LUẬN VĂN:
Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các hoạt
động kinh doanh chứng khoán của CTCK
Ngân hàng Công thương
Lời mở đầu
Công nghiệp hoá là bước phát triển tất yếu của mỗi dân tộc mỗi đất nước phải trải
qua. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân ở
nước ta, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó vốn là chìa khoá để
Thông qua đó để huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bố vào nơi sử dụng có
hiệu quả. Do đó chúng ta có thể nói chức năng nhiệm vụ của công ty chứng khoán như
sau:
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử
dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp lệnh hoặc khớp
giá)
- Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (khoán chuyển từ chứng khoán ra tiền
mặt một cách dễ dàng)
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh đóng vai
trò nhà tạo lập thương trường)
1.1.3. Vai trò
Các công ty chứng khoán có một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế cũng
như trong hoạt động chứng khoán hay nói cách khác, các công ty chứng khoán có vai trò
hết sức quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên TTCK
* Đối với tổ chức phát hành:
Mục tiêu tham gia vào TTCK của công ty phát hành là huy động vốn thông qua
việc phát hành các chứng khoán vì vậy thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh
phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các
nhà phát hành.
* Đối với nhà đầu tư:
Thông qua hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư công
ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu
quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường mua bán qua trung gian sẽ làm
tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên đối với TTCK sự biến động thường
xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư
tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư.
Nhưng thông qua các công ty chứng khoán với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
nghiệp, sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.* Đối với
dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được
công khai hoá dưới sự giám sát của các tài chính, cơ quan quản lý thị trường. Việc cung
cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của
các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về
các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tài chính
phát hành thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị
trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị
trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tài chính chuyên nghiệp trên TTCK, các nhà
phát hành đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung.
1.1.4 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tài chính cơ bản của công ty chứng khoán, đó là: công ty
hợp doanh, công ty TNHH, công ty cổ phần:
a. Công ty hợp doanh
- Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
- Thành viên của công ty chứng khoán hợp doanh bao gồm: thành viên góp
vốn và thành viên hợp doanh. Các thành viên hợp doanh chịu trách nhiệm vô hạn
bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn không
tham gia vào điều hành công ty họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp
của mình đối với những khoản nợ của công ty.
* Công ty hợp doanh thông thường không được phát hành bất cứ một loại chứng
khoán nào.
b. Công ty cổ phần:
* Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu các công ty là các cổ
đông.
* Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
* Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công
chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
(cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặt khách hàng lên trên hết và doanh
thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính
và phải được thực hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng,
nhưng tựu trung có thể được gộp vào nhóm 6 phương cách sau: những đầu mối được gây
dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại; những lời giới thiệu khách hàng;
mạng lưới kinh doanh; các chiến dịch viết thư; các cuộc hội thảo; gọi điện làm quen.
- Kỹ năng khai thác thông tin: một trong những nguyên tắc trong hàng nghề môi
giới là phải hiểu khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của
khách hàng. Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sản quản lý,
có chiến lược khách hàng thích hợp.
1.2.1.2. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc các Công ty
chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên phân tích tình
huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư
và cơ cấu tài chính cho khách hàng.
Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
+ Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ khách
hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp (thông qua các ấn
phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng.
+ Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: Bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho khách hàng
về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách hàng) và tư vấn uỷ quyền
(vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thực hiện của khách hàng).
+ Theo đối tượng hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn cho người phát hành (tư vấn
cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành, xây dựng hồ sơ, bản cáo
bạch…. Và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn tổ chức bảo lãnh, phân phối
chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho khách hàng đầu tư chứng khoán trên thị
trường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng đầu tư vào các loại chứng khoán …v.v.).
Nguyên tắc cơ bản của tư vấn:
chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư nhưng thông thường việc Công ty chứng khoán
nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân
hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh
phát hành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các Công ty chứng khoán tự
doanh hoặc các thành viên khác.
