LUẬN VĂN:
Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh
doanh Thẻ tín dụng tại Ngân Hàng
Ngoại Thương Việt Nam
Lời mở Đầu
Đối với các nước phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, tham gia vào nền kinh tế
quốc tế và khu vực là việc phát triển tất yếu. Nhận thức được xu thế của thời đại, trong những
năm qua, hệ thống NHVN luôn luôn đổi mới, vươn lên để đủ sức cạnh tranh với các NH đa
quốc gia. Các NHTM đã không ngừng củng cố và hoàn thiện để phù hợp với nền kinh tế thị
trường như hiện nay. Trong đó Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam với phương châm “ hợp
tác cùng phát triển” đã luôn cố gắng đổi mới công nghệ cung cấp những dịch vụ NH mới. Nhận
Chương 2: Thực trang kinh doanh Thẻ tín dụng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt
Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh Thẻ tín dụng taị Ngân Hàng
Ngoại Thương Việt Nam.
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thẻ tín dụng
1.1. Tổng quan về thẻ:
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ:
*Lịch sử hình thành của thẻ:
Sự ra đời của thẻ thanh toán xuất phát từ sự thay đổi chiến lược khách hàng của ngân
hàng. Trước thế kỷ 18, đặc trưng của ngân hàng là sở hữu tư nhân , quản trị ngân hàng mang
tính chất gia đình, khách hàng gửi tiền là tầng lớp thượng lưu, khách hàng vay vốn là những
người thân quen thường gọi là khách hàng truyền thống. Thời kỳ công nghiệp hoà thế kỷ 19,
ngân hàng tư nhân đã bị thay thế bằng ngân hàng cổ phần vì không đáp ứng được yêu cầu vốn
to lớn. đối tượng, phạm vi khai thác vốn của ngân hàng cổ phần đã mở rộng, hướng tới các tầng
lớp dân cư, thanh toán bằng séc phát triển mạnh, thúc đẩy ra đời Công ước Giơnevơ về séc
quốc tế 1931 và Luật séc ở các nước Châu âu, châu Mỹ. Nhưng chiến tranh thế giới thứ hai đã
làm gián đoạn xu thế này, mãi tới những năm 70, tức là sau 20 năm chiến tranh, chiến lược
khách hàng ở các nước Tây âu, Mỹ, Nhật Bản đã trở thành cuộc cách mạng về khách hàng
hướng tới quảng đại dân số là tầng lớp trung lưu và hạ lưu. Sự thay đổi chiến lược khách hàng
đã dẫn tới sự gia tăng mạnh mẽ khối lượng giao dịch của ngân hàng nhăm thoả mãn dịch vụ tài
chính gia đình và cá nhân của hàng trăm triệu người, trở thành áp lực thúc đẩy các ngân hàng
đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng và ứng dụng công nghệ mới. Thẻ thanh toán điện tử của ngân
viên của tập đoàn quốc tế VISA. Access là một thành viên của tập đoàn Master Card. Vào cuối
những năm 70, Access hội nhập Master Card, còn Barclay Card hội nhập thẻ VISA.
*Sự phát triển của thẻ:
Tiền tệ được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất của con người. Tiền đề
ra đời và được hoàn thiện nhằm vào hai mục tiêu chính là sự tiện lợi và an toàn. Qua nhiều hình
thái phát triển, ngày nay bằng kỹ thuật hiện đại, tiền tệ đã đạt đỉnh cao chất lượng. Đó là tiền
điện tử - một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tiên tiến và hiện đại. Thẻ thanh toán
là một dạng của loại tiền điện tử không dùng tiền mặt đó. Thẻ thanh toán ra đời không những
nhằm vào hai mục tiêu trên, mà còn thể hiện tính văn minh, hiện đại của thời kỳ hiện đại hoá,
toàn cầu hoá.
