LUẬN VĂN:
Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang
thị trường khu vực Đông Bắc á - thực
trạng và giải pháp
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đẩy mạnh xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một chủ trương của Đảng và Nhà nước,
được coi là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập
và cải thiện đời sống cho một bộ phận lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
XKLĐ còn là biện pháp để tiếp thu, chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, giúp
đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế của Việt
Nam, tạo điều kiện cho Việt Nam hội nhập sâu hơn vào khu vực và quốc tế.
Khu vực Đông Bắc á có các nước có trình độ cao về phát triển kinh tế, khoa học,
kỹ thuật và công nghệ, trong đó Nhật Bản còn là nước công nghệ nguồn, là khu vực có nhu
cầu nhập khẩu nhiều loại lao động. Vì vậy, XKLĐ sang khu vực này còn có mục đích tiếp
đề "Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc á - thực trạng
và giải pháp" được chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ở nước ta trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề
XKLĐ, như: Nguyễn Lương Trào (1993): Mở rộng và nâng cao hiệu quả việc đưa lao
động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài - Luận án tiến sĩ kinh tế; Cao Văn Sâm (1994):
Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế xuất khẩu lao động - Luận án tiến sĩ kinh tế; Trần
Văn Hằng (1995): Các giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
trong giai đoạn 1995-2010 - Luận án tiến sĩ kinh tế; Nguyễn Đình Thiện (2000): Một số
vấn đề về xuất khẩu lao động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Luận văn thạc sĩ
kinh tế chính trị; Nguyễn Văn Tiến (2002): Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước về xuất khẩu
lao động - thực trạng và giải pháp - Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế; Nguyễn Phúc Khanh
(2004): Xuất khẩu lao động với chương trình quốc gia về việc làm - Thực trạng và giải
pháp - Đề tài khoa học cấp Bộ. Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ
sở, các bài nghiên cứu đăng trên nhiều tạp chí viết về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu này nhìn chung đã tiếp cận vấn đề XKLĐ của Việt
Nam ở nhiều góc độ khác nhau, tập trung nhiều vào việc phân tích đánh giá hoạt động
XKLĐ của Việt Nam nói chung, hoặc về các khía cạnh chính sách, cơ chế quản lý hoạt
động XKLĐ. Tuy đề cập đến thực trạng và hướng phát triển XKLĐ của Việt Nam sang
các nước thuộc khu vực Đông Bắc á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, nhưng các
công trình này mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giá chung, tổng quát, chưa đi sâu vào phân
tích, đánh giá đầy đủ về nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài (LĐNN) của khu vực
cũng như hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Hơn
nữa, trong điều kiện nền kinh tế thế giới, khu vực và bản thân Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan cũng luôn hàm chứa những yếu tố có tác động không nhỏ tới việc tuyển dụng LĐNN
ở từng nước, hoạt động XKLĐ của nước ta còn nhiều tồn tại, khó khăn, có nhiều diễn biến
phức tạp chưa giải quyết được thì việc nghiên cứu, làm rõ cả về lý luận và thực tiễn về
XKLĐ nói chung, hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc á
nói riêng cần phải được tiến hành thường xuyên, để từ đó đưa ra được các giải pháp phù
nghiên cứu thực trạng hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc
á chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu hoạt động XKLĐ trực tiếp của Việt Nam sang các
thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan từ năm 1992 đến năm 2004. Đối tượng nghiên
cứu là hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh
doanh và làm dịch vụ giúp việc tại các nước và vùng lãnh thổ này.
Thuật ngữ xuất khẩu sức lao động và xuất khẩu lao động được dùng tương đương
trong luận văn và đồng nhất về cách hiểu, mặc dù về khía cạnh khoa học, chỉ có sức lao
động mới là hàng hóa và là đối tượng của trao đổi, mua bán, trong đó có xuất khẩu. Người
lao động ở các trình độ, nghề nghiệp khác nhau được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo
các hợp đồng cung ứng lao động được nghiên cứu chung là lao động xuất khẩu (LĐXK).
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp khác như thống kê,
phân tích, so sánh và tổng hợp một cách logíc, có kế thừa những kết quả nghiên cứu của
các công trình nghiên cứu khoa học trước đây để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động XKLĐ.