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầu bảo lãnh
phát hành đến Công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có thể ký một hợp đồng tư
vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại chứng khoán cần phát hành, số
lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứng khoán và phương thức phân phối
chứng khoán đến các nhà đầu tư thích hợp. Để được phép bảo lãnh phát hành, Công ty
chứng khoán phải đệ trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên uỷ ban chứng
khoán. Khi các nội dung cơ bản của phương án phát hành được uỷ ban chứng khoán
thông qua. Công ty chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh, hoặc thành lập
nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đồng bảo lãnh giưã nghiệp đoàn và tổ chức phát hành.
Khi uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến thời hạn giấy
phép phát hành có hiệu lực, Công ty chứng khoán (hoặc hiệp đoàn bảo lãnh) thực hiện
phân phối chứng khoán. Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu là:
+ Bán riêng cho tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí.
+ Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tổ
chức phát hành.
+ Bán rộng rãi ra công chúng.
Đúng đến ngày theo hợp đồng Công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán cho tổ
chức phát hành. Số tiền thanh toán là giá trị chứng khoán phát hành trừ đi phí bảo lãnh.
1.2.1.4. Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng
khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện
thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận
hành theo cơ chế khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, công ty chứng khoán
thể sẽ dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách
hàng nếu không có nguyên tắc trên.
Góp phần bình ổn thị trường: Các công ty chứng khoán hoạt động tự doanh nhằm
góp phần bình ổn giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh được tiến
hành bắt buộc theo luật định. Luật các nước đều quy định các công ty chứng khoán phải
dành một tỉ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn
thị trường. Theo đó, các công ty chứng khoán có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán
bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
- Hoạt động tạo thị trường: khi được phát hành, các chứng khoán mới chưa có thị
trường giao dịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này, các công ty chứng khoán
thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh khoản trên thị
trường cấp hai. Trên những TTCK phát triển, các nhà tạo lập thị trường (Market –
Makers) sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị trường OTC để tạo thị trường.
Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh
doanh chứng khoán khác. Như vậy, họ sẽ duy trì một thị trường liên tục đối với chứng
khoán mà họ kinh doanh.
- Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt các lệnh mua và bán chứng khoán trên
Sở giao dịch, lệnh của hộ có thể thực hiện với bất kỷ khách hàng nào không được xác
định trước.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai Công ty chứng khoán hay giữa
Công ty chứng khoán với một khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của các
giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trường OTC.
1.2.1.5. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư chứng khoán thông
qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn
vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính
chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền cho Công ty chứng khoán
thay mặt quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách
tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
1.2.2.2. Nghiệp vụ tín dụng:
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng, Công ty chứng khoán còn triển khai dịch vụ cho vay chứng
khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng
vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ (margin purchase).
Cho vay kỹ quỹ là hình thức cấp tín dụng của Công ty chứng khoán cho khách hàng
của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các loại chứng khoán đó làm vật thế chấp
cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ do Công ty chứng
khoán ứng trước thanh toán. Đến ký hạn thoả thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số gốc
vay cùng với lãi cho Công ty chứng khoán. Trường hợp khách hàng không trả được nợ,
thì Công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.
1.2.2.3. Nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho vay
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép Công ty chứng khoán được thực
hiện nghiệp vụ quản lý đầu tư. Theo đó, Công ty chứng khoán cử đại diện của mình để
quản lý quỹ và sử dụng vồn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Công
ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
1.3 Chất lượng hoạt động của CTCK
1.3.1 Khái niệm chất lượng hoạt động
Các CTCK cũng là một doanh nghiệp do đó chất lượng hoạt động được thể hiện ở
hiệu quả kinh doanh của công ty đó. Đối với CTCK thì được thể hiện ở hiệu quả của các
nghiệp vụ kinh doanh của công ty đó và được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá sau.
1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra những mục tiêu cụ thể.
Để đạt được mục tiêu đó trước hết doanh nghiệp phải xác định cho mình chiến lược kinh
doanh phù hợp với sự biến động của thị trường. Đồng thời phải tiến hành đánh giá hiệu
quả hoạt động kinh doanh. Vậy hiệu quả kinh doanh là gì? Hiệu quả kinh doanh là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp
để đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.