Ra đời trên cơ sở sự phát triển của kỹ thuật tin học, thẻ ngân hàng đã trở thành một công
cụ thanh toán thông dụng ở các nước phát triển trên thế giới, một lĩnh vực kinh doanh đem lại
nhiều lợi nhuận cho các công ty và các ngân hàng. Thẻ thanh toán quốc tế là những loại thẻ
được chấp nhận rộng rãi trên phạm vi toàn cầu như thẻ Visa, Master Card, JCB, American
Express (Amex) Đó là các loại thẻ được sử dụng phổ biến và thay nhau phân chia thị trường
rộng lớn.
- Thẻ Dinners Club: là loại thẻ đầu tiên được phát hành vào năm 1949, tập trung vào
lĩnh vực du lịch và giải trí
- Thẻ American Express (gọi tắt là Amex): ra đời vào năm 1958. Hiện nay, đây là tổ
chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới. Tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần Dinners Club và
gấp 2 lần JCB. Khác biệt với các thẻ khác là ở chỗ Amex tự phát hành thẻ của chính mình và
trực tiếp quản lý chủ thẻ, không cấp giấy phép để trở thành thành viên cho các công ty tài chính
- ngân hàng. Green Amex là thể đầu tiên do tổ chức American Express phát hành vào năm
1958. Thẻ này không có hạn mức tín dụng, chủ thẻ được phép tiêu dùng và có trách nhiệm trả
một lần vào cuối tháng.
Đến năm 1987, Amex cho ra đời loại thẻ tín dụng mới - Amex Optima - có hạn mức tín dụng
tuần hoàn và cạnh tranh với Visa, Master Card.
- Thẻ Visa xuất phát từ thẻ Bank of Americard do Bank of American (ngân hàng Mỹ)
phát hành vào năm 1960. Năm 1977, Bank of Americard trở thành thẻ Visa. Tổ chức thẻ quốc
*Thẻ tín dụng:
Thẻ tín dụng là thẻ do ngân hàng phát hành để chủ thẻ sử dụng thanh toán hàng hoá,
dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được ngân hàng phát hành thẻ chấp nhận
trong hợp đồng ký kết.
Như vậy thẻ tín dụng giúp cho việc mua hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau. Nó là một
dịch vụ thanh toán với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng căn
cứ vào khả năng tài chính, sổ tiền ký quỹ, hoặc tài sản thế chấp. Đây là một dạng tín dụng tuần
hoàn dành cho thanh toán. Mỗi người có thể được cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ
tín dụng của người đó. Các tài khoản này hoàn toàn tách khỏi tài khoản thông thường của ngân
hàng. Việc hoàn trả nợ của khách hàng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần theo một
thời hạn nhất định và theo hạn mức qui định của ngân hàng phát hành thẻ.
*Thẻ thanh toán:Thẻ thanh toán là thẻ do ngân hàng phát hành để chủ thẻ sử dụng thanh
toán hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
chủ thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.
Vậy điều kiện kiên quyết không thể thiếu được đối với mỗi cá nhân, pháp nhân muốn sử
dụng thẻ là phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng phát hành thẻ
(đối với chủ thẻ thành toán); hoặc tài khoản thẻ để ngân hàng theo dõi và thanh toán theo phạm
vi hạn mức tín dụng được cấp (đối với chủ thẻ tín dụng).
1.1.3. Phân loại thẻ:
Thẻ rất đa dạng dưới nhiều góc độ
a.Theo chủ thể phát hành thẻ:
- Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card)
Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hành sử dụng linh động tài khoản
của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng.
