LUẬN VĂN: Khách hàng và các biên pháp thu hút khách hàng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Khách hàng và các biên pháp thu hút
khách hàng của Ngân hàng Thương
mại cổ phần Hàng Hải
Lời mở đầu

Đối với tất cả các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh, khách hàng và thu
hút khách hàng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Khách hàng chính là những người
cung cấp hoạt động kinh doanh,quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức. Đối
với Ngân hàng thương mại (NHTM), khách hàng không chỉ mang lại lợi nhuận mà còn cung
cấp vốn để duy trì hoạt động của một Ngân hàng (trên 70% vốn hoạt động hiện nay của các
NHTM được huy động từ khách hàng). Do vậy, bên cạnh xây dựng các chiến lược kinh
doanh, các NHTM cũng rất chú trọng tới các biện pháp thu hút khách hàng, đặc biệt trong
tình trạng cạnh tranh hiện nay ngày các gay gắt thì việc thu hút khách hàng được coi là yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.

trường
Chương II: Thực trạng thu hút khách hàng hiện nay tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Hàng Hải
Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm thu hút khách hàng của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Hàng Hải
Ngân hàng TMCP nói chung và của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải nói
riêng.

Chương I: Những vấn đề cơ bản về khách hàng của NHTM trong nền kinh tế thị
trường
1. Khái quát về khách hàng và vai trò của khách hàng trong hoạt động kinh doanh
của NHTM
1.1. Khái quát về khách hàng của NHTM
Khách hàng đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sự thành
công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy mô khách
hàng tạo nên quy mô thị trường. Khách hàng sẽ bao gồm nhu cầu. Bản thân nhu cầu lại
không giống nhau giữa các nhóm khách hàng và thường xuyên biến đổi. Nhu cầu và sự biến
đổi nhu cầu lại chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, đến lượt minh nhu cầu và sự biến đổi của
nó lại ảnh hưởng đến toàn bộ các quyết định Marketing của doanh nghiệp nói chung và
NHTM nói riêng. Vì vậy, NHTM phải thường xuyên theo dõi khách hàng và tiên liệu những
biến đổi về nhu cầu của họ.

mãn nhu cầu của bản thân bằng các sản phẩm hay dịch vụ mà mình có thể thanh toán) được
hình thành từ khi bắt đầu có sự trao đổi. Hoạt động kinh tế không thể hình thành nếu thiếu
một trong hai nhân tố trên. Nếu trước đây, khi nền kinh tế độc quyền còn tồn tại, vai trò của
khách hàng không được coi trọng thì hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, khách hàng luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp kinh tế. Khách hàng có quyền quyết định hoạt
động mua sắm, sử dụng dịch vụ của họ theo nhu cầu và các doanh nghiệp phải hướng theo
nhu cầu đó để hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp đều hiểu rằng muốn thu được lợi
nhuận cần phải thu hút được nhiều khách hàng.Đối với NHTM hiện nay, khi lĩnh vực Ngân
hàng không còn mang tính chất độc quyền, việc thành lập một Ngân hàng đã trở nên đơn
giản hơn rất nhiều do sự hỗ trợ của chính sách Nhà nước thì việc thu hút khách hàng càng
trở nên quan trọng.Bởi vì khách hàng vừa là người đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng vừa là
người cung cấp vốn huy động và các khoản cho vay cho Ngân hàng. Vì vậy, các biện pháp
thu hút khách hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp kinh tế nói chung
và của NHTM nói riêng.
1.2.2. Vai trò của hoạt động thu hút khách hàng
Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự phát triển của cạnh tranh, NHTM không thể
đơn thuần chỉ kinh doanh theo phương pháp cũ là dựa vào những khách hàng truyền thống
trong thị trường truyền thống mặc dù những khách hàng này luôn là nhân tố chủ yếu mang
lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Đã đến lúc NHTM phải nghĩ đến việc mở rộng hoạt động kinh
doanh thông qua việc xây dựng các chiến lược kinh doanh cụ thể. Mỗi nghiệp vụ kinh
doanh của Ngân hàng đều có một chiến lược hoạt động riêng trong mục tiêu tổng thể của
từng thời kỳ, từng giai đoạn. Thế độc quyền trong kinh doanh của NHTM dần bị phá vỡ bởi
các tổ chức phi Ngân hàng và tác động của cơ chế chính sách kinh tế thời mở của Việt Nam.
Để thoát khỏi tình trạng thất bại trong hoạt động kinh doanh của mình, NHTM phải áp dụng
Marketing vào hoạt động của mình và cần phải có những biện pháp thu hút khách hàng
thích hợp, thiết thực. Hoạt động thu hút khách hàng sẽ đem lại cho Ngân hàng một số lợi ích
sau:

