Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU - Pdf 12

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông
Nam Á ................................................................................................................... 2
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư
và phát triển Việt Nam. ......................................................................................... 2
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU .............................................. 2
MFN (Most Favoured Nation): Đãi ngộ tối huệ quốc .......................................... 2
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam ................................................................................ 2
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn
mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế .......................................... 9
Hoạt động xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị trường
thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn đứng
vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể có
sự trợ giúp của Nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được
vị trí của mình. Mặt khác thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp thu được hiểu quả nhờ quy mô sản xuất lớn. .................................... 9
- Quy định về bảo vệ môi trường ......................................................................... 29
Chế biến cà phê Arabica ................................................................................................ 35
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 80

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các nước Đông Nam Á
BIDV (Bank for Investment and Development of Viet Nam): Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam.
CE (European Conformity): Nhãn hiệu Châu ÂU
EEC (European Economic Community): Khối thị trường chung Châu Âu
ICO (International Coffee Organization): Tổ chức cà phê quốc tế

tiếp theo cần phải có những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê. Với những lý do
trên tôi xin đưa ra đề tài: “Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt
Nam sang thị trường EU”.
Mục đích nghiên cứu đề tài: Đề tài này đi sâu phân tích vào tình hình xuất
khẩu cà phê của Việt Nam trong những năm qua, từ đó rút ra các thành tựu đạt được
và các hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê sang thị trường
EU trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu mặt hàng cà phê của
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là: hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian 2001 đến nay
Phương pháp nghiên cứu:
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Luận văn dựa trên các phương pháp phân tích tổng hợp, các thực trạng, thành
tựu đạt đươc và chỉ ra các hạn chế để từ đó khắc phục nhằm thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu cà phê sang thị trường EU.
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và tầm quan trọng của việc thúc
đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 2: Tổng quan về thị trường cà phê EU và thực trạng xuất khẩu cà phê
của Việt Nam sang thị trường EU
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam sang thị trường EU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ TẦM
QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CÀ PHÊ
CỦAVIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển
Hoạt động xuất khẩu tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động,
sự phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến các ngành
công nghiệp cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “mối quan hệ ngược”
thúc đẩy sự phát triển của các ngành này. Bên cạnh đó, khi vốn tích luỹ của nền kinh
tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp
đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệ xuôi” này tiếp tục được
mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ làm tăng thu nhập của những
người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu
dùng và dịch vụ.
Các ngành nông sản, thuỷ sản xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm
xuất khẩu đã thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản phát triển. Đồng thời việc tận
dụng những lợi thế so sánh về lao động đã phát triển các ngành công nghiệp sử dụng
nhiều lao động. Mặt khác việc nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đã tạo
điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất phục vụ
nhu cầu sản xuất và xuất khẩu. Việc nhập khẩu các máy móc thiết bị đã góp phần đổi
mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất, nhờ đó trình độ sản xuất và năng suất lao
động được nâng cao. Đồng thời do hướng vào thị trường quốc tế, sản xuất kinh
doanh theo tiêu chuẩn quốc tế đã nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước.
Việc xuất khẩu tạo điều kiện để tiêu thụ những lượng hàng hóa dư thừa do
vượt nhu cầu tiêu dùng nội địa cũng như hoạt động xuất khẩu là việc mở rộng ra thị
trường thế giới cũng là yếu tố nhằm thay đổi hình thức tổ chức sản xuất. Vì vậy việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển là việc làm cần thiết và phù
hợp với điều kiện hiện nay. Xuất khẩu thể hiện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể
hiện nổi bật như sau:
+ Hoạt động xuất khẩu tạo ra hệ thống dây chuyền phát triển các ngành nghề
liên quan một cách thuận lợi nhất. Ví dụ như hoạt động xuất khẩu hàng dệt may phát
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho nền kinh tế, nhất là
trong những ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu.
+ Xuất khẩu gia tăng sẽ làm gia tăng đầu tư trong các ngành sản xuất hàng hoá
xuất khẩu và những ngành có liên quan đến sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Đầu tư gia
tăng cũng là nhân tố kích thích tăng trưởng của nền kinh tế.
Nếu xuất khẩu tăng một tỷ USD thì sẽ tạo ra 35 nghìn đến 40 nghìn chỗ làm
cho người lao động. Còn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì hàng
năm có thể tạo ra 50.000 việc làm cho người lao động (theo tờ: INTERNATIONAL
TRADE 1986 - 1990).
Xuất khẩu phát triển là điều kiện cho các công ty xuất nhập khẩu tồn tại, phát
triển và mở rộng quy mô. Do vậy sẽ ngày càng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho
người lao động
- Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khi tổ chức hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp đơn vị cần phải tuân theo
các quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng cũng
như sức khoẻ của người lao động…Chính những quy định mang tính bắt buộc đó đòi
hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới cải tiến công nghệ sản xuất, hoàn thiện quá trình
sản xuất tiêu thụ, phân phối sản phẩm một cách khoa học. Công nghệ sản xuất tiên
tiến hiện đại sẽ giúp cho việc khai thác các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên một
cách có hiệu quả nhất góp phần nâng cao sử dụng đầu vào đạt hiệu quả đem lại sản
lượng và chất lượng tốt nhất.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Xuất nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày
càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Hoạt động xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào thị
trường thế giới nhiều hơn là thị trường trong nước, do vậy các doanh nghiệp muốn
đứng vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Thời kỳ đầu có thể
có sự trợ giúp của Nhà nước song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được

