mở rộng và nâng cao chất lượng trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại NHTMCPQD - Pdf 11

CHƯƠNG I:THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ NGHIỆP VỤ KINH DOANH
NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về thị trường ngoại hối
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của thị trường ngoại hối
1.1.1.1.Khái niệm thị trường ngoại hối
Một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa thương mại quốc tế và
thương mại nội địa là:
-Thương mại quốc tế thường liên quan tới việc chuyển đổi các đồng tiền
khác nhau của các quốc gia khác nhau
-Trong khi đó thương mại nội địa thường chỉ liên quan đến nội tệ
Một nhà nhập khẩu Mỹ thường được yêu cầu thanh toán cho nhà xuất
khẩu Nhật bằng đồng Yên Nhật,cho nhà xuất khẩu Đức bằng đồng
Euro,cho nhà xuất khẩu Anh bằng đồng bảng Anh…với lý do này,để thanh
toán tiền hàng nhập khẩu,nhà nhập khẩu Mỹ phải mua các ngoại tệ thích
hợp,tức bán ra nội tệ trên thị trường.Nghĩa là một trong hai bên mua hoặc
bán phải liên quan đến mua bán đồng ngoại tệ.
Giống như thương mại quốc tế,đầu tư quốc tế,du lịch quốc tế,quan hệ tín
dụng quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu
cầu mua bác các đồng tiền khác nhau trên thị trường.
Hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau được diễn ra trên thị trường
và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối.Một cách tổng quát:Thị
trường ngoại hối là bất cứ đâu diễn ra việc mua,bán các đồng tiền
khác nhau.
Trong thực tế,các hoạt động mua bán diễn ra chủ yếu giữa các ngân hàng
với nhau(chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch),chính vì vậy,theo
nghĩa hẹp,thị trường ngoại hối là nơi mua bán các đồng tiền khác
nhau giữa các ngân hàng,tức thị trường liên ngân hàng(Interbank)
1.1.1.2.Những đặc điểm của thị trường ngoại hối(Forex)
1.Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình nhất
định,mà bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau,do
đó,nó còn được gọi là thị trường không gian(space market)

các đồng tiền bị thả nổi và giao động mạnh đã buộc những nhà kinh doanh
tiền tệ,xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế,phải tìm kiếm các biện pháp
phòng chống rủi ro thông qua thị trường ngoại hối,mặt khác họ cũng tranh
thủ sự biến động của tỷ giá để tiến hành các hoạt động đầu cơ kiếm
lời.Điều đó làm tăng nhu vầu giao dịch mua bán ngoại tệ,góp phần thúc
đẩy thị trường ngoại hối phát triển nhanh chóng.
-Xu thế tự do hoáp thương mại và đầu tư quốc tế diễn ra mạnh mẽ cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu,bao gồm cả các nước đang phát triển cũng đã và
đang tham gia tiến trình hội nhập,là tiền đề để các nước tiến hành nới lỏnh
quy chế ngoại hối nhằm tạo điều kiện cho chu chuyển hàng hóa,dịch vụ và
vốn quốc tế được hiệu quả.Điều này tạo nên một thị trường ngoại hối quốc
tế ngày càng lớn với doanh số giao dịch ngày một cao.
-Tiến bộ khoa học kĩ thuật,đặc biệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã
góp phần làm giảm chi phí giao dịch,tăng tốc độ thanh toán,góp phần tích
cực thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển như ngày nay.
Bên cạnh tăng nhanh doanh số giao dịch,thị trường ngoại hối quốc tế còn
phát triển mạnh về chiều sâu,đó là tạo ra nhiều loại hình nghiệp vụ kinh
doanh mới,phức tạp hơn,tinh vi hơn và cũng trở nên rủi ro hơn.
1.1.1.3.Các chức năng của thị trường ngoại hối
Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là kết quả phát triển tự nhiên
của một trong các chức năng cơ bản của NHTM,đó là nhằm dịch vụ cho
khách hàng thực hiện các giao dịch quốc tế.Ví dụ:một khách hàng là công
ty muốn nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ từ nước ngoài sẽ có nhu cầu ngoại
hối nếu như hóa đơn và dịch vụ được ghi bằng ngoại tệ,hoặc là nhà xuất
khẩu có nhu cầu chuyển đổi ngoại hối thành nội tệ,nếu có hóa đơn xuất
khẩu hàng hóa và dịch vụ được ghi bằng ngoại tệ .Các giao dịch ngoại hối
nhằm giúp khách hàng là nhà xuất khẩu hay nhập khẩu như trên là một
trong những dịch vụ mà các NHTM luôn sẵn sàng xung cấp cho khách
hàng,và đồng thời cũng là dịch vụ mà các khách hàng luôn mong đợi từ
phía ngân hàng.

