quan có phê phán tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh. Hạch toán kinh doanh là một quá trình bắt đầu từ việc tìm hiểu nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch và
phương án sản xuất kinh doanh, tổ chức phương án sản xuất kinh cho đến việc phân tích và
đánh giá kết quả đạt được của phương án sản xuất kinh doanh đã được thực hiện. Qua phân
tích, đánh giá có thể vạch ra mặt mạnh, mặt yếu kém, các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có căn cứ đúng đắn cho việc đề ra các biện pháp
nhằm cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Phân tích chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp phát hiện và khai thác những khả năng
tiềm tàng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quản lí chi phí sản xuất, phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được
xác định như phương pháp phát hiện khả năng tiềm tàng trong sản xuất kinh doanh của
doanh và đề ra những biện pháp sử dụng chúng. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
phần lớn phụ thuộc vào những khả năng tiềm tàng được phát hiện và thực hiện như thế nào.
Khả năng tiềm tàng luôn sẵn có trong các doanh nghiệp vì các lí do sau đây:
+ Các doanh nghiệp luôn được phát triển về năng lực sản xuất như bổ sung máy móc
thiết bị, lao động, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật.
+Các khả năng tiềm tàng hết sức đa dạng và luôn thay đổi về mức độ bởi vì việc sử
dụng một số khả năng tiềm tàng này sẽ làm xuất hiện những điều kiện để tiếp tục khả năng
tiềm tàng khác, do đó việc khai thác chúng là vô tận.
Có thể nói, các khả năng tiềm tàng là một nguồn vô tận để nâng cao khối lượng và chất
lượng sản phẩm, công việc, không ngừng hoàn thiện phương thức quản lí doanh nghiệp, cải
thiện điều kiện làm việc và đời sống của cán bộ công nhân viên.
Do hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sự kết hợp hữu cơ của các
yếu tố sản xuất và các yếu tố quản lí sản xuất nên khả năng tiềm tàng trong sản xuất được
biểu hiện ở dạng tổng hợp các mặt hoạt động của doanh nghiệp.

+ Các tài liệu thông tin về thị trường, giá cả của các loại nguyên vật liệu mà doanh
nghiệp đang sử dụng.
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
sản xuất. Bao gồm hai nội dung phân tích sau:
Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nhân công trực tiếp
sản xuất.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp.
Tài liệu sử dụng để phân tích
Các chỉ tiêu kế hoạch, định mức tiền lương ở doanh nghiệp.
Các số liệu tài liệu kế toán chi phí tiền lương của doanh nghiệp bao gồm cả kế toán
tổng hợp, kế toán chi tiết và các tài liệu thống kê. + Các chế độ, chính sách về tiền lương của nhà nước, của doanh nghiệp bao gồm cả
những văn bản quy định hướng dẫn của nghành hoặc cơ quan chủ quản, của cơ quan bảo
hiểm xã hội.
+ Các hợp đồng lao động và chính sách về quản lý lao động.

- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí sử dụng máy thi
công. Bao gồm các nội dung phân tích sau:
Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí sử dụng máy thi công.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng máy thi tự có của doanh nghiệp
và mày thi công thuê ngoài không có công nhân điều khiển máy đi kèm.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng máy thi công thuê ngoài có công
nhân điều khiển máy đi kèm.
Tài liệu sử dụng :
+ Các chỉ tiêu kế hoạch về chi phí sử dụng máy thi công ở doanh nghiệp.
+ Các tài liệu, số liệu kế toán chi phí sử dụng máy thi công, bao gồm kế toán tổng
hợp, kế toán chi tiết và các tài liệu thống kê.
+ Các hợp đồng thuê máy thi công…