+ Hạn chế rủi ro
- Nhược điểm
+ Có rủi ro khi không có sự am hiểu về thị trường
+ Tốn thời gian công sức khi phải tổ chức 1bộ máy cồng kềnh
- Điều kiện áp dụng
+ Áp dụng đối với các doanh nghiệp có khả năng về tài chính, am hiểu về
khách hàng, thị trường.
1.2.2 Xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm:
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức giao dịch mua bán thông thường mà quan hệ
mua bán được thiết lập thông qua người thứ 3(người trung gian). Người trung gian có
thể là người đại lý hoặc là người môi giới.
- Ưu điểm:
+ Tận dụng được lợi thế của các trung gian như kinh nghiệm, thông tin tại các
thị trường nhất định và tiết kiệm chi phí.
+ Thiết lập được các quan hệ thương mại nhanh và hiệu quả.
+ Tạo được các quan hệ và có các hệ thống thông tin liên kết nhất định.
+ Lợi ích và lợi nhuận thu được có tính chắc chắn hơn.
- Nhược điểm:
+ Hạn chế tiếp xúc của nhà sản xuất và người tiêu dùng.
+ Bị chia sẻ quyền lợi và phải đáp ứng nhiều yêu sách của người trung gian.
+ Làm cho các doanh nghiệp giảm sự cạnh tranh do thông tin phản hồi chậm
do không được trực tiếp nghe được ý kiến của người tiêu dùng.
+ Lợi nhuận bị chia sẻ cho các nhà trung gian.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Điều kiện áp dụng
Được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nguồn tài chính hạn hẹp, và phù
hợp với giai đoạn đầu thâm nhập của các doanh nghiệp
1.2.3 Buôn bán đối lưu

- Nhược điểm
Nghiệp vụ giao dịch và tổ chức rất phức tạp đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rõ
ràng, cán bộ tinh thông.
Thường diễn ra trong một thời gian và địa điểm nhất định gây khó khăn cho
những công ty ở các quốc gia không có ngoại giao thân thiện với nước tổ chức.
Thường bị lộ thông tin về sản phẩm vì có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng tham
gia.
- Điều kiện áp dụng
Đối với các doanh nghiệp chưa có thương hiệu mạnh trên thị trường.
1.2.5 Giao dịch tái xuất
- Khái niệm
Giao dịch tái xuất là hình thức xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước
đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một
số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước: nước
xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
- Ưu điểm
Điều hoà thương mại thế giới, hạn chế cuộc chiến thương mại hoặc những
trừng phạt về kinh tế.
Phát huy và khai thác được thế mạnh của các dịch vụ gia công chế biến sau
thu hoạch làm tăng giá trị sản phẩm do đó tăng thêm lợi nhuận.
- Nhược điểm:
Sử dụng phương thức này bị chia sẻ lợi nhuận, không gắn kết được người sản
xuất và tiêu dùng cuối cùng.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nghiệp vụ phức tạp đòi hỏi phải phối kết hợp giữa nhập khẩu-xuất khẩu và
thanh toán tiền hàng.
Điều kiện áp dụng
Áp dụng đối với các nước có sự nhạy bén tình hình về thị trường và giá cả.