- Làm rõ nhu cầu tuyển dụng LĐNN của Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan và
phương hướng XKLĐ của Việt Nam sang các nước này.
- Tìm ra một số nguyên nhân của thành công và hạn chế trong hoạt động XKLĐ
của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông Bắc á, rút ra một số kinh nghiệm về hoạt
động XKLĐ của Việt Nam.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế các phát sinh
tiêu cực, đồng thời thúc đẩy hoạt động XKLĐ của Việt Nam sang thị trường khu vực Đông
Bắc á phát triển trong thời gian tới.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính
sách kinh tế - xã hội, nhất là đối với những người làm công tác XKLĐ, các nhà nghiên cứu
và các độc giả quan tâm.
Việt
Nam sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và nguyên nhân
51
2.3.
Mt s kinh nghim rỳt ra t thc trng hot ng xut khu lao
ng
ca Vit Nam sang th trng khu vực Đông Bắc ỏ
67
Ch-ơng 3: mt s gii phỏp y mnh hot
ng xut khu lao
ng ca vit nam sang th trng khu vc ụng b
c
ỏ
70
3.1. Nhu cầu sử dụng lao động n-ớc ngoài củ
a khu vực Đông Bắc ỏ và
ph-ơng h-ớng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang khu vực này
70
3.2. Nhng quan im v hot ng xut khu lao ng cn
c nhn
thc ỳng
76
3.2. Mt s gii phỏp y mnh hot ng xut khu lao
ng ca Vit
Nam sang th trng ụng Bc ỏ trong thời gian tới
82
Kết luận
Để làm rõ bản chất cũng như đưa ra được khái niệm đầy đủ về hoạt động XKLĐ,
cần xem xét tới một số vấn đề liên quan sau:
Thị trường lao động: Là thị trường trao đổi sức lao động, là một không gian trao
đổi, tiến tới một thỏa thuận giữa người sở hữu sức lao động và người cần sức lao động đó
để sử dụng. Kết quả của sự trao đổi đó là sự thỏa thuận bằng hợp đồng về tiền công cùng
với một số điều kiện khác cho một công việc cụ thể. Thị trường lao động chính là biểu
hiện của sự trao đổi, là mối quan hệ kinh tế cần thiết giữa người sở hữu và người sử dụng
sức lao động. Hàng hóa trên thị trường lao động là sức lao động - một loại hàng hóa đặc biệt,
giá cả của nó cũng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế, nhất là quy luật cung - cầu.
Lao động di cư (migrant worker) chỉ người lao động di chuyển từ nước này sang
nước khác để làm việc, thuộc phạm trù di dân quốc tế (international migration). Di dân
quốc tế bao gồm những vấn đề lớn hơn khái niệm lao động di cư, để chỉ những người hoặc
dòng người di chuyển từ nước này sang nước khác vì nhiều mục đích khác nhau, với nhiều
lứa tuổi khác nhau, trong đó có một bộ phận thuộc lực lượng lao động.
Xuất khẩu lao động: Được hiểu như là công việc đưa người lao động từ một nước
đi lao động tại nước có nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động. Nó có liên quan đến các
khái niệm: lao động xuất cư - chủ yếu đề cập tới người lao động ra đi từ một nước nào đó
tới nước mà họ lao động; lao động nhập cư - chủ yếu đề cập đến người lao động từ nước
ngoài vào một nước nào đó để làm việc; lao động xuất khẩu - đề cập đến người lao động
của một nước có độ tuổi, sức khỏe và kỹ năng lao động khác nhau được đưa đi làm việc ở
ngoài nước theo các quy định của pháp luật nước đó.