Khả năng sinh lời của TSLĐ =
Tổng giá trị tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản lưu động bình quân
vào sản xuất kinh doanh thì sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ
tiêu này càng lớn càng tốt.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định được đánh giá bằng nhiều chỉ
tiêu nhưng chủ yếu sử dụng những chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu: Tổng lợi tức các hoạt động
Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu =
Tổng vốn chủ sở hữu bình quân
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được đánh giá bằng khả năng sinh lời của vốn
chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại.
1.3.2.2. Chỉ tiêu định tính.
Chỉ tiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh là những chỉ tiêu không thể
lượng hoá được bằng con số. Chỉ tiêu này thường được đánh giá bởi thị trường, các nhà
phân tích, đặc biệt là khách hàng. ở công ty chứng khoán chỉ tiêu định tính được nói đến
là vị thế và uy tín của công ty trên thị trường. Điều này thể hiện ở định hướng hoạt động
của công ty có phù hợp với tình hình thị trường, điều kiện thực tế của chính doanh
nghiệp cũng như yêu cầu của khách hàng hay không, chất lượng nhân sự trong công ty,
vị trí địa lý của trụ sở công ty có thuận lợi về giao thông, có ở trung tâm hay không, đặc
biệt là có chiến lược marketing phù hợp, từ đó công ty tạo ra được cách thức để thoả mãn
tốt nhất nhu cầu của khách hàng
quả. Trong môi trường này, sự tăng trưởng, các chính sách kinh tế, lạm phát, biến động
tài chính tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh luôn tác động mạnh mẽ đến hiệu
quả kinh doanh của công ty. Ngược lại những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã
hội bấp bênh, kém ổn định, xung đột xảy ra liên miên gây ra những cơn sốt, cú sốc, sức
ép thị trường thì các công ty chứng khoán cũng khó có thể hoạt động kinh doanh một
cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các công
ty tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời điều chỉnh các hoạt
động kinh tế theo hướng không chỉ chú ý đến hiệu quả kinh doanh của riêng bản thân
công ty mà còn phải quan tâm đến hiệu quả của toàn xã hội. Cùng với điều này, thì nội
dung của các chính sách quản lý kinh tế, chính sách quản lý về chứng khoán và TTCK có
ý nghĩa quyết định đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mọi hoạt động kinh
doanh chứng khoán đều phải nằm trong khuôn khổ của các quy định này. Chính vì thế,
một chính sách quản lý đúng đắn, phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh
chứng khoán, dẫn đến sự phát triển của TTCK và toàn bộ nền kinh tế, trái lại, một chính
sách cứng nhắc, thiếu hợp lý sẽ gây nhiều trở ngại cho sự phát triển của toàn bộ thị
trường nói chung và đến sự phát triển của một công ty nói riêng.
Là một chủ thể quan trọng của TTCK, thì sự phát triển của TTCK cũng có ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán. Một khi TTCK phát
triển, có nghĩa là hàng hoá trên thị trường đa dạng và phong phú, nó sẽ tạo ra cho các nhà
đầu tư và các công ty có điều kiện để đầu tư, để có sự lựa chọn phù hợp nhất. Tuy nhiên,
với một hệ thống bao gồm nhiều loại hàng hoá sẽ phát sinh những khó khăn đối với các
nhà đầu tư khi tự quyết định sự lựa chọn của mình. Vì vậy, nhất thiết nhà đầu tư sẽ cần
đến công ty chứng khoán. Bên cạnh đó, khi TTCK phat triển sẽ xuất hiện nhiều loại rủi
ro khó lường trước, do đó công chúng cũng như công ty chứng khoán sẽ gặp nhiều khó
khăn hơn trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, khi TTCK phát triển, công ty chứng
khoán muốn tồn tại, phát triển và cạnh tranh được với các công ty chứng khoán khác thì
công ty không những buộc phải có những thay đổi cho phù hợp với thị trường mà còn
phải tiếp tục hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ
chuyên môn nghiệp vụ cao, có tính tự giác, kỷ luật cao, đồng thời các thành viên trong
công ty phải có mối quan hệ bình đẳng, hoà hợp, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau nỗ lực
phấn đấu cho mục tiêu chung toàn công ty. Thực tế cho thấy, những công ty mạnh trên
thị trường đều là những công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, tác phong
khoa học và tính kỷ luật cao. Cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên thì vấn đề về các