trao đổi ngoại hối bằng các đồng xu trờ nên không hiệu quả,do vậy các
giao dịch bằng đồng xu trở nên ngày càng giảm.
Để đáp ứng cho nhu cầu thương mại quốc tế ngày càng tăng đã tạo điều
kiện cho hình thức ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển.Các ngân hàng
này mở chi nhánh và phát triển mối quan hệ với các ngân hàng đại lý ở các
nước bạn là đối tác .Các hối phiếu ra đời và trở thành công cụ chuyển
nhượng được.Khi người hưởng lợi hối phiếu chuyển nhượng cho bên thứ
ba,thì một hình thức tiền tệ mới đã được tạo ra.Sự phát triển này đã giúp
cho thị trường phát triển hơn và tăng khối lượng kinh doanh ngoại hối(mua
đi bán lại nhiều lần).Khi các giao dịch chuyển khoản giữa các ngân hàng
trở nên nhanh hơn đã trở thành điều kiện thúc đẩy thị trường ngoại hối
phát triển.Thị trường ngoại hối đã chuyển từ hệ thống tiền mặt hữu hình
sang thị trường dưới dạng hỗn hợp giữa tiền mặt và tín dụng.
Nói một cách tổng quát,trong quá trình của thiên niên kỉ thứ hai,sự phát
triển của thị trường ngoại hối,ngoài vấn đề tốc độ phát triển chậm,những
khó khăn trong truyền thông và đi lại,còn rất nhiều vấn đề cần phải vượt
qua,ví dụ:trong nhiều năm,các tôn giáo đã không tán thành các hoạt động
kinh doanh ngoại hối(họ cho rằng các hoạt động này mang tính chất buôn
tiền,kinh doanh tiền,có tính chất đầu cơ không lành mạnh),thậm chí một số
chính phủ đã coi đây là hoạt động bất lương và bị cấm.Trong những năm
1800,các tuyến cáp được nối qua Atlantic,tạo ra cuộc cách mạng truyền
thông giữa châu Âu và Bắc Mỹ,khời điểm cho sự hình thành và phát triển
thị trường ngoại hối có tính chất toàn cầu như hiện nay.
1.1.2.2.Đại chiến thế giới lần thứ nhất và cuộc đại suy thoái
Trong khoảng thời gian đầu thế kỉ XX,hai cuộ đại chiến thế giới đã làm
gián đoạn sự phát triển của thị trường ngoại hối giữa các quốc gia thù
địch,thị trường ngoại hối vỡ ra từng mảnh nhỏ.Trong những năm đầu sau
đại chiến thế giới lần thứ nhất,thị trường ngoại hối trở nên vô cùng biến
động và trở thành đối tượng đầu cơ trên quy mô lớn.Các giao dịch thương
mại quốc tế kéo theo việc mua bán ngoại tệ trờ nên vô cùng rủi ro và biện

soát một cách chặt chẽ,tỷ giác các đồng tiền được neo lại và biến đổi trong
biên độ hẹp.
Thỏa thuận Bretton Woods vào năm 1944 đã mang lại sự ổn định như
mong muốn và một trật tự mới trên thị trường ngoại hối,tỷ giá các đồng tiền
chính được neo đậu cố định với USD và giá trị của USD được neo đậu cố
định với vàng với tỷ lệ 35USD=1ounce.USD được các nước chọn làm
đồng tiền dự trữ bở vì nước Mỹ cam kết với NHTW rằng sẽ đổi USD thành
vàng không hạn chế theo tỷ giá cố định 35USD=1ounce.
Hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ vào năm 1971,nguyên nhân chính là so
sự mất cân đối nghiêm trọng cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia
và càng ngày người nước ngoài nắm giữ USD càng nhiều.Sau nỗ lực hồi
phục hệ thống này vào năm 1973 không thành đã mở đầu cho thời kì chế
độ thả nổi và được duy trì cho đến ngày nay.Những đồng tiền chính giao
dịch trên thị trường ngoại hối được thả nổi dưới sự giám sát của các
NHTW phát hành.Các NHTW tham gia trên thị trường mở thường xuyên
nhằm duy trì hoạt động trên thị trường ngoại hối có trật tự hơn,hoặc tham
nha nhằm mục đích điều chỉnh theo hướng biến động tỷ giá có lợi cho
họ.Các đồng tiền của các nước nhỏ hơn được neo cố định vào một số
đồng tiền chính,chủ yếu vẫn là USD,hoặc với đồng tiền của nước bạn
hàng lớn nhất.Hệ thống tỷ giá thả nổi rõ ràng đã làm cho công tác dự báo
trong tương lai trở nên cực kì khó khăn,nhưng nó lại linh hoat hơn nhiều so
với tỷ giá cố định trong việc xử lý các áp lực thị trường và những cú sốc trê
thị trường ngoại hối như đã xảy ra trong suốt thời kì có hiệu lực của hiệp
ước Bretton Woods.
1.1.2.4.Sự biến động vô lối của tỷ giá ngày nay
Trong những năm 1970,1980 và những năm đầu 1990,chúng ta đã được
chứng kiến sự biến động của thị trường ngoại hối tăng lên không ngừng và
thị trường trở nên không thể dự đoán được.Một trong những lý do chính
khiến cho thị trường trở nên biến động mạnh là do sự gia tăng đáng kể của
các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh

