LUẬN VĂN: Khách hàng và các biên pháp thu hút khách hàng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Khách hàng và các biên pháp thu hút
khách hàng của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Hàng Hải Lời mở đầu

Đối với tất cả các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh, khách hàng và thu hút
khách hàng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Khách hàng chính là những người cung
cấp hoạt động kinh doanh,quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Đối với

khó khăn trong việc thu hút khách hàng của các NHTM Việt Nam.
Trong thời gian nghiên cứu và thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải
(MSB), với sự giúp đỡ của các phòng ban và của giáo viên hướng dẫn, em đã lựa chọn và
thực hiện chuyên đề: “ Khách hàng và các biên pháp thu hút khách hàng của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Hàng Hải”. Trong chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về khách hàng của NHTM trong nền kinh tế thị
trường
Chương II: Thực trạng thu hút khách hàng hiện nay tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Hàng Hải
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm thu hút khách hàng của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Hàng Hải
Cuối chuyên đề là phần kết luận và một số kiến nghị với một số cơ quan cấp trên nhằm
góp phần nâng cao các biện pháp thu hút khách hàng của các Ngân hàng TMCP nói chung và
của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải nói riêng.

Chương I: Những vấn đề cơ bản về khách hàng của NHTM trong nền kinh tế thị trường
1. Khái quát về khách hàng và vai trò của khách hàng trong hoạt động kinh doanh
của NHTM
1.1. Khái quát về khách hàng của NHTM
Khách hàng đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy mô khách hàng tạo

1.2.1. Vai trò của khách hàng
Đối với các hoạt động kinh tế dù ở tầm vi mô hay vĩ mô, khách hàng luôn đóng vai trò
quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của chủ thể tham gia kinh
tế. Mọi hoạt động kinh doanh đều hướng tới mục tiêu chung đó là thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng và thông qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho bản thân. Mối quan hệ giữa người
bán (các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức muốn thu lợi nhuận từ sản phẩm hay dịch vụ của
mình có thể cung cấp) và người mua (các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức muốn thỏa mãn nhu
cầu của bản thân bằng các sản phẩm hay dịch vụ mà mình có thể thanh toán) được hình thành
từ khi bắt đầu có sự trao đổi. Hoạt động kinh tế không thể hình thành nếu thiếu một trong hai
nhân tố trên. Nếu trước đây, khi nền kinh tế độc quyền còn tồn tại, vai trò của khách hàng
không được coi trọng thì hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, khách hàng luôn là mối quan
tâm hàng đầu của các doanh nghiệp kinh tế. Khách hàng có quyền quyết định hoạt động mua
sắm, sử dụng dịch vụ của họ theo nhu cầu và các doanh nghiệp phải hướng theo nhu cầu đó để
hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp đều hiểu rằng muốn thu được lợi nhuận cần phải thu
hút được nhiều khách hàng.Đối với NHTM hiện nay, khi lĩnh vực Ngân hàng không còn
mang tính chất độc quyền, việc thành lập một Ngân hàng đã trở nên đơn giản hơn rất nhiều do
sự hỗ trợ của chính sách Nhà nước thì việc thu hút khách hàng càng trở nên quan trọng.Bởi vì
khách hàng vừa là người đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng vừa là người cung cấp vốn huy
động và các khoản cho vay cho Ngân hàng. Vì vậy, các biện pháp thu hút khách hàng luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp kinh tế nói chung và của NHTM nói riêng.

1.2.2. Vai trò của hoạt động thu hút khách hàng
Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự phát triển của cạnh tranh, NHTM không thể
đơn thuần chỉ kinh doanh theo phương pháp cũ là dựa vào những khách hàng truyền thống
trong thị trường truyền thống mặc dù những khách hàng này luôn là nhân tố chủ yếu mang lại
lợi nhuận cho Ngân hàng. Đã đến lúc NHTM phải nghĩ đến việc mở rộng hoạt động kinh
doanh thông qua việc xây dựng các chiến lược kinh doanh cụ thể. Mỗi nghiệp vụ kinh doanh