Trên thế giới, thuật ngữ thông dụng để chỉ sự di chuyển của người lao động ra
khỏi biên giới một nước là lao động di cư hay lao động di trú. Theo Điều 11 của Công ước
số 97 (1949) của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khái niệm người lao động di cư chỉ một
người di cư từ nước này sang một nước khác để làm thuê cho người khác [47]. Như vậy,
bất cứ sự di chuyển nào của người lao động từ nước này đến nước khác để làm việc đều
được gọi chung là lao động di cư, không phân biệt hình thức tổ chức và đối tượng tham
gia. Với cách hiểu này, thuật ngữ lao động di cư chỉ phản ánh biểu hiện bề ngoài sự di
chuyển của người lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới bất kỳ hình thức nào, chưa thể
quan hệ quốc tế (hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật), được thực hiện theo các
hình thức tổ chức: hiệp định giữa hai chính phủ (nếu có); các hợp đồng cung ứng lao động
giữa các tổ chức kinh tế của Việt Nam và nước ngoài; các hợp đồng lao động giữa người
lao động với các tổ chức kinh tế Việt Nam hoặc các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài
[22]. Nhà nước không trực tiếp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài mà chủ yếu do các
tổ chức kinh tế được cấp phép đảm nhiệm. Hoạt động này đã phản ánh sát thực bản chất
của việc cung ứng và tiếp nhận lao động giữa các quốc gia, đó là sự trao đổi, mua bán hàng
hóa sức lao động nhằm mục đích kinh tế - xã hội, nằm trong quỹ đạo của nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước.
Xuất khẩu lao động: Là thuật ngữ hiện được sử dụng phổ biến, có ý nghĩa tương
đương với cụm từ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trên các phương tiện
thông tin đại chúng, trong nhiều văn bản pháp luật, tài liệu nghiên cứu về người lao động
đi làm việc ở ngoài nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường, XKLĐ phản ánh hoạt động
cung - cầu lao động trên thị trường lao động quốc tế theo các quy luật kinh tế, trên cơ sở
giá cả của hàng hóa sức lao động và lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia; phản ánh
được sự khác biệt giữa hình thức tổ chức đưa lao động ra nước ngoài làm việc một cách
hợp pháp với các hình thức tổ chức khác.
1.1.1.2. Bản chất của hoạt động XKLĐ
Từ hiện tượng di chuyển lao động tự do đến XKLĐ là một quá trình gắn liền với
quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước. Đó cũng là một quá trình nhận thức khách quan
về vai trò của người lao động và sức lao động tiềm ẩn trong các nước dư thừa lao động.
Vấn đề di chuyển lao động và XKLĐ về thực chất là việc đem sức lao động từ một nước
này tới một nước khác nhằm mục đích kinh tế, nhưng giữa chúng có sự khác nhau về chất.
Việc di chuyển lao động ban đầu mang tính tự phát còn việc di chuyển lao động trong
XKLĐ lại mang tính tự giác, tức là có việc tổ chức đưa lao động đi và về kèm theo hạch
toán kinh tế, có ý nghĩa chiến lược của một quốc gia. Như vậy, XKLĐ bản thân nó là một
hoạt động nhằm mục đích kinh tế, có liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm và phức tạp vì
gắn liền với hoạt động của người lao động.
Từ thực tế nêu trên cùng với tính đặc biệt của hàng hóa sức lao động đã tạo ra sự
Hoạt động mua bán này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể người lao động
trực tiếp tìm đến người sử dụng hoặc thông qua các môi giới trung gian theo các hợp đồng
cung ứng lao động. Nếu người lao động bán sức lao động, đi làm thuê cho người sử dụng ở
ngoài nước thì việc mua bán này diễn ra trên thị trường lao động quốc tế, khi đó hoạt động
này vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia và do đó, liên quan tới các quan hệ kinh tế,
chính trị, xã hội,… giữa quốc gia mà người lao động đi và quốc gia mà người lao động đến
để làm việc. Để đảm bảo quyền lợi của người lao động cũng như các lợi ích khác của quốc
gia, nhà nước đã phải tham gia vào hoạt động này. Cho đến nay, hầu hết sự di chuyển của
người lao động ra nước ngoài làm việc đều có sự can thiệp của nhà nước, nhưng với các
mức độ khác nhau ở các nước khác nhau. Vì thế trên thế giới người ta thường xếp XKLĐ
vào hoạt động kinh tế đối ngoại hay hoạt động kinh tế quốc tế.
Như vậy có thể thấy, thực chất XKLĐ là hoạt động xuất khẩu hàng hóa sức lao
động - một loại hàng hóa đặc biệt, bản chất của hoạt động này là việc bán hàng hóa sức
lao động trong nước cho nước ngoài. Người lao động thông qua các tổ chức môi giới giao
dịch hàng hóa sức lao động, hay các tổ chức XKLĐ, của nhà nước hoặc tư nhân, để bán
sức lao động, đi làm thuê cho chủ sử dụng lao động ở ngoài nước.