vay giảm xuống,do đó,các luồng vốn di chuyển từ đồng tiền này tới các
đồng tiền khác cũng ảnh hưởng đáng kể tới sự tác động tỷ giá.
Trong khi cả hai nhóm nhu cầu đầu tư và nhu cầu đi vay tăng lên,các thị
trường toàn cầu đã trải qua sự biến động mạnh về mức lãi suất,khi lãi suất
biến động làm tăng doanh số và mức độ thường xuyên chu chuyển các
luồng vốn.Do giá dầu hỏa và các hàng hóa khác tăng lên rất mạnh,áp lực
tăng lương,tăng tín dụng và tăng cung ứng tiền đã tạo áp lực lạm phát
trong những năm 1970,nhưng thái độ của NHTW trong việc chống lạm
phát là rất khác nhau,do vậy,mức độ lạm phát của mỗi đồng tiền là cũng
khác nhau.Vốn tư bản thường xuyên di chuyển tới đồng tiền nào có mức
lãi suất hấp dẫn,nghĩa là đồng tiền nào có mức dự tính lãi suất cao
nhất.Khi các luồng tiền chảy vào đồng tiền có lãi suất thực cao,làm cho
đồng tiền này lên giá rõ rệt.Một điều đáng chú ý là sự hấp dẫn về mức lãi
suất thực cao chỉ là tương đối và chỉ tồn tại trong một thời gian cố định,do
vậy khi lãi suất không còn hấp dẫn nữa sẽ làm cho luồng vốn chảy ra và
làm cho đồng tiền xuống giá nhanh chóng.
Một nhân tố liên quan góp phần làm cho thị trường ngoại hối biến động là
do người nước ngoài ngày càng giữ nhiều tài sản bằng đồng USD.Đồng
USD là đồng tiền được ưa chuộng nhất do vậy sự biến động của nó sẽ ảnh
hưởng tới sự biến động của các đồng tiền khác.Trong khi lượng tài sản
USD do người nước ngoài nắm giữ đã góp phần làm tăng tổng phương
tiện thanh toán quốc tế,nhưng đồng thời nó cũng góp phần làm tăng các
khối lượng chu chuyển vốn quốc tế khi xuất hiện các chênh lệch về lãi suất
giữa các đồng tiền và sự tồn tại mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc
tế.
1.1.3.Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của NHTM
1.1.3.1.Nghiệp vụ kinh doanh giao ngay
1.1.3.1.1.Khái niệm và vị trí của giao dịch giao ngay
Kinh doanh giao ngay được thống nhất trên thị trường quốc tế chỉ bao gồm
việc mua bán các đồng tiền khác nhau có trên tài khoản ngân hàng và các

(Tỷ US)
Tỷ lệ %
Anh
Mỹ
Nhật
Singapore
Thụy sỹ
Hong kong
Đức
Pháp
Úc
Các nước khác
300
192
126
76
68
61
57
36
30
185