Ngân hàng trong từng thời kỳ kinh doanh có thể có những mục tiêu cụ thể riêng, song xét
về mặt tổng quát thì bao gồm các mục tiêu sau:
- Mở rộng thị phần cho Ngân hàng:
Xây dựng chiến lược thu hút khách hàng cho Ngân hàng là nhằm tìm kiếm cho
Ngân hàng những thị trường kinh doanh phù hợp, giúp Ngân hàng duy trì và phát
triển hoạt động kinh doanh. Tìm kiếm khách hàng mới và duy trì các khách hàng
cũ cũng nhằm mục tiêu mở rộng thị phần kinh doanh cho Ngân hàng. Một Ngân
hàng kinh doanh có hiệu quả được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố trong đó có yếu
tố thị phần. Chiến lược thu hút khách hàng của Ngân hàng trong thời gian ngắn có
thể không có mục tiêu mở rộng thị phần nhưng trong một giai đoạn kinh doanh
dài thì mục tiêu này luôn được đặt lên hàng đầu bởi nó quyết định vị thế của Ngân
hàng trên thị trường, khả năng thắng thế trong cạnh tranh của Ngân hàng và sự ổn
định của kinh doanh Ngân hàng.
- Đảm bảo an toàn cho Ngân hàng
Kinh doanh Ngân hàng là hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro nhất. Chiến lược
thu hút khách hàng không chỉ mang mục đích thoả mãn tốt nhất nhu cầu của
khách hàng, cung ứng được nhiều sản phẩm dịch vụ, giúp Ngân hàng đạt lợi
nhuận tối ưu mà còn có mục tiêu giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng xuống mức
thấp nhất. Sự tin tưởng của khách hàng vào Ngân hàng không chỉ ở chất lượng

dịch vụ mà còn là sự an toàn cho tài sản của họ. Một trong những việc làm quan
trọng của chiến lược khách hàng để giảm rủi ro là đánh giá khách hàng thông qua
quan hệ giao tiếp, theo dõi, giám sát hoạt động. Khi rủi ro kinh doanh càng thấp
có nghĩa là sự an toàn của Ngân hàng càng cao và hiệu quả của chiến lược khách
hàng càng cao, cũng đồng nghĩa với việc chất lượng hoạt động của Ngân hàng tốt.
- Tăng vị thế, tạo uy tín của Ngân hàng trên thị trường
Khách hàng luôn hoài nghi do dự khi thiết lập mối quan hệ với Ngân hàng lần đầu

tốt nhất nhu cầu của khách hàng, khai thác hết tiềm năng từ thị trường khách hàng
để đạt mục tiêu lợi nhuận. mục tiêu này thể hiện việc cạnh tranh kinh doanh bình
đẳng trên mọi lĩnh vực, không chỉ vì Ngân hàng mà còn vì sự lớn mạnh của cả hệ
thống.
Muốn xây dựng một chiến lược thu hút khách hàng hoàn thiện, khoa học, có tính hiệu
quả cao, các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng đều phải dựa trên các mục
tiêu cơ bản trên. Việc xây dựng chiến lược thu hút khách hàng phản ánh một chức năng cơ
bản của hoạt động kinh doanh Ngân hàng cũng giông như chức năng quản trị, tài chính, kế
toán những chức năng này đều là bộ phận tất yếu về mặt tổ chức của một Ngân hàng.
nhiệm vụ cơ bản của chiến lược khách hàng là tạo khách hàng cho Ngân hàng, giống như
sản xuất tạo ra sản phẩm. Từ đó xét về yếu tố cấu thành của nội dung quản lý Ngân hàng,
thì chiến lược thu hút khách hàng là một nội dung có mối liên hệ thống nhất với các nội
dung khác. Đây là đầu mối quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường. Nếu một Ngân
hàng kinh doanh mà không thể hiểu về khách hàng của mình thì không thể thành công,
nếu một nội dung chiến lược được xây dựng không dựa trên việc phục vụ tốt nhất nhu cầu
của khách hàng và không đem lại những lợi ích thiết thực cho Ngân hàng thì không thể nói
là khả thi. Do vậy, chiến lược thu hút khách hàng là đầu mối để liên kết nội dung của các
chiến lược khác.