loại trừ.
2.3 Phương pháp loại trừ.
Là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân
tích, bằng cách khi xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố này thì loại trừ ảnh hưởng của
nhân tố khác.
Có hai hình thức:
a. Phương pháp thay thế liên hoàn: là phương pháp thay thế lần lượt số liệu gốc
bằng số liệu muốn so sánh của các nhân tố có ảnh hưởng đến chỉ tiêu kinh tế được phân tích
theo một lôgic xác định. Thông thường, trình tự thay thế được quy định: nhân tố số lượng
thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau.
b. Phương pháp số chênh lệch: đây là hình thức biến tướng của hình thức thay thế
liên hoàn. Xét theo toán học thì phương pháp số chênh lệch là hình thức rút gọn của
phương pháp thay thế liên hoàn bằng cách đặt thừa số chung. Phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các khoản mục chi phí trong gía thành sản
phẩm.
2.4 Phương pháp cân đối.
Là phương pháp được dùng trong phân tích dựa trên cơ sở cân đối giữa nguồn và việc
phân phối các nguồn đó.
Trong phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, phương pháp cân đối được
dùng để cân đối giữa tổng chi phí và các yếu tố chi phí, cân đối giữa tổng giá thành và
khoản mục giá thành.
2.5 Phương pháp dùng biểu mẫu.
Biểu trong phân tích kinh tế nói chung và trong phân tích chi phí sản xuất, giá thành
sản phẩm nói riêng được thiết lập theo các dòng, các cột, trong đó ghi chép đầy đủ các
khoản mục, các chỉ tiêu, các số liệu phân tích.
- Công ty xây dựng 25/3.
- Xí nghiệp khảo sát thiết kế và tư vấn xây dựng.
Công ty xây dựng Lũng Lô hiện nay có: - Tên giao dịch quốc tế: LCC.
- Trụ sở của Công ty đặt tại 162 Đường Trường Chinh- Đống Đa- Hà Nội.
Và hiện nay Công ty có hai chi nhánh:
1. Văn phòng đại diện miền Trung: 21/22 Lê Hồng Phong- Đà Nẵng.
2. Văn phòng đại diện tại miền Nam: 28M- Đường 3/2- Quận 10 thành phố Hồ Chí
Minh.
2. Chức năng và ngành nghề kinh doanh của công ty.
Theo quyết định của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng về việc xác định ngành nghề kinh
doanh của công ty Công ty xây dựng Lũng Lô, quyết định số 171/QĐ-BQP ngày 15/9/2003.
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp Nhà nước số 110753 do Uỷ
Ban kế hoạch thành phố Hà Nội cấp ngày 21/10/2003.
Gồm những ngành nghề sau:
+ Thi công xây lắp các công trình công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, công
trình ngầm, sân bay, cảng biển.
+ Duy tôn tu tạo, sữa chữa, nâng cấp các công trình bảo tồn bảo tàng và di tích lịch sử.
+ Thi công, xây lắp công trình đường dây và trạm biến áp đến 35kv.
+ Đầu tư, phát triển hạ tầng và kinh doanh nhà.
+ Tư vấn khảo sát thiết kế xây dựng.
+ Khảo sát dò tìm xử lý bom mìn, vật nổ (giấy phép số 120/BQP do bộ quốc phòng
cấp ngày 14/01/2002).
+ Xây lắp đường cáp quang (các công trình bưu điện viễn thông).
+ Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng.
+ Giấy chứng nhận doanh nghiệp hạng 1 do Bộ Quốc Phòng cấp.
Chỉ có Công ty mới có tư cách pháp nhân đầy đủ trong quan hệ giao dịch, ký kết các
hợp đồng với khách hàng, với các tổ chức, các cơ quan quản lý và trực tiếp thực hiện nghĩa

a. Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Do các công trình có đặc điểm thi công khác nhau, thời gian xây dựng thường kéo dài,
mang tính đơn chiếc…nên lực lượng lao động của xí nghiệp được tổ chức thành các đội sản
xuất, mỗi đội sản xuất phụ trách thi công trọn vẹn một công trình hoặc một hạng mục công
trình. Trong mỗi đội thi công lại được tổ chức thành các tổ sản xuất theo yêu cầu thi công,
tuỳ thuộc vào nhu cầu trong từng thời kỳ mà số lượng các đội công trình, các tổ sản xuất
trong mỗi đội sẽ thay đổi phù hợp với điều kiện cụ thể. Thể hiện qua sơ đồ sau:

