THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG EU
.1. Hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU
Từ năm 2003, ảnh hưởng từ vụ kiện chống bán phá giá của Hoa Kỳ đối với cá
tra, basa và tôm đông lạnh Việt Nam, mức thuế của các mặt hàng này bị áp đặt
Biểu đồ 2.1. Xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU
áp t r t cao c ng thêmđặ ấ ộ
các kho n ký qu l n vả ỹ ớ à
i u ki n thanh kho nđ ề ệ ả
ph c t p, khi n cho cácứ ạ ế
doanh nghi p xu t kh uệ ấ ẩ
th y s n c a Vi t Namủ ả ủ ệ
ã chuy n h ng sangđ ể ướ
các th tr ng khác. Giáị ườ
tr kim ng ch xu t kh uị ạ ấ ẩ
th y s n c a Vi t Namủ ả ủ ệ
sang th tr ng EU tị ườ ừ
n m 2004 – 2007 do óă đ
t ng m nh, n m 2004 t că ạ ă ố
t ng lên t i 92% sođộ ă ớ
v i n m 2003, n m 2005ớ ă ă
t c t ng l 79%, n mố độ ă à ă
2006 l 66% v n m 2007à à ă
l 25%. Do ó, EU nhanhà đ
chóng tr th nh th tr ngở à ị ườ
nh p kh u th y s n l nậ ẩ ủ ả ớ
nh t c a Vi t Nam, x pấ ủ ệ ế
th hai l Nh t B n vứ à ậ ả à
th ba l Hoa K . V tríứ à ỳ ị
n y có th c duy trìà ể đượ
các loại, mực và bạch tuộc... sản lượng xuất khẩu cũng như tỷ trọng của mỗi mặt hàng
này có sự thay đổi qua các năm, để phân tích tổng quan về sự thay đổi đó tác giả xin
đưa ra biểu đồ về cơ cấu và sản lượng của mỗi mặt hàng xuất khẩu sang EU từ 2005 –
2007 như sau.
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang EU từ 2005 – 2007 (tấn, %)
Nguồn: Tổng hợp tạp chí Thương mại Thủy sản từ tháng 1/2005 – 1/2007
Mỗi quả bóng tương ứng với một trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang
thị trường EU, độ cao tương ứng với sản lượng xuất khẩu và độ lớn tương ứng với tỷ lệ
phần trăm về sản lượng so với tổng kim ngạch xuất khẩu theo từng năm. Dựa vào biểu
đồ trên, các nhận xét được rút ra như sau.
Thứ nhất, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng cá đông lạnh các loại
tăng lên nhanh chóng theo từng năm, trong năm 2005, tỷ trọng mặt hàng này chiếm
57,6% (bao gồm cá da trơn, cá ngừ và các loại cá khác) tổng kim ngạch xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sang EU, trong năm 2006, tỷ trọng này tăng lên 70%, và năm 2007 là
70,5%. Như vậy, các mặt hàng cá đông lạnh chiếm tỷ trọng rất lớn trong xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam sang EU, trong năm 2007, tỷ trọng này gấp 9 lần so với mặt hàng tôm
đông lạnh, 10,3 lần so với mặt hàng mực và bạch tuộc. Điều này được giải thích do thị
hiếu tiêu dùng các sản phẩm thủy sản, người tiêu dùng EU ưu thích các sản phẩm từ cá
hơn và tỷ trọng nhập khẩu mặt hàng này thường cao hơn so với các mặt hàng khác.
Thứ hai, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu từ cá tăng lên trong khi đó tỷ trọng các
mặt hàng khác giảm xuống. Biểu đồ trên cho thấy, mặt hàng tôm đông lạnh chiếm tỷ
trọng giảm dần, từ 13,6% trong năm 2005, xuống 9,7% năm 2006 và đến năm 2007 tỷ
trọng này còn 7,8%. Tương tự với mặt hàng mực và bạch tuộc, tỷ trọng năm 2005 đạt
11,1%, năm 2006 là 8,7% và năm 2007 chỉ chiếm 6,9%... nhưng sản lượng xuất khẩu
các mặt hàng này vẫn tăng qua các năm. Như vậy, tốc độ tăng về sản lượng xuất khẩu
cá đông lạnh cao hơn so với tốc độ tăng của mặt hàng tôm đông lạnh và mực đông lạnh,
nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm cá của EU cao hơn so với việc tiêu dùng các sản phẩm
thủy sản khác, yếu tố này sẽ ảnh hướng tới chiến lược xuất khẩu thủy sản sang thị
trường EU trong giai đoạn tới (từ 2008 – 2010).