Trên cơ sở những mục tiêu nêu trên, Ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống thu
hút khách hàng có thể giải quyết các vấn đề bao gồm lựa chọn khách hàng, thu hút khách
hàng mới, duy trì khách hàng, đánh giá khách hàng và chăm sóc khách hàng
- Lựa chọn khách hàng: thị trường tổng thể bao gồm số lượng rất lớn khách hàng
với nhu cầu khác nhau. Việc lựa chọn khách hàng thực chất là tập trung nỗ lực
của Ngân hàng vào đúng đối tượng khách hàng, xây dựng cho mình một tính cách
riêng, một hình ảnh riêng mạnh mẽ, rõ nét để khả năng vốn có của Ngân hàng
được khai thác triệt để, có hiệu quả. Lựa chọn khách hàng bao gồm việc lựa chọn

Có rất nhiều phương pháp và tiêu thức để phân loại khách hàng. Phân nhóm khách
hàng có thể được hiểu phân theo đặc tính, tính cách riêng biệt của từng nhóm khách hàng
của Ngân hàng có thể đưa ra một phương pháp riêng để tiếp xúc với họ một cách có hiệu
quả. Phương pháp này giúp Ngân hàng chi tiêu ngân sách giành cho marketing một cách
khôn ngoan, chỉ sử dụng phương tiện này để tiếp cận với khách hàng đã được xác định.
Phân loại khách hàng theo 5 tiêu chí dưới đây để đảm bảo rằng Ngân hàng đã phân loại
chính xác các nhóm khách hàng của mình.
- Loại khách hàng: Có lẽ cách cơ bản nhất để phân nhóm khách hàng là phải xác
định được mục tiêu kế hoạch mà Ngân hàng nhắm tới là người tiêu dùng hay các
doanh nghiệp Một số Ngân hàng có thể thành công trong việc đặt mục tiêu cho
cả hai nhóm trong khi sẽ có một số điểm trùng nhau, Ngân hàng gần như cần phải
tạo ra điểm riêng biệt cho thông điệp marketing hiệu quả nhất
- Theo địa lý: Ví trí địa lý cư trú khách hàng sẽ rất quan trọng trong việc quyết định
biện pháp marketing mà doanh nghiệp sẽ áp dụng. Khách hàng có thể ở địa
phương, khu vực, trong nước hay quốc tế. Đối với một số doanh nghiệp, mục tiêu
của họ rất rõ ràng - khách hàng mục tiêu của cửa hàng giặt là khô chỉ sống trong
phạm vi vài dặm trong vùng. Trong các trường hợp như vậy, có lẽ sẽ tốt nếu chia
thành vùng thị trường theo lãnh thổ nhỏ hơn - ví dụ mã vùng hay vùng lân cận.

Tương tự như vậy, người bán hàng trong nước hay quốc tế có thể muốn tìm đến
những thành phố hay quốc gia mà phần lớn khách hàng của họ cư trú để giúp họ
làm tăng thêm tiêu điểm của họ.
- Theo nhân khẩu: Nhân khẩu là số liệu thống kê quan trọng cơ bản trong phần cơ
sở khách hàng của bạn. Bằng cách phân loại theo nhân khẩu, bạn có thể xác định
những đặc điểm thống kê cụ thể để phân loại riêng khách hàng. Nếu doanh nghiệp
bạn đang đặt mục tiêu vào khách hàng, việc phân loại theo nhân khẩu có thể bao
gồm một số đặc điểm như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, phân loại nghề nghiệp

thích, vui chơi giải trí, hay những thú tiêu khiển khác. Những cách phân loại này
rất quan trọng vì biến số có thể được sử dụng để dự đoán cách cư xử khi mua
hàng trong tương lai.
Ngoài những tiêu chí trên, thông thường các NHTM thường phân loại khách hàng theo
4 nhóm khách hàng chủ yếu sau:
2.1.1. Nhóm khách hàng thường xuyên:
Đây là nhóm khách hàng lâu năm, có truyền thống của Ngân hàng. Họ thường là các
doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân lớn. Nhóm khách hàng này đem lại
những lợi nhuận cố định trong những khoản thời gian cố định có thể là một tuần, một
tháng, một năm…
Nhóm khách hàng này thường không đem lại những khoản lợi nhuận bất thường. Mối
quan hệ giữa họ và Ngân hàng hình thành dựa trên uy tín, tính rủi ro trong mối quan hệ
này thường rất thấp.Bên cạnh đó, họ thường chỉ tham gia vào một số loại hình dịch vụ
nhất định. Việc duy trì quan hệ với nhóm khách hàng này sẽ đảm bảo được nguồn vốn huy
động lớn, ít biến động cho Ngân hàng, và quan trọng hơn và giảm thiểu tối đa những rủi ro
trong thanh toán và tín dụng
2.1.2. Nhóm khách hàng không thường xuyên