27
17
11
7
6
5
5

.Bằng đồng tiền cần có(in right currency)
.Với giá cả hợp lý(at the right price)
1.1.3.2.Nghiệp vụ kinh doanh kì hạn
1.1.3.2.1.Khái niệm và các vấn đề cơ bản
Trong thực tế kinh doanh ngoại hối,ngày giá trị của giao dịch ngoại hối có
thể là bất cứ khi nào kể từ ngày kí kết hợp đồng cho đến vài năm trong
tương lai.Ví dụ,đó có thể là ngày giá trị hôm nay(today valued date),ngày
mai(tomorrow valued date),ngày kia(spot valued date).hay kì hạn(forward
valued date).Trong đó ngày giá trị giao ngay là ngày quan trọng nhất,nó
được xem như ngày mốc để xác định các ngày giá trị khác.Căn cứ vào
mốc là ngày giá trị giao ngay,ta định nghĩa:Những giao dịch ngoại hối có
ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kì
hạn(forward transactions).
Tỷ giá áp dụng trong giao dịch kì hạn được gọi là tỷ giá kì hạn:Tỷ giá kì
hạn là tỷ giá được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc
trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay.Nếu gọi
S là tỷ giá giao ngay,F là tỷ giá kỳ hạn và P là điểm kỳ hạn thì ta có thể
viết:
F=S+P -> P=F-S
Như vậy,tỷ giá kỳ hạn bao gồm hai thành phần là:(i) tỷ giá giao ngay; (ii)
điểm kỳ hạn.Do đó:điểm kỳ hạn là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá
giao ngay.
Hợp đồng kỳ hạn là một công cụ tài chính để mua hoặc để bán một số tiền
nhất định,tại một tỷ giá nhất định,tại một thời điểm xác định trong tương
lai.Các hợp đồng kỳ hạn được giao kết và giao dịch giữa các ngân hàng và
khách hàng,hay giữa các ngân hàng với nhau.Giao dịch kỳ hạn không diễn
ra trên sở giao dịch mà giống như giao dịch giao ngay,đây là thị trường phi
tập trung của ngân hàng và các nhà môi giới được liên kết với nhau bằng
điện thoại,telex,fax,hệ thống SWIFT.Bộ phận liên ngân hàng của thị trường
hoạt động liên tục thông qua việc đấu giá mở hai chiều giữa các thành viên

c
=mức lãi suất/năm của đồng tiền yết giá
t=thời hạn hợp đồng,tính theo năm
Giả sử tỷ lệ trao đổi giao ngay giữa đồng tiền định giá và đồng tiền yết giá
là :
PV
c
=PV
T
Chúng ta định nghĩa:Tỷ giá giao ngay là tỷ số giữa giá trị hiện tại của đồng
tiền định giá chia cho giá trị hiện tại của đồng tiền yết giá,ta có:
S=
Giả sử tỷ lệ trao đổi kỳ hạn(tại một thời điểm nhất định trong tương lai)giữa
đồn tiền định giá và đồng tiền yết giá là:
FV
c
=FV
T
Chúng ta định nghĩa:Tỷ giá kỳ hạn là tỷ số giữa giá trị kỳ hạn của đồn tiền
định giá chia cho giá trị kỳ hạn của đồng tiền yết giá,ta có:
F=
Áp dụng công thức giá trị thời gian của tiền tệ ta có:
FV
T
=PV
T
(1+R
T
.t)
FV

Tỷ giá kỳ hạn mua vào được xác định theo công thức:
F
B
=S
B
+P
B
Trong đó:P
B
là điểm kỳ hạn mua vào.
Do đó:
P
B
=F
B
-S
B
=> P
B
=S
B
-Công thức tính điểm kỳ hạn bán ra:
Tỷ giá kỳ hạn bán ra được tính theo công thức:
F
O
=S
O
+P
O
Trong đó:P

1.Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng
thời tại ngày hôm nay.Giống như trên thị trường giao ngay và giao kỳ
hạn,nếu không có thỏa thuận khác,thì khi nói mua một đồng tiền có nghĩa
là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá,và bán ra một đồng tiền có
nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
2.Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này(đồng tiền yết giá)là bằng
nhau trong cả hai vế(vế mua và vế bán)của hợp đồng hoán đổi.
3.Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và ngày giá trị của hợp đồng bán ra
là khác nhau.
Từ khái niệm và đặc điểm trên ta có thể thấy giao dịch hoán đổi có thể gồm
hai loại:
Thứ nhất,bao gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn(spot-
forward swap).Ví dụ,hợp đồng hoán đổi giao ngay-kỳ hạn giữa VND-USD
như sau:
Mua(bán) USD Bán(mua) USD
Giao ngay kỳ hạn
|_______________________________|
t
0
t
1
Thứ hai,bao gồm hai giao dịch đều là giao dịch kỳ hạn được ký kết đồng
thời tại ngày hôm nay,nhưng có ngày giá trị khác nhau(Forward-Forward
Swap).Ví dụ:
Ký kết mua(bán) USD bán(mua) USD
hợp đồng kỳ hạn kỳ hạn
|_____________________|_______________________|
t
0
t