định trong tổng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể thay đổi theo từng thời điểm nhất định.
Trong thời điểm này có thể xem một mặt hàng nào đó là chủ lực, nhưng trong thời
điểm khác nó chưa chắc là hàng xuất khẩu chủ lực. Chẳng hạn hiện nay Việt Nam
xác định dầu thô là mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng trong tương lai, khi các ngành
công nghiệp chế biến của Việt Nam phát triển thì dầu thô có thể không còn là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực mà thay vào đó là những mặt hàng khác như: sản phẩm phần
mềm vi tính, sản phẩm công nghệ Nano, sản phẩm công nghệ sinh học…
+ Đẩy mạnh đầu tư cho sản xuất hàng xuất khẩu
Công tác xuất khẩu ngày nay không thể chỉ dựa vào việc thu gom của cải tự
nhiên để xuất khẩu mà phải có các cơ sở tập trung sản xuất xuất khẩu, vì vậy phải
xây dựng những cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu để tạo nguồn hàng xuất khẩu tập
trung, dồi dào, có chất lượng và đạt chuẩn quốc tế. Muốn thế phải đầu tư cho sản
xuất hàng xuất khẩu. Trong chính sách đầu tư của Nhà nước cần chú ý đầu tư cho các
ngành hàng xuất khẩu và hạn chế đầu tư cho các ngành thay thế nhập khẩu mà năng
lực sản xuất trong nước đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Tập trung cho các ngành chủ lực,
cho các dự án nâng cao cấp độ chế biến, nâng cao khả năng cạnh tranh. Đối với nông
sản phẩm, chú trọng đầu tư đổi mới giống cây trồng, đổi mới công nghệ sản xuất, chế
biến. Ngoài ra trong đầu tư cũng cần chú ý đầu tư trực tiếp cho các hoạt động phục
vụ xuất khẩu như: bến cảng, kho tàng, các trung tâm thương mại ở nước ngoài, các
hoạt động xúc tiến xuất khẩu, đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu.
Một điểm cũng không kém phần quan trọng là môi trường thuận lợi thu hút
mạnh vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu. Phát
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
triển một cách hợp lý các khu chế xuất, khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư
trong và ngoài nước
+ Phát triển khu chế xuất
Nghị định 36 ngày 24-04-1997 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế khu chế

sẽ có lợi hơn. Vấn đề này lý giải sự chênh lệch về giá cả của cùng một mặt hàng ở
các nước khác nhau trên thế giới, nước nào có lợi thế kinh tế tốt hơn sẽ có điều kiện
thuận lợi sản xuất ra hàng hoá với chi phí thấp sẽ là cơ hội để các nước này đẩy mạnh
xuất khẩu và ngược lại kích thích nhập khẩu khi mặt hàng đó sản xuất trong nước giá
cao hơn. Nói cách khác: khi đồng tiền trong nước giảm giá thì hàng hoá nhập khẩu
vào nước đó sẽ đắt đỏ hơn và trái lại hàng hoá xuất khẩu sang nước sẽ rẻ hơn, tạo
thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoám ngược lại nếu đồng tiền trong nước lên giá hàng
hoá nước ngoài nhập vào sẽ rẻ hơn và hàng hoá xuất khẩu sẽ đắt đỏ hơn, tạo cơ hội
cho các nhà nhập khẩu.
Do vậy khi thực hiện hoạt động xuất khẩu điều cần thiết là duy trì tỷ giá hối đoái sao
cho các nhà sản xuất trong nước có lãi kho bán các sản phẩm công nghiệp, nông
nghiệp và dich vụ của họ trên thị trường quốc tế.
Tỷ giá hối đoái thực tế nhập khẩu do có thuế và trợ cấp thương mại được tính bằng
công thức sau:
Etn=Ro (1+tn-Sn+Qn)
Trong đó: Ro: Tỷ giá chính thức.
tn: Thuế trung bình đánh vào hàng nhập khẩu.
Sn: trợ cấp trung bình cho nhập khẩu (nếu có).
Qn: Lợi thế do hạn ngạch trung bình đối với hàng nhập khẩu (nếu có).
Tỷ giá hối đoái thực tế xuất khẩu do có trợ cấp xuất khẩu và thuế (nếu có)
được tính bằng công thức sau:
Etx=Ro (1+tx-Sx+Qx)
Trong đó: Ro: Tỷ giá chính thức.
tx: Thuế trung bình đánh vào hàng xuất khẩu.
Sx: trợ cấp trung bình cho xuất khẩu (nếu có).
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qx: Lợi thế do hạn ngạch trung bình đối với hàng xuất khẩu (nếu có)
Để điều hành chính sách tỷ giá hối đoái đúng đắn có lợi cho hoạt động xuất
khẩu trong dài hạn cần phải bảo đảm Etn < Etx.