nhà quản trị
ChươngII
Thực trạng các hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán Công
thương
2.1. Hoạt động của TTCK Việt Nam thời gian qua.
Năm 2003, TTCK Việt Nam trải qua một thời gian chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhiều
nhân tố mang tính vĩ mô như tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn do quá trình hội nhập
quốc tế ban đầu cùng những thách thức rất lớn do cạnh tranh đưa lại. Tăng trưởng kinh tế
trong nước chưa thể hiện mức độ bền vững nhất định; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa
đủ mạnh, trong đó đáng lưu ý nhất là khu vực dịch vụ có xu hướng giảm trong cơ cấu của
GDP; bên cạnh đó, nhập siêu ở mức tương đối cao trong khi những biến động mạnh
trong khu vực thị trường nhà đất, vàng và ngoại tệ diễn ra trong suốt năm 2003; hiệu quả
đầu tư chưa cao do mức dộ thất thoát trong vốn đầu tư còn nhiều.
Mặc dù vậy, có thể nói, năm 2003 đã đánh dấu một bước chuyển mình mới của TTCK
VN sau hơn 3 năm đi vào hoạt động. Các hoạt động của thị trường tiếp tục diễn ra suôn
sẻ với sự tham gia của trên 16.000 tài khoản ( tăng trên 19% so với năm 2002 ). Tính đến
tháng 4/2004 đã có 24 cổ phiếu được niêm yết trên TTCK với tổng mức vốn hóa thị
trường đạt trên 2.500 tỷ VND; trên 119 triệu trái phiếu được niêm yết với tổng giá trị
niêm yết đạt trên 11,9 ngàn tỷ VND. Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM
(TTGDCK Tp.HCM) đã tổ chức thành công 247 phiên giao dịch với tổng giá trị giao
dịch đạt gần 3.000 tỷ VND, tăng trên 177% so với năm 2002 trong đó giao dịch trái
phiếu đạt gần 2.500 tỷ VND, chiếm trên 83% tổng giá trị giao dịch trên thị trường.
TTGDCK Tp.HCM đã đưa vào áp dụng thành công một số giải pháp kỹ thuật, cho phép
các nhà đầu tư đa dạng hóa các loại hình và phương thức giao dịch của minh; đồng thời
hàng Công Thương Việt Nam. Theo các văn bản này, các ngân hàng thương mại chỉ
được phép thành lập công ty chứng khoán độc lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên. Xét về điều kiện, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã hội tụ đầy
đủ các điều kiện thành lập công ty chứng khoán của một ngân hàng thương mại. Đề án
thành lập và dự thảo điều lệ công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam
được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt, chấp thuận cho Ngân hàng Công
Thương Việt Nam thành lập công ty chứng khoán; đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ nhân
sự chuẩn bị cho hoạt động kinh doanh chứng khoán; hoàn thành hồ sơ xin Uỷ ban Chứng
khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Incombank Securities Co.Ltd. (Viết tắt là IBS)
Thành lập theo quyết định số 126/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 01/09/2000 của Ngân hàng
Công thương Việt Nam.