Ban quản lý công trình
T
ổ sản xuất

T
ổ sản xuấ
t

T
ổ sản xuất




ật t
ư, Trong cùng một thời gian, Công ty xây dựng Lũng Lô thường phải triển khai thực hiện
nhiều hợp đồng xây dựng khác nhau, trên các địa điểm khác nhau nhằm hoàn thành theo
theo hợp đồng xây dựng đã kí kết với chủ đầu tư. Với một năng lực sản xuất nhất định, để
có thể thực hiện được điều này Công ty đã tổ chức lao động tại chỗ, tuy nhiên cũng có lúc
Công ty phải điều lao động từ công trình này đến công trình khác nhằm đảm bảo công trình
được tiến hành đúng tiến độ thi công.
4. Tổ chức bộ máy quản lý và phân cấp tài cấp tài chính của Công ty.
4.1. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Xây dựng Lũng Lô.
Do Công ty có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước, hoạt động sản xuất kinh doanh là
thi công các công trình, các công trình có địa bàn không tập trung, hầu hết ở xa trung tâm.
Và kết cấu của mỗi một công trình lại khác nhau nên việc tổ chức bộ máy quản lý của Công
ty có những đặc điểm riêng không giống với những ngành sản xuất khác và được thể hiện
qua sơ đồ sau:


chẽ – vững vàng về tổ chức, hiệu quả - chất lượng – uy tín trong kinh doanh. Do vậy để
quản lý chặt chẽ tới tận các công trình, các tổ sản xuất, Công ty đã tổ chức bộ máy quản lý
thành các ban, đứng đầu là ban Giám đốc Công ty. Để giúp việc cho ban Giám đốc công ty
có các phòng, các ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh,
quản lý về kỹ thuật. Cụ thể gồm 4 phòng, 1 văn phòng công ty và 7 xí nghiệp thành viên.
Dưới ban Giám đốc Công ty lại có các ban giám đốc xí nghiệp. Giúp việc cho Ban
giám đốc xí nghiệp cũng có các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản
xuất để giám sát chặt chẽ tới các đội công trình, các tổ sản xuất một cách tối ưu nhất.
Để đạt được mục tiêu sản xuất của Công ty: chức năng, nhiệm vụ của ban Giám đốc và
các phòng ban được phân định cụ thể như sau:
- Ban giám đốc gồm:
+ Giám đốc Công ty: là đại diện pháp nhân của Công ty và chịu trách nhiệm trước
pháp luật, trước Bộ Quốc Phòng, Bộ Tư Lệnh Công Binh và Đảng uỷ Công ty về mọi hoạt
động của Công ty và là người điều hành cao nhất trong Công ty. Giám đốc Công ty còn là
người thay mặt quản lý, sử dụng có hiệu quả toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh. Giúp việc cho Giám đốc Công ty còn có 3 phó giám đốc.
+ Phó giám đốc điều hành: giúp giám đốc điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty,
triển khai các hợp đồng kinh tế, các dự án do giám đốc phân công. Là người giúp giám đốc
xây dựng quản lý về kỹ thuật, chất lượng các công trình và xây dựng dự án, tìm kiếm việc
làm theo sự phân công của giám đốc.
+ Phó giám đốc kế hoạch: giúp giám đốc phụ trách công tác kế hoạch xây dựng các dự
án liên doanh, liên kết trong và ngoài nước, triển khai các dự án được giám đốc phân công.
+ Phó giám đốc chính trị: giúp giám đốc phụ trách công tác Đảng, công tác Chính trị
của Công ty theo nghị quyết của Đảng uỷ cấp trên.
-Phòng kế hoạch tổng hợp:
Là cơ quan tổng hợp, tham mưu cho ban Giám đốc trong việc điều hành, quản lý sản
xuất kinh doanh và nhiệm vụ quân sự toàn Công ty, quản lý kế hoạch trung và dài hạn của
Công ty, quản lý và triển khai các hợp đồng kinh tế, xây dựng giá thành từng dự án, sắp xếp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status