Từ những phân tích trên, chúng tôi mạnh dạn tóm lược các nội dung trên và đưa ra
một khái niệm tương đối đầy đủ về XKLĐ như sau:
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế - xã hội đặc thù, thuộc lĩnh vực hợp
tác kinh tế quốc tế của một quốc gia nhằm thực hiện việc cung ứng hàng hóa sức lao động
cho nhu cầu sử dụng ở nước ngoài theo các hình thức do nhà nước quy định. Đây là một
hình thức giao dịch hàng hóa sức lao động trên thị trường lao động quốc tế, trong đó
người chủ bán hàng hóa sức lao động cho người sử dụng ở nước ngoài thông qua các tổ
chức môi giới trung gian của nhà nước hoặc tư nhân.
1.1.1.3. Đặc điểm của hoạt động XKLĐ
Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, do đó, hoạt động XKLĐ cũng có
những đặc điểm khác với hoạt động xuất khẩu các hàng hóa khác.
- Hoạt động XKLĐ là một hoạt động đặc thù thuộc lĩnh vực hợp tác kinh tế quốc
tế. Tính đặc thù này được thể hiện hoạt động XKLĐ là một hoạt động nhằm mục đích kinh
phát triển quan hệ hợp tác với các nước NKLĐ, Trong những trường hợp cần thiết, nhà
nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà bản thân các tổ chức, doanh nghiệp XKLĐ
không thể đảm đương được như bảo vệ người lao động ở nước ngoài, đàm phán ký kết các
hiệp định chính phủ về hợp tác lao động với nước ngoài, ký kết các điều ước quốc tế liên
quan đến người lao động, giải quyết các vấn đề tiêu cực trong hoạt động XKLĐ như lao
động vi phạm pháp luật ở nước NKLĐ, lừa đảo trong hoạt động XKLĐ,
- Hoạt động XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ đặc thù. Đặc điểm này
được thể hiện qua tính chất vô hình không thể chia cắt và tính chất không xác định trong
hoạt động XKLĐ.
+ Tính chất vô hình, không thể chia cắt: Hoạt động dịch vụ thông thường có đặc
điểm không hiện hữu, không tồn tại dưới dạng vật thể, không thể sờ mó, tiếp xúc hay nhìn
thấy được khi ra quyết định sử dụng. Đối với XKLĐ, yếu tố không hiện hữu thể hiện ở
chỗ, hoạt động XKLĐ không chấm dứt khi đã hoàn thành thủ tục đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài, nó kéo dài từ khi đưa người lao động đi XKLĐ, giúp người lao
động thích nghi với công việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động về nước. Các bên
liên quan đến hoạt động XKLĐ có quyền lợi và nghĩa vụ trong suốt thời hạn của hợp đồng,
đồng thời, phải thường xuyên có những hành động để thực hiện nghĩa vụ quy định trong
hợp đồng, hoặc cả trường hợp không quy định trong hợp đồng nhưng có liên quan đến
quyền lợi của người lao động, người cung ứng lao động và người sử dụng lao động [24, tr.
12].
+ Tính chất không xác định: Dịch vụ có tính không đồng nhất, sản phẩm dịch vụ
phi tiêu chuẩn hóa, chất lượng thường không xác định bởi các dịch vụ phụ thuộc vào
người cung cấp chúng. Tính chất không xác định trong hoạt động XKLĐ được quy định
bởi chất lượng hàng hóa sức lao động. Chất lượng của hàng hóa sức lao động được phản
ánh và phụ thuộc vào nguồn lực thể chất và tinh thần của người lao động, hay là khả năng
dẻo dai, bền bỉ trong lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo của người lao động cũng
như điều kiện làm việc, sinh hoạt nghỉ ngơi, các hoạt động văn hóa… cho người lao
động. Tuy nhiên, các yếu tố này ở mỗi người, ở mỗi địa phương, khu vực là khác nhau,
có thể thay đổi làm cho chất lượng hàng hóa sức lao động thay đổi theo, không ổn định,
động, không thể tách rời khỏi cơ thể sống của người lao động và luôn thuộc quyền sở hữu
của người lao động. Người lao động với tư cách là một con người phải thường xuyên duy
trì mối quan hệ đối với sức lao động của mình như là đối với một vật sở hữu của mình hay
như đối với một hàng hóa của bản thân anh ta [34, tr. 252]. Do đó, người lao động chỉ bán
sức lao động của mình và bao giờ cũng chỉ để cho người mua sức lao động sử dụng hay
tiêu dùng sức lao động đem bán trong một thời hạn nhất định, không từ bỏ quyền sở hữu
về sức lao động đó. Nếu người lao động chuyển quyền sở hữu sức lao động của mình cho
người mua, tức người lao động đã "bán đứt hẳn toàn bộ sức lao động ấy trong một lần thì
người lao động sẽ tự bán cả bản thân anh ta, và từ chỗ là một người tự do, anh ta sẽ trở
thành nô lệ, từ chỗ là người chủ hàng hóa, anh ta sẽ trở thành một hàng hóa" [34, tr. 252].