đánh giá dựa trên nhiều yếu tố trong đó có yếu tố thị phần. Chiến lược thu hút khách hàng
của Ngân hàng trong thời gian ngắn có thể không có mục tiêu mở rộng thị phần nhưng trong
một giai đoạn kinh doanh dài thì mục tiêu này luôn được đặt lên hàng đầu bởi nó quyết định
vị thế của Ngân hàng trên thị trường, khả năng thắng thế trong cạnh tranh của Ngân hàng và
sự ổn định của kinh doanh Ngân hàng.
- Đảm bảo an toàn cho Ngân hàng
Kinh doanh Ngân hàng là hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro nhất. Chiến lược thu
hút khách hàng không chỉ mang mục đích thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, cung
ứng được nhiều sản phẩm dịch vụ, giúp Ngân hàng đạt lợi nhuận tối ưu mà còn có mục tiêu
giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng xuống mức thấp nhất. Sự tin tưởng của khách hàng vào
Ngân hàng không chỉ ở chất lượng dịch vụ mà còn là sự an toàn cho tài sản của họ. Một
trong những việc làm quan trọng của chiến lược khách hàng để giảm rủi ro là đánh giá
khách hàng thông qua quan hệ giao tiếp, theo dõi, giám sát hoạt động. Khi rủi ro kinh doanh
càng thấp có nghĩa là sự an toàn của Ngân hàng càng cao và hiệu quả của chiến lược khách
hàng càng cao, cũng đồng nghĩa với việc chất lượng hoạt động của Ngân hàng tốt.
- Tăng vị thế, tạo uy tín của Ngân hàng trên thị trường
Khách hàng luôn hoài nghi do dự khi thiết lập mối quan hệ với Ngân hàng lần đầu
tiên, đây là vấn đề dễ hiểu, là phản ứng tự nhiên của khách hàng. Do đó, trong quá trình
hoạt động kinh doanh Ngân hàng cần phải tạo được uy tín và vị thế của mình trên thị
trường, tạo niềm tin cho khách hàng khi giao dịch nếu Ngân hàng muốn kinh doanh thành
công. Uy tín và vị thế của Ngân hàng trên thị trường là điều cần thiết sống còn với người
hoạt động trong lĩnh vực này, phải lao động vất vả và thận trọng mới có được nó. Đồng thời,
từ uy tín và vị thế đó Ngân hàng mới có cơ hội phát triển, do vậy, cần hoạch định những
chiến lược được nghiền ngẫm kỹ lưỡng nhằm chiếm được lòng tin của khách hàng. Chiến
lược thu hút khách hàng với nội dung tìm hiểu nhu cầu của khách hàng để đáp ứng một cách
tốt nhất, duy trì khách hàng cũ cũng chính là thực hiện mục tiêu tăng vị thế, uy tín của Ngân
hàng trên thị trường. như John Shaw viết trong tác phẩm chiến lược thị trường của mình