Thẻ ngân hàng là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành
trong một quốc gia mà còn có thể lưu hành trên phạm vi toàn cầu, như Visa, Master Card,
JCB
- Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành
Đó là thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Dinner Club,
Là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động ATM hoặc ở ngân
hàng. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, chủ thẻ phải ký quỹ tiền giử vào tài
khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được. Số tiền rút ra mỗi
lần sẽ được trừ dần vào số tiền ký quỹ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
+ Loại 1: Chỉ để rút tiền tại máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành
+ Loại 2: Không chỉ được dùng để rút tiền ở ngân hàng phát hành mà còn được
sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ hợp thanh toán với ngân hàng phát
hành thẻ
c. Theo công nghệ sản xuất:
Thẻ có ba loại: Thẻ khắc chữ nổi, thẻ từ và thẻ thông minh
- Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ
nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Những tấm thẻ đầu tiên ra đời đã
được sản xuất theo công nghệ này. ở thời kỳ sơ khai, kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, thẻ dễ bị lợi
dụng, làm giả, không đảm bảo an toàn trong khi sử dụng. Do đó hiện nay thẻ này không được
sử dụng.
- Thẻ từ: Để đảm bảo tính an toàn của thẻ, ngân hàng phát hành thẻ có thể sử dụng các
thiết bị có thể mang tính công nghệ cao. Đây là loại thẻ đang được sử dụng phổ biến hiện nay
(phổ biến trong vòng 20 năm nay). Thẻ được sản xuất trên kỹ thuật thư tín. Mặt sau có một dải
băng từ màu nâu sẫm, có chứa các thông tin về chủ thẻ và các thông tin về ngân hàng phát hành
nhằm kiểm soát được tính hợp lệ của thẻ được mã hoá.
- Thẻ thông minh (Smart Card): Là loại thẻ áp dụng công nghệ thẻ hiện đại và là thế hệ
mới nhất của thẻ thanh toán, được sử dụng ở nhiều nước Châu Âu, đặc biệt là ở Pháp. Thẻ này
dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, nhờ gắn vào thẻ một "chip" điện tử có cấu trúc giống như
một máy tính hoàn hảo. Vi mạch điện tử có khả năng lưu trữ thông tin bảo mật của thẻ và chủ
thẻ. Do đó thẻ chip cho phép xử lý on-line, hay thẻ được sử dụng tại các CSCNT thông qua các
máy chuyên dụng có khả năng đọc thẻ, nhận biết thẻ và số Pin. Thẻ thông minh có nhiều nhóm
với dung lượng nhớ của "chip" điện tử klhác nhau.
Trong trường hợp chủ thẻ sử dụng thẻ ở các CSCNT không được trang bị máy móc
chuyên dụng đọc thẻ thì CSCNT có thể dùng máy thông thường đọc thẻ thông qua băng từ của
- Thẻ cá nhân: Được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đủ điều kiện phát
hành thẻ. Chủ thẻ chụi trách nhiệm thanh toán, trả nợ cho ngân hàng các khoản đã chi tiêu bằng
thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình. Thẻ cá nhân có hai loại là thẻ chính và thẻ phụ
+ Thẻ chính: Là thẻ do chủ thẻ chính đứng tên xin phát hành cho chính mình sử
dụng và có trách nhiệm thanh toán các khoản mình đã chi tiêu.
+ Thẻ phụ: Là thẻ do chủ thẻ chính đứng tên xin phát hành (thẻ phụ) cho người
khác sử dụng (chủ thẻ phụ) và chủ thẻ chính chụi trách nhiệm thanh toán toàn bộ các chi
tiêu của thẻ phụ.
- Thẻ công ty: Là thẻ do một tổ chức, công ty đứng tên xin phát hành thẻ và uỷ quyền
cho cá nhân thuộc công ty đó sử dụng thẻ. Tổ chức, công ty phải chụi trách nhiệm thanh toán
các khoản chi tiêu thẻ bằng nguồn tiền của tổ chức, công ty đó và phải nêu rõ việc uỷ quyền
này trong đơn xin phát thẻ. Cá nhân được uỷ quyền sử dụng thẻ công ty không được phép phát
hành thẻ phụ. Thẻ công ty có thể là thẻ kinh doanh (Business Card), được phát hành cho nhân
viên của công ty sử dụng, nhằm giúp cho công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu của các nhân
viên vì mục đích chung của công ty trong kinh doanh.