Thứ ba, trong các mặt hàng cá đông lạnh xuất khẩu sang thị trường EU, mặt
tiêu dùng thủy sản của EU. Dự báo về xu hướng nhập khẩu của thị trường EU là căn cứ
để xây dựng chiến lược xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian tới.
2.1.3. Giá cả các mặt hàng thủy sản tại thị trường EU
Giá cả của một số mặt hàng thủy sản tại thị trường EU bao gồm giá của mặt
hàng cá các loại, mực và bạch tuộc...dựa vào giá cả của mỗi mặt hàng có thể thấy được
giá trị của từng mặt hàng đó trong tiêu dùng. Trong cùng một đơn vị khối lượng, mặt
hàng có giá cao hơn thì có giá trị kinh tế cao hơn và mức giá của một sản phẩm tăng sẽ
kích thích các nhà xuất khẩu trong việc cung cấp sản phẩm đó tới người tiêu dùng EU.
Do đó, tính cạnh tranh trong cùng một sản phẩm giữa các nhà xuất khẩu tăng lên. Một
trong các mặt hàng được xem là có giá trị kinh tế cao đó là cá ngừ đại dương, sự biến
đổi về giá bán mặt hàng này trên thị trường EU như sau.
Biểu đồ 2.4. Giá bán mặt hàng cá ngừ đóng hộp tại thị trường EU
Nguồn: www.globefish.org
Biểu đồ trên cho thấy sự biến đổi giá bán của mặt hàng cá ngừ đóng hộp trong
tháng 1 từ năm 1998 đến năm 2007. Giá mặt hàng này tương đối cao, thấp nhất là
15EUR/1 kg và cao nhất trong giai đoạn 2005 – 2007 là vào khoảng 25 EUR/1kg.
Ngoài ra, giá mặt hàng cá ngừ sau một thời gian giảm từ tháng 1/2002 đến tháng
1/2004 sau đó có xu hướng tăng trở lại từ tháng 1/2005 đến tháng 1/2007. Đây là một
mặt hàng đang được ưu chuộng trên thị trường EU, với mức giá cao nó trở thành mặt
hàng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngành khai thác thủy sản Việt Nam trong thời
gian tới.
Mặt hàng thứ hai là mặt hàng mực và bạch tuộc, đây cũng là một mặt hàng có lợi
thế của Việt Nam, giá bán của mặt hàng này trên thị trường EU biến đổi như sau.
Biểu đồ 2.5. Giá bán mặt hàng mực tại thị trường EU
Nguồn: www.globefish.org
Giá bán của mặt hàng mực ít biến động, dao động trong khoảng 12 – 14
EUR/kg trong giai đoạn 2005 – 2007. Từ tháng 10/2006 đến tháng 04/2007, giá mực
hầu như không thay đổi, với giá khoảng 12,5 EUR/kg, tuy nhiên, sang đến tháng
05/2007 mặt hàng giá mực có xu hướng tăng lên và gần chạm vạch 14 EUR/kg.
2.2. Xu hướng nhập khẩu thuỷ sản của EU từ năm 2008 – 2010
Tổng mức sản lượng cá ngừ nhập khẩu của các nước này năm 2006 đạt
437,8 (nghìn tấn) tăng 5,6 (nghìn tấn) so với năm 2005, Pháp là nước có tốc độ tăng
nhập khẩu cá ngừ lớn nhất trong cả khối, năm 2006 nhập khẩu cá ngừ của Pháp đạt
111,4 (nghìn tấn) tăng 4,5% trở thành nhà nhập khẩu lớn thứ hai sau Anh.
Các nước xuất khẩu lớn nhất mặt hàng này sang thị trường EU bao gồm
Seychelles, Ecuador, Thái Lan, Philippin. Tổng thị phần của các nước này chiếm gần
40% tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường EU. Các nước khác chiếm thị phần như
sau.
Biểu đồ 2.7. Thị phần xuất khẩu cá ngừ của các quốc gia vào thị trường EU
Nguồn: www.globefish.org/EU legislation
Thị phần mặt hàng cá ngừ của Seychelles đứng vị trí thứ nhất chiếm 13,8%,
thứ hai là Thái Lan 10,1% và thứ ba là Ecuador với 9,3% về thị phần. Thị phần của
Việt Nam chỉ chiếm 3,2% đứng trước Inđônêsia (chiếm 1,6%) và đứng sau Thái Lan
và Philippin (chiếm 7,7%), như vậy, trong khu vực ASEAN mặt hàng cá ngừ của Việt
Nam chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ Thái Lan và Philippin.