kinh doanh mà không thể hiểu về khách hàng của mình thì không thể thành công, nếu một
nội dung chiến lược được xây dựng không dựa trên việc phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách
hàng và không đem lại những lợi ích thiết thực cho Ngân hàng thì không thể nói là khả thi.
Do vậy, chiến lược thu hút khách hàng là đầu mối để liên kết nội dung của các chiến lược
khác.
Trên cơ sở những mục tiêu nêu trên, Ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống thu
hút khách hàng có thể giải quyết các vấn đề bao gồm lựa chọn khách hàng, thu hút khách
hàng mới, duy trì khách hàng, đánh giá khách hàng và chăm sóc khách hàng
- Lựa chọn khách hàng: thị trường tổng thể bao gồm số lượng rất lớn khách
hàng với nhu cầu khác nhau. Việc lựa chọn khách hàng thực chất là tập trung nỗ lực của
Ngân hàng vào đúng đối tượng khách hàng, xây dựng cho mình một tính cách riêng, một
hình ảnh riêng mạnh mẽ, rõ nét để khả năng vốn có của Ngân hàng được khai thác triệt để,
có hiệu quả. Lựa chọn khách hàng bao gồm việc lựa chọn khách hàng mục tiêu, xác định
khách hàng tiềm năng để hình thành cách tiếp cận với từng loại khách hàng.
- Thu hút khách hàng mới: xây dựng chiến lược thu hút khách hàng là cung cấp
cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn. Việc thu hút khách hàng mới
sẽ góp phần mở rộng mạng lưới giao dịch và khách hàng của Ngân hàng. Đây cũng là điều
kiện để Ngân hàng có thể phát triển thêm vốn huy động và các khoản cho vay.
- Duy trì khách hàng: Việc duy trì quan hệ với khách hàng cũ sẽ giúp Ngân
hàng nâng cao uy tín trên thị trường đồng thời đem lại những khoản lợi nhuận ổn định. Tuy
nhiên, để duy trì khách hàng cũ, Ngân hàng cần tiếp thu những ý kiến phản hồi của khách
hàng để khắc phục những nhược điểm, sai lầm của mình. Điều đó rất có lợi cho Ngân hàng
trong việc thu thập thông tin phản ánh về Ngân hàng của khách hàng, vừa tạo cho khách
hàng tin tưởng rằng họ luôn được Ngân hàng coi trọng.
- Đánh giá khách hàng: Thực chất là quá trình thẩm định, tìm hiểu về hoạt động
kinh doanh, năng lực tài chính, uy tín… của khách hàng. Việc đánh giá đúng mức và chính
xác khách hàng sẽ giúp Ngân hàng giảm thiểu những rủi ro trong giao dịch. Vấn đề này sẽ
quốc tế có thể muốn tìm đến những thành phố hay quốc gia mà phần lớn khách hàng của họ
cư trú để giúp họ làm tăng thêm tiêu điểm của họ.
- Theo nhân khẩu: Nhân khẩu là số liệu thống kê quan trọng cơ bản trong phần cơ
sở khách hàng của bạn. Bằng cách phân loại theo nhân khẩu, bạn có thể xác định những đặc
điểm thống kê cụ thể để phân loại riêng khách hàng. Nếu doanh nghiệp bạn đang đặt mục
tiêu vào khách hàng, việc phân loại theo nhân khẩu có thể bao gồm một số đặc điểm như
tuổi, giới tính, trình độ học vấn, phân loại nghề nghiệp (công nhân hay công chức), thu
nhập, tình trạng hôn nhân, và dân tộc hay tôn giáo. Nó không cần thiết phải sử dụng tất cả
những tiêu chí này; hơn là, bạn muốn tập trung nghiên cứu vào những người phù hợp nhất
với sản phẩm hay dịch vụ của bạn. Mặt khác, nhân khẩu trong kinh doanh có thể được chia
nhỏ theo các cách khác nhau. Bắt đầu bằng việc xem khách hàng mục tiêu đang làm việc
trong ngành công nghiệp nào Bạn có thể phân loại khách hàng mục tiêu theo quy mô của
doanh nghiệp dựa vào số nhân viên hay tổng doanh số. Cuối cùng, xem ai đưa ra các quyết
định mua sản phẩm hay dịch vụ của bạn - chức danh của người đó là gì và người đó làm
việc ở bộ phận nào?
- Phân theo tâm lý: Phân loại theo tâm lý liên quan đến tính cách và cách cư xử
mà nó ảnh hưởng tới việc mua hàng hoá. Nói cách khác, thói quen mua bán của khách hàng
là gì? Ví dụ, khách hàng đó có bốc đồng hay sợ rủi ro? Có nhiều biến số mà bạn có thể xem
xét và chúng thường đối lập với nhau, nhưng có một số các yếu tố quan trọng về tâm lý
thông thường như:
+ Khuynh hướng của một nhóm khách hàng thiên về mua sản phẩm hay dịch vụ mới
so với nhóm khác
+ Những tác động đến thói quen mua hàng (ví dụ áp lực của những người cùng địa vị
hay trình độ học vấn)
+ Các thuộc tính của sản phẩm hay dịch vụ quan trọng với khách hàng.