Ngoài ra, còn thẻ du lịch và giải trí (Travel and Entertainment Card) được phát hành bởi
các công ty tư nhân, phục vụ cho ngành du lịch và giải trí.
g. Theo hạn mức tín dụng:
- Thẻ vàng (Gold Card): Là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao (cao hơn hạn mức tín dụng
thẻ thường). Thẻ này chỉ được phát hành cho những đối tượng có uy tín, có thu nhập cao, khả
năng tài chính lành mạnh và nhu cầu chi tiêu lớn. Nó cũng cho phép các khoản thấu chi tự động
trong vòng một giới hạn nào đó và có thể rút tiền mặt dễ dàng. Thẻ vàng (thẻ hạng nhất, thẻ cao
cấp ) là một phát triển của thẻ tín dụng và thẻ thanh toán. Thường đây là thẻ tín dụng cho hệ
thống Master Card phát hành. Tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, thẻ vàng có hạn mức tín
dụng tối đa là 90 triệu VND và tối thiểu là 50 triệu VND
- Thẻ thường (Standard Card): là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông đại
chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày. Đây là một dạng thẻ tín dụng
phổ biến bởi hạn mức tín dụng thấp hơn, phù hợp với khách hàng có thu nhập trung bình. Hạn
mức tín dụng tối thiểu tuỳ ngân hàng phát hành qui định (thường 1000 USD). Tại ngân hàng
này sẽ được đọc bởi những thiết bị chuyên dụng như máy POS, Veriphone Rãnh thứ 3
dùng riêng cho máy ATM khi khách hàng rút tiền mặt thông qua số Pin
+ Dưới dải băng từ là băng chữ ký, trên đó là chữ ký của chủ thẻ. Đây được coi là
chữ ký mẫu của chủ thẻ và nó là cơ sở để các CSCNT đối chiếu, so sánh với chữ ký trên
hoá đơn khi lập các hoá đơn thanh toán. Băng chữ ký được làm từ nguyên liệu đặc biệt
có thể ngăn cản mọi sự tẩy xoá, sửa đổi trên bề mặt của nó và được ép chặt trên nền thẻ,
không dùng tay cậy lên được.
+ Số thẻ có thể được in lại. Đó là một dòng gồm 19 chữ số in nghiêng, 16 số đầu
là số thẻ, 3 số sau là số mã hoá của thẻ (cùng nằm trong ô chữ ký).
1.1.5. Chủ thể tham gia thị trường thẻ:
Tham gia trong quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế (hay thẻ
thanh toán quốc tế nói chung) bao gồm các thành viên sau:
- Chủ thẻ: Là người có tên in nổi trên thẻ, là người duy nhất được quyền sử dụng thẻ của
mình. Chủ thẻ là người được ngân hàng phát hành sau khi xem xét xử lý hồ sơ, sẽ phát hành thẻ
cho để sử dụng. Chủ thẻ là cá nhân (hoặc là người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ của công
ty) được ngân hàng phát hành thẻ cho phép sử dụng trong phạm vi hạn mức tín dụng tuần hoàn
được cấp (đối với thẻ tín dụng). Đơn vị có trách nhiệm thanh toán, hoàn trả các khoản đã chi
tiêu bằng thẻ và lãi cho ngân hàng phát hành thẻ sẽ là chủ thẻ chính (đối với thẻ cá nhân) và tổ
chức công ty đứng tên xin phát hành thẻ (đối với thẻ công ty).