Vì vậy, trong hoạt động XKLĐ không có sự chuyển quyền sở hữu hàng hóa xuất khẩu từ
người bán cho người mua như hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông thường, quyền sở hữu
sức lao động vẫn thuộc về người lao động khi hợp đồng được thực hiện.
Trong khoảng thời gian của hợp đồng XKLĐ, người chủ sử dụng tiến hành khai
thác và sử dụng sức lao động mua về một cách hiệu quả nhất nhằm thu được tối đa giá trị
tăng thêm do sức lao động đó tạo ra. Tuy nhiên, việc sử dụng đó là có giới hạn, phải tuân
theo các điều kiện, thỏa thuận đã ký kết giữa họ và người LĐXK, tuân theo các hiệp định
chính phủ ký kết giữa nước họ với nước XKLĐ và phù hợp với các quy ước, thông lệ quốc
tế về lao động nhập cư. Sau thời hạn hợp đồng, người chủ sử dụng hết quyền sử dụng hàng
hóa sức lao động đó và phải trả người lao động về nước XKLĐ.
- Hoạt động XKLĐ có sự đa dạng về thị trường, hình thức và chủng loại hàng hóa.
Đây là một thực tế phản ánh quá trình phân công lao động quốc tế trong bối cảnh tự do hóa
kinh tế và toàn cầu hóa, dưới tác động của sự phát triển mạnh mẽ của KHCN. Trong quá
trình phát triển kinh tế, vì nhiều lý do khác nhau, có nhiều ngành, lĩnh vực mà bản thân lực
lượng lao động của mỗi nước cũng không đáp ứng được, do đó có nhu cầu sử dụng LĐNN.
Hơn nữa, trong điều kiện tự do hóa kinh tế và tác động của các quy luật kinh tế, người lao
động sẽ di chuyển từ nơi dư thừa lao động, thu nhập thấp đến nơi thiếu hụt lao động, thu
nhập cao. Đặc biệt, ở nhiều nước, nhất là các nước đang và chậm phát triển, sự di chuyển
này được thúc đẩy mạnh mẽ bởi các chính sách của chính phủ, coi việc đưa lao động ra
nhân lực, trong đó vấn đề chính là sự dư thừa lao động ở trong nước. Trước sức ép về việc
làm, tỷ lệ thất nghiệp và thu nhập, việc XKLĐ để giảm các sức ép này và thu ngoại tệ là
một yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, hoạt động XKLĐ không nhất thiết phải từ các nước
dư thừa lao động. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự hình thành hoạt động XKLĐ là:
- Sự phát triển không đều giữa các quốc gia trên thế giới. Các nước trên thế giới
ngày càng có xu hướng phát triển cao dựa trên nền tảng KHCN tiên tiến và có những cải
tiến vượt bậc trong các lĩnh vực cơ khí hóa và tự động hóa. Trong điều kiện tự do kinh tế,
các nước, nhất là các nước phát triển, đều không ngừng đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền
kinh tế để nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả của nền kinh tế, tăng cường khả năng
cạnh tranh của quốc gia. Quá trình này đã dẫn đến hiện tượng, ở nhiều ngành, lĩnh vực
trong nền kinh tế của một quốc gia nào đó, đôi khi chính lực lượng lao động của nước đó
cũng không đáp ứng được, do vậy có nhu cầu sử dụng lao động từ nước ngoài. Trong khi
đó, ở một số nước khác, thường là các nước đang và chậm phát triển, nước nghèo nhưng
đông dân, có mức tiền công lao động thấp, thường xuyên dư thừa lao động, đã nảy sinh
nhu cầu cung ứng lao động cho những nước thiếu lao động. Từ mối quan hệ cung và cầu
về lao động đó tất yếu dẫn đến hoạt động XKLĐ giữa các quốc gia.