khi gửi tiền, cước phí dịch vụ, các dịch vụ của Ngân hàng… vì thời gian họ làm việc với
Ngân hàng thường rất ngắn và không thường xuyên.
2.1.3. Nhóm khách hàng mục tiêu
Khách hàng mục tiêu là những khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà
Ngân hàng có khả năng đáp ứng được, đồng thời có thể tạo ra ưu thế hơn so với các đối thủ
cạnh tranh và đạt được những mục tiêu nhất định
Khách hàng mục tiêu sẽ thay đổi khi Ngân hàng thay đổi hình thức kinh doanh dịch
vụ hoặc khi khách hàng phải thay đổi, học hỏi, phát triển do sức ép trong kinh doanh của
mình, nếu Ngân hàng không thay đổi có thể sẽ bị từ bỏ. Hơn nữa, ngay cả khi Ngân hàng
thành công trong việc lựa chọn khách hàng và cùng phát triển thì Ngân hàng cũng phải để ý
đến các đối thủ cạnh tranh vì các chiến lược của họ thay đổi và phát triển liên tục.
Khách hàng mục tiêu là những đối tượng mà Ngân hàng sẽ phục vụ trong một thời
gian tương đối dài và hướng vào đó các chiến lược của mình, do vậy việc lựa chọn khách
hàng mục tiêu phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau
- Đó là những khách hàng có tính hấp dẫn cao, thể hiện về quy mô phải lớn, tốc đọ
phát triển cao, có khả năng sinh lời cao, mức độ rủi ro thấp, mức độ cạnh tranh của các đối
thủ thập và chi phí Marketing thấp.
- Khách hàng mục tiêu phải phù hợp với mục tiêu chiến lược của Ngân hàng trong
mỗi giai đoạn cụ thể.
- Phù hợp vơi khả năng, nguồn lực của Ngân hàng
- Ngân hàng có thể khai thác tối đa sở trường, lợi thế, cơ hội có được, hạn chế
những bất lợi, nguy cơ thách thức.
So với khách hàng của các loại hình doanh nghiệp khác, thị trường khách hàng của
Ngân hàng là thị trường chứa dựng nhiều rủi ro do tính chất phức tạp của nhu cầu dịch vụ
tài chính – Ngân hàng. Vì vậy, để lựa chọn được được thị trường khách hàng mục tiêu thỏa
mãn các điều kiện trên là việc làm hết sức khó khăn đối với Ngân hàng
2.1.4. Nhóm khách hàng tiềm năng