Ngoài ra chủ thẻ có trách nhiệm bảo quản thẻ không để lợi dụng, lấy cắp, bí mật số Pin,
khi mất thẻ phải thông báo ngay cho ngân hàng phát hành thẻ để kịp thời xử lý
- Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer):Là thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế,
hiệp hội thẻ như Visa, Master Card, hoặc là chi nhánh đối với tổ chức phát hành như JCB,
Amex. Ngân hàng chụi trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của chủ thẻ gửi đến, xử lý và
phát hành thẻ theo mẫu mã, qui cách biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT), mở và quản
lý tài khoản thẻ, cập nhật vào danh sách thẻ đen (warning bulletin) để báo cho ngân hàng thanh
toán và CSCNT, cấp phép cho các giao dịch thanh toán vượt hạn mức, thanh toán ngay số tiền
trên hoá đơn cho ngân hàng đại lý khi đáp ứng đủ điều kiện do ngân hàng phát hành qui định,
và thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ.
nhiều quốc gia, và là một phương tiện thanh toán được lựa chọn trong tương lai bởi lợi ích mà
thẻ đem lại với từng đối tượng khác nhau.
a. Đối với chủ thẻ:
Thẻ tín dụng quốc tế là một phương tiện chi trả văn minh, hiện đại có thể sử dụng để
mua hàng hoá dịch vụ tại cá CSCNT, rút tiền mặt ở các quầy giao dịch của ngân hàng hay tại
máy rút tiền tự động ATM ở trong nước hay ngoài nước, trong phạm vi hạn mức tín dụng được
cấp.
Về mặt kinh tế, đối với khách hàng, thẻ tín dụng là một dịch vụ được ngân hàng cung
cấp. Thực tế cho thấy, thẻ tín dụng là sản phẩm kết hợp của nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ
thanh toán. Tín dụng phục vụ cho công tác thanh toán về tiêu dùng hay gọi là tín dụng tiêu
dùng. Khi khách hàng sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng để mua hàng hoá, thì đồng nghĩa với
việc họ đang sử dụng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng. Do đó, lợi
ích nổi rõ hơn so với khi sử dụng tiền mặt hay các phương thức thanh toán khác.
Một là, thẻ tín dụng là công cụ thanh toán tiện lợi và an toàn. Tính tiện lợi thể hiện ở chỗ
gọn nhẹ và nhanh chóng. Thay vì mang hàng xấp tiền công kềnh, lộ liễu trong túi, khách hàng
chỉ cần mang một tấm thẻ nhỏ. Tuy kích thước của thẻ nhỏ, nhưng mệnh giá lại rất lớn. Do vậy
nếu mang bằng tiền mặt đến giao dịch thanh toán với ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro. Bên cạnh
đó, thẻ quốc tế có khả năng sử dụng trên toàn cầu, do đó rất thuận tiện cho người sử dụng. Khi
đi công tác, du học nước ngoài hay du lịch quốc tế, thay vì đổi tiền đi đổi tiền lại, vất vả tính
toán tỷ giá mua bán, đơn giản chỉ cần tấm thẻ. Thay vì khi hết tiền hay không đủ tiền để mua
hàng, bạn phải cân nhắc băn khoăn không biết mượn tiền ai bây giờ, bạn chỉ cần tấm thẻ. Chi
tiêu thoải mái cả tháng, ngân hàng mới yêu cầu bạn trả tiền, mà còn cho bạn một thời gian ân
hạn lo thu xếp trả nợ, và sẽ không thu lãi nếu bạn hoàn trả đúng ngày qui định. Sử dụng thẻ tín
dụng quốc tế, chủ thẻ có thể mua hàng hoá, dịch vụ tại bất kỳ một CSCNT nào, chi tiêu bằng
nhiều ngoại tệ khác nhau phù hợp vói nhiều quốc gia khác nhau. Hơn nữa, khách hàng có thể
gửi tiền mặt vào một nơi, rút tiền ở nhiều nơi khác thông qua hệ thống máy rút tiền tự động
ATM. Rõ ràng là vừa tiện lợi, vừa an toàn, vừa đơn giản, chi phí lại thấp hơn nhiều so với việc
mang theo tiền mặt. Đặc biệt thanh toán bằng thẻ có độ an toàn cao bởi các thông tin về chủ
thẻ, số thẻ, số tài khoản đã được mã hoá, nên nếu bị mất thẻ người khác khó sử dụng được.
vụ. Do đó, ngày càng có nhiều người sử dụng thẻ hơn, khi dùng thẻ chi tiêu nhiều hơn và chắc
chắn doanh thu sẽ tăng cao
Thứ hai, tại các cơ sở chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ được cung cấp, trang bị đủ các
thiết bị máy móc chuyên dụng cho việc thanh toán thẻ. Từ đó làm cho nơi bán hàng trở nên văn
minh, hiện đại hơn, tăng thêm sự sang trọng và uy tín cho đơn vị, thu hút nhiều khách hàng
hơn.