- Sự phân bổ tài nguyên không đồng đều giữa các nước trên thế giới. Những nước
có ít tài nguyên thiên nhiên bị thiếu hụt nguyên, nhiên, vật liệu trong việc đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế, nhất là các nước phát triển, phải tìm kiếm từ nước khác. Một số nước đã
trở thành khách hàng của các nước nhiều tài nguyên (dầu mỏ, than đá, khoáng sản ),
trong khi các nước nhiều tài nguyên này lại rất cần kỹ thuật, vốn đầu tư, lao động từ các
nước phát triển hơn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế. Chính mối quan hệ này đã
nảy sinh các nhu cầu lao động phục vụ cho các dự án khai thác tài nguyên và phát triển
kinh tế này, từ đó thúc đẩy khuyến khích một cách không tự giác việc XKLĐ trong các
nước có dư thừa lao động.
- Sự phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học và công nghệ đã đẩy nhanh quá trình chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động
ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế, hình thành lên các ngành nghề, lĩnh vực mới trong nền
kinh tế dựa trên các kỹ thuật, công nghệ cao ở nhiều nước. ở các nước phát triển, sự tập
động từ nước này sang nước khác. Việc hình thành các chi nhánh, công ty con của TNCs
để thực hiện chuyên môn hóa trong hệ thống sản xuất kinh doanh của TNCs đã tạo ra các
nhu cầu lao động khác nhau ở các nước khác nhau. Một sản phẩm hàng hóa của một công
ty ở một nước nào đó không nhất thiết phải được sản xuất tại chính nước đó, do vậy, tự nó
phát sinh các nhu cầu lao động kỹ thuật như nhau, tất yếu phải có trao đổi lao động kỹ thuật
và chuyên gia giữa các nước. Do đó, sự di chuyển lao động từ nơi này đến nơi khác tất yếu
xảy ra, làm xuất hiện hoạt động XKLĐ giữa các nước.
1.1.2.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động XKLĐ
XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại có tính đặc thù, chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khác nhau, bị tác động của nền kinh tế và chính sách phát triển của cả nước
XKLĐ và nước NKLĐ, đồng thời có tác động trở lại đối với nền kinh tế - xã hội của các
nước này. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động XKLĐ chịu tác động của
một số yếu tố sau:
- Quan hệ cung - cầu về lao động: Từ thực trạng hoạt động xuất và nhập khẩu lao
động của các nước trên thế giới cho thấy, một nước phải sử dụng LĐNN khi nguồn lao
động trong nước không đáp ứng được cho nhu cầu phát triển kinh tế của nước đó. Sự thiếu
hụt một hay nhiều loại lao động của một nước nào đó không chỉ do thiếu dân số mà còn do
không đủ lực lượng lao động có đủ kỹ năng cần thiết để đảm nhận công việc, hoặc đơn
giản chỉ do người lao động nước đó không sẵn sàng làm việc. Điều này thể hiện rất rõ ở
các nước phát triển, trường hợp Nhật Bản và Hàn Quốc là ví dụ điển hình ở châu á. Bên
cạnh đó, do thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời với chu kỳ kinh tế, vì
thế sự tăng trưởng hay suy thoái, khủng hoảng hay phục hồi của một nền kinh tế cũng có
những tác động tới nhu cầu lao động trong nền kinh tế, có thể tạo ra việc làm cho người
lao động hay cũng có thể làm giảm bớt số việc làm cho họ. Trong những điều kiện như
vậy, nhu cầu về lao động và khả năng cung ứng ở các nước có tác động rất lớn tới hoạt
động XKLĐ trên phạm vi quốc tế. Thực trạng quan hệ cung - cầu về lao động là cơ sở để
một quốc gia quyết định NKLĐ hay XKLĐ, xác định số lượng lao động, cơ cấu ngành
nghề, loại lao động cần nhập khẩu hay có thể xuất khẩu. Sự phù hợp giữa nhu cầu lao động
của nước NKLĐ và khả năng cung ứng của nước XKLĐ là yếu tố quyết định đảm bảo cho
trọng tới quyết định của chủ sử dụng về quy mô tuyển dụng LĐNN. Chính vì vậy, chất
lượng lao động là yếu tố căn bản quyết định khả năng cạnh tranh và lợi thế trong việc
chiếm lĩnh thị trường XKLĐ, đảm bảo cho sự phát triển của hoạt động XKLĐ.