Nhóm khách hàng này chủ yếu là các cá nhân hoặc các tổ chức doanh nghiệp nhỏ, chỉ
sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng trong thời gian ngắn, không có định. Họ chỉ sử dụng
khi có nhu cầu cần thiết. Nhóm khách hàng này thường không quan tâm nhiều tới vị thế
của Ngân hàng trên thị trường. Họ chỉ quan tâm tới những vấn đề như lãi suất khi vay, lợi
nhuận khi gửi tiền, cước phí dịch vụ, các dịch vụ của Ngân hàng… vì thời gian họ làm
việc với Ngân hàng thường rất ngắn và không thường xuyên.
2.1.3. Nhóm khách hàng mục tiêu
Khách hàng mục tiêu là những khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà Ngân
hàng có khả năng đáp ứng được, đồng thời có thể tạo ra ưu thế hơn so với các đối thủ cạnh

Ngân hàng nếu được Ngân hàng đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ. Khách hàng
tiềm năng còn là những khách hàng có độ trung thành rất cao với đối tác của mình, Ngân
hàng có thể lựa chọn họ thông qua việc tìm hiểu về lịch sử uy tín trong kinh doanh với bạn
hàng. Những khách hàng này nếu được lựa chọn đúng sẽ là một sự khởi đầu tốt đẹp cho
mối quan hệ kinh doanh của Ngân hàng, một sự hợp tác chặt chẽ trong kinh doanh và tạo
rào cản cho Ngân hàng thoát khỏi sự tranh giành của đối thủ. tuy nhiên, những khách hàng
đôi khi chứa đựng những khó khăn cho Ngân hàng vì họ biết lợi thế của mình trong cạnh
tranh giữa các Ngân hàng, do vậy sẽ không ngừng đòi hỏi cao về các nhu cầu dịch vụ
Ngân hàng, phục vụ tốt những khách hàng tiềm năng cũng thể hiện trình độ của nhân viên
Ngân hàng trong kinh doanh và trong giao tiếp.
2.1.5. Trong hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng
Hải (MSB) chỉ phân loại khách hàng của mình thành 2 nhóm cơ bản như sau:
- Nhóm khách hàng thường xuyên: Đây là nhóm khách hàng đã có quan hệ lâu
năm với MSB. Đó là những khách hàng thuộc các Tổng công ty: Bưu chính

Viễn thông, Hàng hải, Bảo Việt… Ưu tiên hàng đầu đối với nhóm khách hàng
này là duy trì và nâng cao mối quan hệ lâu năm
- Nhóm khách hàng không thường xuyên: Đối với MSB, đây là nhóm khách
hàng đang là mối quan tâm lớn trong hoạt động Marketing. Nhóm khách hàng
này chủ yếu là tập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với các cá
nhân có thu nhập cao và ổn định, kinh doanh cá thể. Đối với nhóm khách hàng
này cần tiếp cận về tín dụng và dịch vụ Ngân hàng nhiều hơn để tạo sự tin
tưởng và gây ấn tượng đối với họ.
2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khách hàng và thu hút khách hàng của NHTM
Bất kỳ một khách hàng nào khi quan hệ với Ngân hàng đều tiềm ẩn những yêu tố rủi ro
đối với Ngân hàng, có thể là rủi ro mang tính chủ quan hoặc khách quan, có thể đó là
những rủi ro thông tin hoặc rủi ro đạo đức. Đối với Ngân hàng, khác với các tổ chức kinh
- Chỉ tiêu 2:
Tỉ lệ % thâm nhập khách hàng cao cho thấy vai trò, khả năng thâm nhập mở rộng thị
phần của Ngân hàng và ngược lại. Tỉ lệ thâm nhập khách hàng của các Ngân hàng Pháp,
Hồng Kông thường từ 97% - 98%
Mục tiêu lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của hoạt động kinh doanh Ngân hàng
nhưng không phải vì mục tiêu này mà bất chấp tất cả. Một Ngân hàng hoạt động kinh
doanh thành công là một Ngân hàng đạt mức lợi nhuận tối ưu, chi phí tối thiểu và giảm
thiểu rủi ro. Ngân hàng phải luôn sẵn sàng từ bỏ khách hàng của mình nếu biết rõ rằng họ
không có trách nhiệm trong phòng ngừa, hạn chế rủi ro cùng Ngân hàng mặc dù quan hệ
Tỉ lệ thâm nhập =
khách hàng
Tổng số khách hàng của Ngân hàng