Giấy phép hoạt động số 07/GPHĐKD ngày 06/10/2000 do Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nước cấp.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0104000012 ngày 04/10/2000 do Sở Kế hoạch
Đầu tư Hà Nội cấp. Trụ sở chính: Số 306 Bà Triệu - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Điện thoại: 84.4.9741764 – 84.4.9741054. Fax: 84.4.9741760
Email: [email protected]
Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Số 153 Hàm Nghi, Quận I, TP.Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 84.4.9140200. Fax: 84.4.9140201. Email: [email protected]
Vốn điều lệ: 55 tỷ đồng Việt Nam
2.2.2 Các lĩnh vực kinh doanh
Với số vốn điều lệ 55 tỷ VND, IBS được cấp giấy phép hoạt động cả 5 nghiệp vụ
kinh doanh trên TTCK, đó là môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát
hành và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương là công ty trực thuộc, hạch toán
độc lập của Ngân hàng Công Thương Việt Nam; thành viên của Trung tâm giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương
khoán. Trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng. Tư vấn, cung cấp thông tin
thường xuyên về từng phiên giao dịch, thông tin tài khoản và các thông tin liên quan tới
chứng khoán, TTCK cho khách hàng. Tiếp nhận và xử lý lệnh mua, bán chứng khoán. Tổ
chức thực hiện giao dịch OTC (khi được phép). Tiếp thị trực tiếp đến nhà đầu tư chứng
khoán. Làm các dịch vụ hỗ trợ khách hàng có liên quan đến nghiệp vụ môi giới. Quản lý
các đại lý nhận lệnh và các đầu mối phát triển dịch vụ của công ty, trên các địa bàn khác
Chủ
tịch
công ty
Giám
đ
ốc
Kế
toán
lưu ký
Phòng
môi
giới
Văn
phòng
Phòng
kinh
doanh
Phòng
môi
giới
Phòng
tự
sản phẩm dịch vụ mới có liên quan. Đại lý bảo lãnh phát hành. Tìm kiếm, thiết lập, duy
trì quan hệ và xây dựng mạng lưới khách hàng sử dụng dịch vụ đại lý phát hành, bảo lãnh
phát hành và các dịch vụ có liên quan. Tổ chức triển khai các hợp đồng đại lý phát hành,
bảo lãnh phát hành và các dịch vụ khác có liên quan được ký kết với khách hàng.
* Phòng tư vấn, phân tích
Nghiên cứu, phân tích chứng khoán và TTCK. Tư vấn đầu tư, tư vấn niêm yết, tư
vấn cổ phần hoávà tư vấn tài chính. Làm đầu mối công tác tiếp thị, xúc tiến phát triển thị
trường. Quản lý danh mục đầu tư. Nghiên cứu, phân tích. Nghiên cứu phát triển sản
phẩm, dịch vụ mới. Nghiên cứu, phân tích tình hình thị trường, ra các bản tin phân tích,
bình luận về chứng khoán và đánh giá các động thái của thị trường. Xây dựng hồ sơ
doanh nghiệp. Dự thảo các kế hoạch kinh doanh năm, quý, báo cáo tổng kết toàn Công
ty. Tư vấn đầu tư chứng khoán, chú trọng tư vấn mang tính trung, dài hạn, giá trị đầu tư
lớn, trên cơ sở hợp đồng có thu phí. Tư vấn niêm yết, tư vấn cổ phần hoá và tư vấn tài
chính. Cung cấp thông tin chứng khoán và TTCK cho khách hàng và trong nội bộ Công
ty. Đầu mối công tác tiếp thị, xúc tiến phát triển thị trường cho Công ty. Xây dựng triển
khai các phương án tiếp thị, tìm kiếm đối tác tiếp nhận các dịch vụ của Công ty. Quản lý
danh mục đầu tư. Thực hiện quản lý danh mục đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng.
*Phòng kế toán tài chính và lưu ký
Quản lý tài chính, hạch toán kế toán, thanh toán giao dịch, lưu ký chứng khoán,
ngân quỹ. Quản lý tài chính. Dự thảo kế hoạch tài chính năm, quý trình Giám đốc Công
ty phê duyệt và giám sát kết quả thực hiện kế hoạch được duyệt. Tổ chức quản lý nguồn
vốn của công ty, tham mưu cho Giám đốc quản lý tập trung vốn của Ngân hàng công
thương Việt Nam cấp, vốn tự có bổ sung, bảo toàn vốn đúng chế độ và giám sát các chi
nhánh thuộc công ty sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật.
Giám sát về mặt tài chính trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch mua sắm tài sản,
quản lý trang thiết bị, tài sản của Công ty. Tham mưu cho Giám đốc công ty các vấn đề
về phân phối lợi nhuận, sử dụng các quỹ, thu chi tài chính. Tham mưu cho Giám đốc
công ty về xây dựng đơn giá tiền lương, thanh toán tiền lương, thưởng Hạch toán kế
toán, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty. Theo dõi biến động tài khoản