Thứ ba, thanh toán bằng thẻ tín dụng giúp CSCNT giảm được chi phí bảo quản, vận
chuyển tiền mặt, tránh được hiện tượng trả bằng tiền giả của khách hàng hay vấn đề mất cắp
tiền mặt xảy ra trong nhà hàng, khách sạn, cửa hiệu của mình, quản lý nhân viên dễ dàng hơn.
c. Đối với ngân hàng
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh nhân loại, đặc biệt là lĩnh vực
công nghệ thông tin, thẻ tín dụng - một trong số các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đã thu hút được
sự chú ý của nhiều nước đã và đang phát triển. Kinh doanh thẻ có sức hấp dẫn lớn đối với các
ngân hàng bởi những lợi ích mà thẻ tín dụng đem lại đối với hoạt động ngân hàng. Với ngân
hàng (cả ngân hàng phát hành và ngân hàng thanh toán), thẻ tín dụng đã làm phong phú các
hình thức thanh toán, tăng hiệu quả nghiệp vụ thanh toán, mở rộng đối tượng thanh toán, tăng
doanh số thanh toán và tăng lợi nhuận. Hoạt động thanh toán là một trong những chức năng
trung tâm quan trọng của ngân hàng. Dù hoạt động kinh doanh dưới hình thức nào cũng kết
thúc ở việc thanh, quyết toán. Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra
đời sau các phương tiện không dùng tiền mặt khác như uỷ nhiệm chi - chuyển tiền, uỷ nhiệm
thu, thư tín dụng, séc, ngân phiếu thanh toán , nhưng đã là động lực thúc đặy phát triển thị
trường các phương tiện thanh toán khác, cho phép ngân hàng đưa ra các dịch vụ mới cho khách
hàng. Bởi thị trường thẻ tín dụng phát triển thì qui mô, số lượng các CSCNT là những đơn vị
kinh doanh, do đó cũng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt qua
ngân hàng. Hơn nữa, nhờ sự phát triển của thẻ tín dụng mà cá hình thức thanh toán khác cũng
được trang bị, đầu tư máy móc, thiệt bị hiện đại, tận dụng thành tựu công nghệ mới. Qua đó
nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán, phục vụ khách hàng an toàn và nhanh chóng.
Đối với các tổ chức kinh doanh thẻ, dịch vụ thẻ tín dụng đã giúp tăng thêm nguồn thu
nhập thông qua các khoản thu phí.
phát hành trên cơ sở thế chấp, tín chấp, bảo lãnh. Hơn nữa, mỗi một hợp đồng thẻ tín dụng đã
tạo lập được mối quan hệ về tín dụng, thanh toán lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng, nâng
cao hình ảnh và uy tín của ngân hàng trên thị trường.
d. Đối với nền kinh tế - xã hội:
Khi nền kinh tế càng phát triển, nhu cầu xã hội ngày càng cao thì đòi hỏi các dịch vụ
thanh toán ngày càng lớn. Thẻ ngân hàng - một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt phát
triển đã làm tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt giảm đáng kể. Từ đó, số tiền mặt có trong túi
mỗi người là rất ít, chủ yếu là để chi tiêu lặt vặt. Điều đó đem đến lợi ích cho quốc gia vì tiết
kiệm được chi phí in ấn, bảo quản, phát hành vận chuyển, kiểm đếm tiền tệ và lưu thông tiền
mặt cho xã hội, giảm bớt áp lực tiền mặt trong lưu thông, tăng vòng luân chuyển vốn, tạo điều
kiện tập trung vốn nhanh, góp phần mở rộng hoạt động tín dụng, tăng trưởng kinh tế xã hội
Bên cạnh đó, thanh toán bằng thẻ sẽ hạn chế được các hoạt động kinh tế ngầm, giảm
thiểu các tiêu cực. Nếu trong nền kinh tế, tất cả đều thanh toán qua ngân hàng thì không thể
trốn thuế, tham ô, tham nhũng. Qua đó góp phần thực hiện chức năng kiểm soát, quản lý của
Nhà Nước trong việc điều tiết nền kinh tế.