ro đối với Ngân hàng, có thể là rủi ro mang tính chủ quan hoặc khách quan, có thể đó là
những rủi ro thông tin hoặc rủi ro đạo đức. Đối với Ngân hàng, khác với các tổ chức kinh
doanh khác, không bao giờ có khái niệm mạo hiểm trong kinh doanh, mọi quyết định đều
phải cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi đưa ra, không thể sai đâu sửa đấy bởi Ngân hàng là nơi
nắm giữ một lượng tài sản lớn của xã hội. Hơn nữa, rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý
muốn, không ai có thể loại trừ hết nhưng có thể ngăn chặn và giảm thiểu được. Do đặc thù
kinh doanh của NHTM là kinh doanh tiền tệ và quyền sở hữu tiền tệ nên càng không cho
phép rủi ro xảy ra. Ngân hàng, vì vậy, luôn phải đánh giá khách hàng, cho dù khách hàng đó
là mới hay cũ do tính cấp thiết của những nguyên nhân nêu trên.
Đánh giá khách hàng hay còn gọi là thẩm định khách hàng thực chất là tìm hiểu về
quá trình hoạt động kinh doanh, năng lực tài chính, uy tín và nhiều nhân tố khác của khách
hàng. Đánh giá đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tín dụng của Ngân hàng, bởi đa phần
rủi ro xảy ra do nguyên nhân từ khách hàng là khả năng không trả được nợ đúng hạn dẫn
đến nguy cơ thiếu vốn hoặc mất vốn của Ngân hàng, đánh giá khách hàng tín dụng được
thực hiện rất kỹ lưỡng trong quy trình tín dụng của Ngân hàng, đối với chiến lược khách
hàng đánh giá khách hàng nhằm góp thêm phần giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng, quá trình
xây dựng chiến lược khách hàng, cán bộ Ngân hàng đã có tầm nhìn tổng quát về nhu cầu
khách hàng, tìm hiểu họ và cần đánh giá lại họ về nhiều khía cạnh tạo điều kiện dễ dàng cho
công tác thẩm định tín dụng. Trong hoạt động nghiên cứu khách hàng, Ngân hàng thường sử
dụng 2 chỉ tiêu sau để đánh giá khách hàng:
- Chỉ tiêu 1:
Hệ số sử dụng sản phẩm =
Ngân hàng
T
ổng số sản phẩmdịch vụ Ngân hàng
hàng sẽ thu được trong tương lai. Đánh giá khách hàng thường tập trung vào việc tìm hiểu
hoạt động kinh doanh của khách hàng, tình hình tài chính của họ, uy tín trong giao tiếp khi
làm tốt việc đánh giá khách hàng, Ngân hàng có điều kiện lựa chọn, phân loại và quản lý đối
tượng khách hàng dễ dàng hơn, hiệu quả hơn.
Trong môi trường hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng Thương mại cổ phần
Hàng Hải cũng có những tiêu chí riêng để thực hiện đánh giá khách hàng của mình. Ngân
hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải chủ yếu đánh giá khách hàng theo 2 nhóm chính như
sau:
- Đối với khách hàng cá nhân: Khi sử dụng các dịch vụ của MSB, khách hàng
là cá nhân cần phải đáp ứng được một số yêu cầu chung như: đảm bảo tư cách pháp nhân,
có năng lực hành vi nhân sự, có khả năng đảm bảo tài chính. Còn đối với từng dịch vụ sẽ có
những yêu cầu riêng đối với khách hàng sử dụng. Ví dụ đối với khách hàng đề nghị vay vốn
cần phải đảm bảo đủ các yêu cầu sau đây:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
+ Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết: Khách hàng có
nguồn thu nhập ổn định hoặc nguồn thu khác để trả nợ.
+ Tài sản đảm bảo cho khoản vay thuộc sở hữu của người vay hoặc của người
bảo lãnh bao gồm:Bất động sản, giấy tờ có giá hoặc bằng chính căn nhà, đất định mua hoặc
xây dựng sửa chữa, ô tô do Ngân hàng Hàng Hải tài trợ cho vay.
- Đối với khách hàng doanh nghiệp: Doanh nghiệp tham gia đăng ký vay vốn cần
phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự
theo quy định của pháp luật.
+ Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
+ Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