X 100%

Tổng số dân số

với khách hàng đó sẽ đem lại cho Ngân hàng mức lợi nhuận cao. Nhưng một Ngân hàng
cũng sẽ sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận cho khách hàng, thậm chí chấp nhận không có lợi
nhuận trong một thời gian để duy trì một khách hàng có mối quan hệ tốt trong kinh doanh,
có uy tín trong thanh toán và sự trung thực. Có thể trong một thời gian Ngân hàng không
thu được lợi nhuận từ khách hàng đó nhưng đổi lại là mối quan hệ lâu dài và những lợi ích
mà Ngân hàng sẽ thu được trong tương lai. Đánh giá khách hàng thường tập trung vào
việc tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng, tình hình tài chính của họ, uy tín
trong giao tiếp khi làm tốt việc đánh giá khách hàng, Ngân hàng có điều kiện lựa chọn,

+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp quy
định của pháp luật.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khách hàng và biện pháp thu hút khách hàng của
NHTM
3.1. Nhu cầu của khách hàng:
Nhu cầu thị trường thường được hiểu một cách đơn giản là sự đỏi hỏi của con người về
một vật phẩm nào đó. Nhưng thực ra nhu cầu thị trường là một thuật ngữ mà nội dung của
nó bao gồm ba mức độ: nhu cầu tự nhiên, mong muốn và nhu cầu có khả năng thanh toán
- Nhu cầu tự nhiên: là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận
được. Nhu cầu tự nhiên được hình thành là do trạng thái ý thức của người ta về
việc thấy thiếu thốn một cái gì đó để phục vụ cho tiêu dùng. Nhu cầu tự nhiên là
vốn có, là một mặt bản thể của con người. Để hoạt động thu hút khách hàng đạt
hiệu quả, Ngân hàng cần chú ý phát hiện ra những trạng thái thiếu hụt này, tức là
phải phát hiện ra những nhu cầu tự nhiên mới. Việc phát hiện ra những nhu cầu tự

nhiên này sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh và hiệu quả trong kinh doanh của
Ngân hàng. Tuy nhiên, trong hoạt động thu hút khách hàng, Ngân hàng cũng cần
phải chú ý tới mức độ cao hơn của nhu cầu tự nhiên, đó là mong muốn.
- Mong muốn: là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù, đòi hỏi được đáp lại bằng một
hình thức đặc thù phù hợp với trình độ văn hóa và tính cách cá nhân của con
người. Chỉ có phát hiện ra mong muốn của từng khách hàng hoặc của một nhóm
khách hàng sẽ giúp Ngân hàng tạo ra những dịch vụ mang tính đặc thù, phù hợp
với mong muốn của những khách hàng đó, nâng cao khả năng cạnh tranh đối với
các Ngân hàng đối thủ. Tuy nhiên, phát hiện ra mong muốn về từng khía cạnh của
nhu cầu thường khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Đôi khi, mong muốn
của khách hàng tồn tại dưới dạng tiềm ẩn mà chính họ cũng không nhân thức