1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng.
1.2.1. Nghiệp vụ phát hành thẻ:
a. Sơ đồ 1: Qui trình phát hành thẻ tín dụng quốc tế
(1): Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ sẽ đến ngân hàng để làm thủ tục xin cấp thẻ.
Bộ hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ của khách hàng bao gồm:
- Đơn xin phát hành thẻ tín dụng quốc tế
- Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế
(1
)
(4
)
(2
)
(3
)
(5
)(3): Tại trung tâm thẻ:
- Quản lý hồ sơ khách hàng: Hằng ngày, nhận dữ liệu thông tin khách hàng từ chi nhánh
phát hành (CNPH), đối chiếu dữ liệu nhận được bằng file với các hồ sơ khách hàng nhận được
bằng văn bản, cập nhật vào hệ thống quản lý hồ sơ khách hàng, và tạo dữ liệu in thẻ.
- In thẻ: Căn cứ trên cơ sở tệp dữ liệu thẻ đã tạo ra, bộ phận in thẻ sẽ in thẻ mới. Sau đó,
kiểm tra các dữ liệu đã in trên thẻ với hồ sơ khách hàng về tên chủ thẻ, ngày hiệu lực, ảnh và
chữ ký trên thẻ đối với thẻ Visa, thông tin chủ thẻ được mã hoá (kiểm tra qua Electronic Data
Capture)
- Tạo và in Pin của chủ thẻ
- Gửi thẻ cho CNPH: Trung tâm thẻ lập danh sách gửi thẻ cho CNPH phân theo từng thể
loại, khoá thẻ tạm ngừng sử dụng, gửi thẻ và Pin trong hai bì thư tách riêng theo đường truyền
phát nhanh thư bảo đảm.
(4): Tại CNPH: Nhận thẻ từ Trung tâm thẻ và giao thẻ cho khách hàng
- Nhận thẻ và Pin: Sau 5 ngày kể từ ngày gửi yêu cầu phát hành thẻ ra trung tâm thẻ (đối
quốc tế: Số tiền theo mệnh giá của thẻ.
Sau đó ngân hàng nhập thẻ vào kho và bảo quản như tiền.
- Khi phát hành thẻ sẽ hạch toán:
Xuất TK9124 - chứng từ có giá trị ngoại tệ do nước ngoài gửi đến đợi thanh toán/ thẻ
quốc tế: Số tiền theo mệnh giá của thẻ bán cho khách hàng.
Đồng thời hạch toán nội bảng giống như khi chính ngân hàng phát hành thẻ.
- Khi ngân hàng nhận được báo nợ từ trung tâm xử lý dữ liệu thẻ, sẽ hạch toán:
Nợ TK - tiền gửi đảm bảo thanh toán thẻ/ chủ thẻ
Có TK Nostro - - tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài hoặc TK thích hợp.