hàng, Ngân hàng cần chú ý tới một nội dung khác của nhu cầu thị trường – nhu cầu có khả
năng thanh toán.
- Nhu cầu có khả năng thanh toán: là nhu cầu tự nhiên và mong muốn phù hợp với
khả năng mua sắm. Để thỏa mãn được nhu cầu có khả năng thanh toán của khách hàng,
Ngân hàng phải hiểu rõ được “khách hàng sẽ cần loại dịch vụ nào? Dịch vụ đó phải có
những đặc điểm gì? Đâu là đặc trưng quan trọng nhất? Cần chi phí bao nhiêu để tạo ra dịch
vụ đó và với mức giá bao nhiêu thì khách hàng chấp nhân?”. Đây không phải là việc đơn
giản đối Ngân hàng, chỉ khi trả lời chính xác được các câu hỏi trên thì Ngân hàng mới thực
sự hiểu được nhu cầu của khách hàng và hoạt động kinh doanh mới đem lại lợi nhuận cao.
Nếu xét riêng trong phạm vi kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng
Hải, ta có thể thấy rằng khách hàng của Ngân hàng còn rất ít, số lượng khách hàng không
nhiều, hầu hết chỉ nằm trong phạm vi thuộc các Tổng công ty: Bưu chính viễn thông, Hàng
hải, Bảo Việt…số lượng khách hàng còn ít, chủ yếu là khách hàng nhỏ. Nguyên nhân của
tình trạng trên là do Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải tuy được thành lập từ năm
1991 nhưng do Hội sở được đạt dưới TP Hải Phòng cho nên các mối quan hệ với khách
hàng còn rất hạn hẹp. Nhu cầu của khách hàng về việc sử dụng các dich vụ của Ngân hàng
rất nhiều nhưng hầu như họ chủ yếu quan tâm đến các một số Ngân hàng được biết đến
nhiều như IncomBank, VietcomBank, AgriBank, BIDV (Ngân hàng đầu tư)… đối với nhiều
cá nhân hoặc doanh nghiệp, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải vẫn chưa để lại cho
họ nhiều dấu ấn. Vấn đề cần giải quyết đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải là
làm thế nào để tạo ấn tượng đối với khách hàng, nâng cao hình ảnh của Ngân hàng, tìm cách
tiếp cận với mọi đối tượng khách hàng tiềm năng của nền kinh tế…
3.2. Cơ chế, chính sách Nhà nước:
Trước đây, tình trạng độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng còn tồn tại do
không có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc thành lập Ngân hàng. Vì vậy, sự lựa chọn của
khách hàng rất ít. Tuy nhiên, đến nay, Chính phủ đã có những chính sách tạo điều kiện
thuận lợi trong việc thành lập NHTM, dần thủ tiêu sự độc quyền trong lĩnh vực Ngân hàng.

trở thành 1 trong những Ngân hàng Thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam và vươn lên
tầm cỡ thế giới.

Chương II: Thực trạng thu hút khách hàng hiện tại Ngân hàng Thương mại cổ phần
Hàng Hải

1. Đặc điểm khách hàng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải
1.1. Khái quát về quá trình hình thành, lịch sử phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ
phần Hàng Hải
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng
Hải
Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải là Ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt
Nam sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng, HTX Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực.
Được thành lập theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, MSB chính thức khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 12/07/1991.
Ban đầu, vốn điều lệ của MSB là 40 tỷ đồng và từ 28/04/2006 được nâng lên 320 tỷ đồng.
Thời hạn hoạt động của Ngân hàng là 99 năm. Hiện nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần
Hàng Hải đã có mạng lưới giao dịch trải rộng trên khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam với hệ
thống 19 chi nhánh, phòng giao dịch và gần 600 CBNV tại những đầu mối kinh tế quan
trọng của cả nước như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, TP HCM,
Cần Thơ…Bên cạnh đó, Ngân hàng đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 200 ngân hàng và
chi nhánh ngân hàng ở nhiều nước trên thế giới, nhằm thúc đẩy tốc độ của hoạt động thanh
toán quốc tế. Trở thành thành viên của nhiều tổ chức liên ngân hàng trong nước và thế giới
như Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Tổ chức Thanh toán toàn

Phòng Kế hoạch
Tổng hợp
Phòng Tài chính
Kế Toán
Sở Giao dịch Tổng Giám đốc
Ban Quản lý dự án
Phòng Xử lý rủi ro
Phòng Công nghệ
Tin học
Phòng Kiểm soát
nội bộ
Phòng Tổ chức
hành chính
Chi
nhánh
Hà Nội
Chi
nhánh
Đà
Nẵng
Chi
nhánh
Cần
Thơ
Chi
nhánh
TP Hồ
Chí
Minh
Chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status