Dự báo
1
trong thời gian tới từ năm 2008 – 2010 kim ngạch nhập khẩu mặt hàng
cá ngừ của các nước trên tăng lên 505,8 (nghìn tấn) vào năm 2008; 530,2 (nghìn tấn)
vào năm 2009 và 555,7 (nghìn tấn) vào năm 2010. Dự báo tốc độ tăng trưởng nhập
khẩu trung bình của các quốc gia nhập khẩu cá ngừ lớn nhất EU vào khoảng 5%/năm.
Đây là mặt hàng có tiềm năng lớn đối với ngành khai thác thủy sản của Việt Nam, việc
đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu cá ngừ sang thị trường EU từ nay đến 2010 sẽ là một
1 Tác giả sử dụng phần mềm thống kê SPSS để dự báo sản lượng nhập khẩu mặt hàng cá ngừ của 5
nước nhập khẩu cá ngừ lớn nhất EU, dựa trên chuỗi số liệu từ năm 2000 – 2006. Việc tính toán được
trình bày cụ thể trong phần phụ lục 1.
chiến lược tăng cường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU. Kết quả
dự báo được dùng để xây dựng cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
2.2.3. Xu hướng nhập khẩu tôm đông lạnh
Các nước và khu vực nhập khẩu tôm lớn nhất trên thế giới là EU, Hoa Kỳ,
2
, tốc độ
tăng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này trung bình đạt 41%/năm.
Các quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất EU giai đoạn 2004 – 2007 gồm.
Biểu đồ 2.9. Xu hướng nhập khẩu tôm của một số nước EU
Nguồn: http://www.globefish.org/index.php?id=4404
Dựa vào các biều đồ trên có thể thấy, các quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất EU
đều có xu hướng tăng nhập khẩu mặt hàng này trong giai đoạn 2004 – 2007. Trong đó,
tốc độ tăng sản lượng nhập khẩu tôm từ tháng 1 – 9 của Đức cao nhất, đạt trên 34% vào
thời điểm năm 2007, đây là một thị trường trẻ và rất khởi sắc, mặc dù có tốc độ tăng
cao nhưng thị trường Đức vẫn xếp vị trí thứ 3 về nhập khẩu tôm của EU sau Pháp và
Anh. Quốc gia nhập khẩu tôm lớn nhất trong EU là Pháp, với sản lượng nhập khẩu 9
2 Số liệu xuất khẩu tôm sang thị trường EU từ năm 2005 – 2007 được lấy từ Tạp chí Thương mại
Thủy sản số tháng 1/2008, trang 23.
tháng đầu năm 2007 đạt 75.000 tấn gấp 2 lần Anh và 2,3 lần Đức. Tuy nhiên, xuất khẩu
sang thị trường Pháp vẫn còn rất hạn chế đối với tôm đông lạnh Việt Nam, Việt Nam
chỉ tập trung xuất khẩu mặt hàng này vào các thị trường như Đức, Bỉ, Anh (có kim
ngạch xuất khẩu cho trong bảng sau), nguyên nhân do tôm đông lạnh của Việt Nam chịu
sự cạnh tranh rất lớn từ phía các đối thủ trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc và Thái
Lan.
Bảng 2.1. Kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh của Việt Nam sang
một số quốc gia EU trong năm 2006
Thị trường
Kim ngạch xuất khẩu năm 2006
Khối lượng (tấn) Giá trị (triệu USD)
Đức 4.362 34,418
Bỉ 3.307 25,297
Anh 2.826 23,420
Nguồn: Tạp chí Thương mại Thủy sản số tháng 1/2007
2.2.4. Xu hướng nhập khẩu mực và bạch tuộc
trong giai đoạn 2008 – 2010. Thị trường Italia, từ năm 2008 – 2010 sản lượng nhập
khẩu được dự báo là tăng trưởng chậm, chỉ đạt tốc độ bình quân là 2,3%/năm, sản
lượng nhập khẩu năm 2010 là 104,3 (nghìn tấn), chỉ bằng 1/3 so với nhu cầu nhập khẩu
của Tây Ban Nha.
Đối với mặt hàng bạch tuộc, hai quốc gia này vẫn là những nước nhập khẩu lớn
nhất của EU, tổng sản lượng nhập khẩu của Tây Ban Nha và Italia năm 2006 đạt 91,5
(nghìn tấn), có thể thấy con số này là nhỏ hơn rất nhiều so với sản lượng nhập khẩu của
mặt hàng mực đông lạnh. Xu hướng nhập khẩu mặt hàng này có nhiều biến động trong
giai đoạn 1998 – 2006 như sau.
Biểu đồ 2.11. Xu hướng nhập khẩu bạch tuộc của Tây Ban Nha, Italia và xuất khẩu
của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2006 (đơn vị: nghìn tấn)