1.2.2.Nghiệp vụ thanh toán thẻ:
Qui trình thanh toán thẻ
Mỗi loại thẻ có qui trình thanh toán riêng, về mặt tổng thể có thể khái quát theo mô hình
sau:
(1) : Khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ đến ngân hàng làm thủ tục yêu cầu phát hành
thẻ
Ngân hàng phát
hành
Ch
ủ thẻ
(3)(2) : Ngõn hng chp nhn phỏt hnh th cho khỏch hng
(3) : Ch th dựng th i mua hng húa, dch v hoc dch v rỳt tin mt
(4) : CSCNT cung ng hng húa, dch v hoc dch v rỳt tin mt
(5) : CSCNT gi hoỏ n thanh toỏn cho ngõn hng thanh toỏn
(6) : Ngõn hng chp nhn thanh toỏn cho CSCNT (ngõn hng thanh toỏn bỏo cỏo cho
CSCNT)
(7) : Ngõn hng thanh toỏn gi d liu thanh toỏn th n t chc th quc t (trc tip
l trung tõm x lý d liu ca TCTQT) ũi tin
(8) : TCTQT x lý d liu, ghi cú cho ti khon tin gi ca ngõn hng thanh toỏn v
ng thi ghi n ngõn hng phỏt hnh
(9) : TCTQT bỏo n ngõn hng phỏt hnh s giao dch tng ng
(10) : Ngõn hng phỏt hnh nhn d liu v gi sao lờ d liu chi tiờu th cho ch th
(11): Ch th thanh toỏn cho ngõn hng phỏt hnh
- Hch toỏn thanh toỏn th:
+ Nghip v ng trc tin mt:
Ch th cú th rỳt tin mt theo hn mc cho phộp ca th ti cỏc mỏt rỳt tin t ng
ATM hoc ti ngõn hng. (Trờn th gii cú hai h thng mỏy rỳt tin t ng chớnh l Plus ca
Visa v Circus ca Master Card). Sau khi ó kim tra cỏc yu t trờn th cng nh hn mc
thanh toỏn ca th, nu chp nhn, nhõn viờn giao dch yờu cu ch th ký vo cỏc liờn hoỏ n
thanh toỏn v hch toỏn theo giỏ tr giao dch tr phớ thanh toỏn th:
vịdon tại tệ Ngoại:TK Có
thẻ toán thanh ứngTạm thu/ iphả n khoảCác :TK Nợ
CSCNT göi TiÒn :TK Cã
thÎ to¸n thanh øngT¹m thu/ iph¶ n kho¶C¸c :TK Nî
Sau đó, ngân hàng gửi dữ liệu thanh toán thẻ tới tổ chức thẻ quốc tế để đòi tiền. Hạch
toán giống tạm ứng tiền mặt thanh toán thẻ.
- Thu nợ từ chủ thẻ: Hàng tháng, chủ thẻ sẽ nhận được một bản sao kê chi tiết các giao
dịch đã phát sinh trong tháng từ ngân hàng phát hành. Chủ thẻ có thể thanh toán theo hai cách:
+ Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ số tiền trên sao kê đúng ngày qui định, thì
chủ thể sẽ được miễn số lãi phát sinh trong kỳ.
+ Chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán một số tiền tối thiểu theo qui định. Số tiền
nợ còn lại sẽ bị tính lãi theo lãi suất qui định của ngân hàng phát hành và chuyển sang
tháng sau. Nếu chủ thẻ không thanh toán đầy đủ, đúng hạn số tiền thanh toán tối thiểu
của sao kê sẽ chụi phí chậm trả.
Phí phạt trả chậm = 3% số tiền tối thiểu khách hàng phải thanh toán trên sao kê (Due
amount).
Phí phạt chậm trả của các món chi tiêu trong sao kê trước được thể hiện trong sao kê kỳ
sau
Số tiền thanh toán tối thiểu của một kỳ sao kê = 20% số dư nợ hiện thời trên sao kê đó +
số tiền thanh toán tối thiểu còn nợ của các kỳ sao kê trước.
Số tiền thanh toán tối thiểu được thể hiện ngay nếu có trong kỳ sao kê
- Trường hợp ngân hàng phát hành đồng thời là ngân hàng thanh toán (on us transaction)
CSCNT là khách hàng của ngân hàng thanh toán, đồng thời ngân hàng thanh toán cũng
là ngân hàng phát hành
(4
)
(6
)