Trước đây, tình trạng độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng còn tồn tại do
không có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc thành lập Ngân hàng. Vì vậy, sự lựa chọn của
khách hàng rất ít. Tuy nhiên, đến nay, Chính phủ đã có những chính sách tạo điều kiện
thuận lợi trong việc thành lập NHTM, dần thủ tiêu sự độc quyền trong lĩnh vực Ngân
hàng. Đối với Việt Nam, sự ra đời của Nghị định 53/HĐBT ngày 26 – 3 – 1988 của Hội
đồng Bộ trưởng - nay là Chính phủ - về việc tổ chức lại mô hình hoạt động Ngân hàng
(chia làm 2 loại hình: Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thương mại). Sự ra đời của
Nghị định này đã mở ra một thời kỳ mới trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng, xuất hiện
sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại, khách hàng có quyền lựa chọn giữa các
Ngân hàng, đồng nghĩa với việc các Ngân hàng phải có những biện pháp thu hút khách
hàng về phía mình.
Với việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các hoạt động
thương mại quốc tế ngày càng được thực hiện nhiều, vì vậy việc sử dụng tài khoản tiền gửi
cũng như thanh toán bằng L/C ngày một được quan tâm hơn. Ngân hàng Thương mại cổ
phần Hàng Hải là một trong những Ngân hàng có số lượng giao dịch, thanh toán quốc tế

lớn nhất trong cả nước với thu nhập bình quân khoảng 15tỷVND/năm. Với tình hình hiện
nay, khi các hoạt động xuất nhập khẩu ngày các tăng thì Ngân hàng Thương mại cổ phần
Hàng Hải sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong tương lai.
3.3. Sự cạnh tranh của các Ngân hàng đối thủ khác và vị thế của Ngân hàng Thương mại
cổ phần Hàng Hải trên thị trường
Trong hoạt động kinh doanh, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Trong kinh
doanh Ngân hàng, các NHTM không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh về
dịch vụ ngân hàng của các tổ chức phi ngân hàng. Đặc biệt, sau Hiệp định thương mại
Việt – Mỹ được ký, các Ngân hàng Mỹ sẽ có cơ hội rất lớn để thành lập các Ngân hàng
100% vốn Mỹ tại Việt Nam. Với số lượng Ngân hàng ngày một tăng như vậy, hoạt động
thu hút khách hàng của Ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian sắp tới.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải là Ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam
sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực. Được
thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, MSB chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 12/07/1991.
Ban đầu, vốn điều lệ của MSB là 40 tỷ đồng và từ 28/04/2006 được nâng lên 320 tỷ đồng.
Thời hạn hoạt động của Ngân hàng là 99 năm. Hiện nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần
Hàng Hải đã có mạng lưới giao dịch trải rộng trên khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam với hệ
thống 19 chi nhánh, phòng giao dịch và gần 600 CBNV tại những đầu mối kinh tế quan
trọng của cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, TP HCM,
Cần Thơ…Bên cạnh đó, Ngân hàng đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 200 ngân hàng và
chi nhánh ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới, nhằm thúc đẩy tốc độ của hoạt động thanh
toán quốc tế. Trở thành thành viên của nhiều tổ chức liên ngân hàng trong nước và thế giới

như Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Tổ chức Thanh toán
toàn cầu SWIFT, Đại lý chuyển tiền nhanh toàn cầu Money Gram… với mục đích nâng
cao vị thế của MSB trong thị trường tài chính Việt Nam và hội nhập kinh tế thế giới và
thực hiện chính sách giao dịch một cửa (uni-teller), đảm bảo sự nhanh chóng, thuận lợi tối
đa cho khách hàng.
Lĩnh vực kinh doanh của MSB là hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ
tài chính, tiền tệ, ngân hàng với nội dung thường xuyên là thực tiễn nghiệp vụ Nợ, nghiệp
vụ Có và các dịch vụ ngân hàng được quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động
của MSB và tuân thủ các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm phục vụ cho sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển của khách hàng thuộc các ngành kinh tế. Là một
NHTM, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải có thể thực hiện các chức năng như:
- Thực hiện các hình thức huy động vốn
- Thực hiện các hoạt động tín dụng
- Bảo lãnh vay, thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…

Phòng Ki
ểm soát
nội bộ
Phòng T
ổ chức
hành chính
Chi
nhánh
Hà Nội
Chi
nhánh
Đà
Nẵng
Chi
nhánh
Cần
Thơ
Chi
nhánh
TP Hồ
Chí
Minh
Chi
nhánh
Quảng
Ninh
Chi
nhánh
Vũng
Tàu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status