- Các chính sách, pháp luật: Hoạt động XKLĐ liên quan đến nhiều người, nhiều
tổ chức, liên quan đến nước XKLĐ và nước NKLĐ, liên quan đến các tổ chức quốc tế như
Tổ chức di cư quốc tế (IOM), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), do đó nó chịu tác động
mạnh mẽ của môi trường chính trị, pháp luật và chính sách của chính phủ cả nước XKLĐ
và nước NKLĐ cũng như luật pháp quốc tế.
Hoạt động XKLĐ của một quốc gia luôn có sự tham gia của chính phủ nước đó
nhằm bảo vệ các lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì vậy, hoạt động XKLĐ chịu tác động
trực tiếp từ chủ trương và các chính sách, biện pháp quản lý, điều tiết của chính phủ nước
XKLĐ. Các văn bản, chính sách đó có thể khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động XKLĐ nhưng cũng có thể gây khó khăn, cản trở hoạt động này. Trong khi đó, bất
cứ một sự điều chỉnh trong chính sách tiếp nhận LĐNN, những quy định, điều kiện nhập
cư, thậm chí những thay đổi trong chính sách đầu tư, tái cơ cấu kinh tế, chính sách đối
ngoại của chính phủ các nước NKLĐ đều có những tác động có thể làm thay đổi nhu
cầu LĐNN ở nước NKLĐ, thậm chí trở thành rào cản hạn chế số lượng lao động nhập
khẩu, do đó làm thay đổi mức cung ứng lao động của nước XKLĐ. Ví dụ, Hàn Quốc cho
phép Việt Nam tham gia đưa lao động vào Hàn Quốc làm việc Luật cấp phép cho LĐNN
mới đã làm cho chỉ tiêu lao động Việt Nam được tiếp nhận vào nước này trong năm 2005
tăng hơn 3.000 người so với năm 2004; Đài Loan quyết định ngừng tiếp nhận lao động
giúp việc gia đình và chăm sóc người bệnh từ Việt Nam đã cản trở việc tăng số lượng
LĐXK của Việt Nam vào thị trường này và làm cho hơn 30 doanh nghiệp XKLĐ của
Việt Nam bị đình chỉ hoặc tạm dừng hoạt động XKLĐ vào Đài Loan. Sự thay đổi chính
sách đầu tư của chính phủ Malaysia trong lĩnh vực xây dựng làm cho hàng trăm LĐXK
Việt Nam ở nước này bị mất việc làm phải về nước sớm hoặc phải chuyển làm các công
việc khác vào đầu năm 2003,
- Các yếu tố truyền thống văn hóa và con người: Các chính sách tuyển dụng
LĐNN của bất kỳ quốc gia nào cũng hàm chứa sự bảo tồn và gìn giữ các giá trị truyền
hành tuyển và đưa lao động từ trong nước ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng đã ký kết.
Đây là hình thức phổ biến nhất trong XKLĐ hiện nay.
+ Hợp đồng cá nhân: Do người lao động trực tiếp ký kết với người sử dụng lao
động ngoài nước được pháp luật chấp nhận.
- XKLĐ thông qua liên doanh liên kết chia sản phẩm với nước ngoài (hợp tác trực
tiếp) hoặc doanh nghiệp nhận thầu, khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài có sử
dụng lao động trong nước. Hình thức nhận thầu, khoán công trình được thực hiện chủ yếu
trong lĩnh vực xây dựng công trình cơ sở hạ tầng mà các chủ đầu tư của nước XKLĐ trúng
thầu ở nước ngoài. Hình thức này thường phải đưa đồng bộ cả máy móc, phương tiện kỹ
thuật cùng lực lượng lao động ra nước ngoài làm việc.
1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu lao động đối với các nước hữu quan
Hoạt động XKLĐ có các tác động, ảnh hưởng cả trước mắt và lâu dài đối với quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước XKLĐ và nước NKLĐ. Luận văn chỉ nghiên