lai với một mức giá cố định.Nói một cách ngắn gọn,giá cả được thỏa thuận
trong ngày giao dịch,còn việc giao nhận tài sản và thanh toán được xảy ra
sau này.Những hợp đồng giao dịch như vậy được giao dịch trên nhiều sở
giao dịch khác nhau trên phạm vi toàn thế giới.Sở giao dịch lớn nhất và
nổi tiếng nhất là sở giao dịch Chicago,ngoài ra còn nhiều sở giao dịch
được đặt ở nhiều thành phố khác nhau như:NewYork, London, Paris,
Singapore,Tokyo,Osaka và Sydney.
Hợp đồng tương lai có các đặc điểm giống với hợp đồng kỳ hạn,đó là,giá
cả ghi trong hợp đồng được thỏa thuận trong ngày hôm nay và hàng hóa
giao dịch cũng được xác định chi tiết trong ngày hôm nay,ngoài ra nó có
một đặc điểm khác với hợp đồng kỳ hạn ở chỗ trách nhiệm giao hàng và
thanh toán giá trị hàng hóa không bắt buộc,hai bên có thể chấm dứt hợp
đồng tại bất cứ thời điểm nào.Một hợp đồng tương lai không phải là thỏa
thuận man tính cá nhân,các hợp đồng tương lai được thỏa thuận qua sở
giao dịch và do đó các bên có thể chấm dứt hợp đồng(tất toán hợp đồng)
tại bất cứ thời điểm nào thông qua sở giao dịch.
Các đặc điểm cơ bản của hợp đồng tiền tệ tương lai:
-Các hợp đồng tiền tệ tương lai,là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa
và được thực hiện tại các sàng giao dịch của sở giao dịch tiền tệ tương lai-
furtures exchange.Các công ty,các các nhân và cả các ngân hàng tạo thị
trường gửi các lệnh đặt mua hay đặt bán một số lượng cố định ngoại hối
cho các nhà môi giới hay các thành viên của sở giao dịch.trên sở giao
dịch,các lệnh đặt mua(go long) được đối chiếu với các lệnh đặt bán(go
short).Một công ty thanh toán bù trừ (clearing corporation) của sở giao dịch
đảm bảo cho cả bên mua và bán rằng các lệnh mua và bán sau khi đã
được đối chiếu và khớp nhau chắc chắn sẽ được thực hiện.Cung cầu về
các hợp đồng tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác sẵn sàng
mua hay sẵn sàng bán các hợp đồng,điều này làm cho giá cả các hợp
đồng biến đổi theo giá của các lệnh đặt mua hay giá của các lệnh đặt
bán.Mặt khác,giá cả biến động làm cho các hợp đồng mua và các hợp

định và không thương
lượng được.Các giao dịch
có độ lớn bằng bội số của
giá trị một hợp đồng
Các đồng tiền
giao dịch
Tất cả các đồng tiền nếu có
thể mua bán được
Hầu hết chỉ là các đồng
tiền chính
Điều khoản
biến động tỷ
giá hàng ngày
Hàng ngày giá cả biến
động theo cung cầu thị
trường,không có giới
hạn,trừ khi có sự can thiệp
của NHTW
Mức độ biến động tỷ giá
hàng ngày có thể được
giới hạn bởi sở giao dịch
Những ngày
đến hạn
Vào bẩt cứ ngày làm việc
nào nếu có sự thỏa thuận
giữa người mua và người
bán
Những ngày đến hạn
được tiêu chuẩn hóa
Thời hạn tối Không hạn chế.Có những Tối đa là 12 tháng

đồng tiền này với một đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thỏa thuận
trước,trong một khoảng thời gian nhất định.
-Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ:Là hợp đồng,trong đó người mua hợp
đồng có quyền mua một đồng tiền nhất định.
-Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ:Là hợp đồng,trong đó người mua hợp
đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định.
Các bên tham gia hợp đồng quyền chọn:Trong mỗi hợp đồng quyền chọn
đều có hai đối tác tham gia:người bán hợp đồng và người mua hợp đồng
-Mua một hợp đồng quyền chọn có thể là:mua quyền chọn bán,hay mua
quyền chọn mua.Người mua hợp đồng,sau khi trả phí mua quyền
chọn,luôn quan tâm đến quyền tiến hành giao dịch,nếu thấy có lợi,hoặc là
không tiến hành giao dịch,nếu như thấy bất lợi.
-Bán một hợp đồng quyền chọn có thể là:bán quyền chọn bán,hay bán
quyền chọn mua.Người bán hợp đồng sau khi đã thu phí bán quyền
chọn,có nghĩa vụ luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch tại mức tỷ giá thỏa
thuận,nếu người mua thực hiện quyền chọn của mình.
Tỷ giá quyền chọn:trong giao dịch quyền chọn tiền tệ thì tỷ giá trong các
hợp đồng quyền chọn được hình thành ngoài yếu tố cung cầu,còn phụ
thuộc vào mức phí quyền chọn cao hay thấp,do đó nó có thể cao hơn hay
thấp đáng kể so với các hợp đồng giao ngay hay hợp đồng kỳ hạn.
Phí hợp đồng quyền chọn là khoản tiền mà người mua hợp đồng quyền
chọn phải trả cho người bán.Phí hợp đồng quyền chọn phải là lượng tiền
hợp lý,sao cho đủ để bù đắp rủi ro xét từ góc độ của người bán và không
quá đắt xét từ góc độ của người mua.Nếu hợp đồng đáo hạn mà không
xảy ra giao dịch,thì chỉ có một luồng tiền duy nhất xảy ra,đó là khoản phí
quyền chọn mà người mua trả tiền cho người bán.Như vậy,thu nhập của
người bán bị giới hạn và tối đa chỉ bằng khoản phí quyền chọn đã thu.
Các nhân tố ảnh hưởng lên phí hợp đồng quyền chọn
-Giá trị nội tại của hợp đồng quyền chọn:là giá trị ở trạng thái”được giá
quyền chọn”.Nói cách khác,giá trị nội tại là chênh lệch giữa tỷ giá quyền

1.2.Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
NHTM
-Quan hệ kinh tế đối ngoại:Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế của một
quốc gia nhất định với các quốc gia khác trên thế giới và với các tổ chức
tài chính và kinh tế quốc tế,trong đó quan hệ ngoại thương,dịch vụ đầu tư
quốc tế và chuyển giao công nghệ là những quan hệ kinh tế quan trọng,đó
là những nhân tố thúc đây hoạt động ngoại hối phát triển.Thông qua các
hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế làm nảy sinh hoạt động phòng
ngừa rủi ro tỷ giá đối với các nhà xuất nhập khẩu và thúc đẩy ham muốn
kiếm tiền của các nhà kinh doanh đầu cơ kinh doanh chênh lệch lãi suất có
bảo hiểm rủi ro ngoại hối.
-Chính sách quản lý ngoại hối của các quốc gia:Chính sách quản lý ngoại
hối là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường ngoại
hối của mỗi quốc gia.Trên cơ sở các quan hệ mua bán chuyển
nhượng,đầu tư ngoại hối…nó còn quyết định tính biệt lập hay thông suốt
của thị trường này đối với thị trường khác.
Chế độ quản lý ngoại hối tự do tại các nước tư bản phát triển:Cho phép
đồng tiền các quốc gia này tự do tham gia vào thị trường quốc tế,tự do
chuyển đổi ra tiền tệ nước ngoài.Tại các nước này không có chế độ cấp
phép kinh doanh ngoại tệ,tỷ giá hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại tệ
trên thị trường,nhà nước không khống chế và không kiểm soát tỷ giá.Sự
vận hành và phát triển của thị trường ngoại hối hoàn toàn theo cơ chế điều
tiết thị trường
Chế độ quản lý ngân hàng tại các nước kém phát triển và đang phát
triển:Đó là nhà nước quản lý chặt chẽ các luồng vậ động của ngoại
hối.Trong phạm vi quốc gia,việc lưu hành ngoại tệ bị giới hạn,những tổ
chức kinh tế hay các nhân có hoạt động thương mại,dịch vụ hay đầu tư
quốc tế mới được phép mua bán ngoại tệ.Mọi nguồn ngoại tệ có được đều
phải bán cho NHTM.Chính cơ chế quản lý ngoại hối kiểu này đã kìm hãm
sự phát triển của thị trường ngoại hối cũng như các nghiệp vụ kinh doanh

Tính đến ngày cuối năm 2006, vốn điều lệ của MB đã đạt 1.045 tỷ đồng,
tăng hơn 50 lần so với ngày đầu thành lập, trong đó có hơn 4.000 cổ đông
pháp nhân và thể nhân, thể hiện sự đa dạng hoá trong sở hữu của MB.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status