định của thị trường trong nước (đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước) đối với
các mặt hàng là thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước. Được áp
dụng với các hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ bị
cạn kiệt hoặc khai thác sản xuất ồ ạt gây ô nhiễm môi trường làm mất cân bằng sinh
thái
- Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện là biện pháp trong đó hai quốc gia
thoả thuận với nhau về việc cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu. Cụ thể là quốc gia
nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu phải cắt giảm lượng hàng hoá xuất khẩu của mình
một cách tự nguyện nếu không thực hiện thì nước nhập khẩu sẽ áp dụng các biện
pháp trả đũa thông thường là áp dụng biện pháp đánh thuế nhập khẩu cao đối với
hàng hoá đó hoặc các mặt hàng khác, hoặc bằng biện pháp phá giá. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện mang tính miễn cưỡng và gắn liền với những điều kiện nhất định.
Hình thức này được áp dụng cho các quốc gia có khối lượng xuất khẩu quá lớn ở một
số mặt hàng nào đó.
- Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật bao gồm các quy định về tiêu chuẩn vệ
sinh, an toàn lao động, bao bì đóng gói, nhãn mác, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng
dịch đối với động và thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái
đối với các máy móc, thiết bị, dây truyền công nghệ(không có chất phế thải độc hại,
tiếng ồn quá mức cho phép…). Những quy định này xuất phát từ các đòi hỏi thực tế
của đời sống xã hội và phản ánh trình độ phát triển đạt được của nền văn minh nhân
loại. Bên cạnh đó những quy định này có tác dụng bảo hộ đối với thị truờng trong
nước hạn chế và làm méo mó dòng vận động của hàng hoá trên thị trường thế giới.
- Các yếu tố về thể chế chính trị - kinh tế - xã hội
Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội được thừa nhận tác động tới hoạt động xuất
khẩu theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thể chế thể hiện như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng, nhằm

trường đầu tư kinh doanh cũng như các thông tin của các đối tác làm ăn, bên cạnh
việc thu thập thông tin các doanh nghiệp cũng có thể quảng bá hình ảnh thương hiệu
của mình ngày một đi xa hơn tới các nước trên thế giới mà tốn ít chi phí.
+ Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nguồn cung đầu vào cho hoạt động sản
xuất cũng như hoạt động xuất khẩu, mỗi quốc gia khi có nguồn lực về tài nguyên tự
nhiên sẽ có khả năng thực hiện được các hoạt động xuất khẩu. Đối với Việt Nam có
các điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động sang các thị trường trên thế giới ví
dụ như Việt Nam có các điều kiện phát triển cây cà phê vì vậy có lợi thế sản xuất
xuất khẩu cà phê, điều kiện tự nhiên cùng với các nguồn lực về lao động, kinh
nghiệm đã tạo cho cà phê Việt Nam những hương vị riêng, có các yếu tố để giảm giá
thành xuất khẩu cà phê chính vì vậy đây sẽ là yếu tố góp phần thúc đẩy xuất khẩu xà
phê của Việt Nam.
1.4 Tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị
trường EU
Xuất khẩu đối với nước ta có ý nghĩa về nhiều mặt. Xuất khẩu là kênh phân
phối tiêu thụ sản phẩm quan trọng của sản xuất. Nhờ xuất khẩu có ngoại tệ nhập khẩu
nguyên nhiên vật liệu mà sản xuất trong nước chưa cung ứng đủ và quan trọng hơn là
nhập khẩu thiết bị kỹ thuật - công nghệ, phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước. Với tác động hai đầu, xuất khẩu đã đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao, liên tục trong thời gian dài trong thời gian qua và tạo điều kiện thuận
lợi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong những năm tới, nhằm thực hiện
mục tiêu tổng quát thoát khỏi nước kém phát triển trước năm 2010, cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Xuất khẩu còn có ý nghĩa cải
thiện cán cân thanh toán một trong bốn đỉnh của “tứ giác mục tiêu”(BOP, GDP, Lạm
phát, và tỷ lệ thất nghiệp) góp phần tăng dự trữ ngoại tệ ổn định tỷ giá…
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản cũng như là một trong những
cây công nghiệp dài ngày đem lại nhiều giá trị kinh tế xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam, chỉ đứng sau gạo. Hàng năm kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này chiếm
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46

Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các ngành khác tăng mạnh. Mặc dù vị trí của ngành cà phê giảm tương đối trong cơ
cấu xuất khẩu, nhưng Braxin vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới, với sản
lượng tương đối ổn định. Việt Nam tuy là nước lớn thứ 2 về sản lượng cà phê xuất
khẩu sau Braxin, nhưng khoảng cách của nước ta với Braxin lại quá xa, trong khi đó
với các nước xếp thứ hạng sau thì khoảng cách này lại rất nhỏ và có thể bị vượt lên
bất cứ lúc nào. Lấy ví dụ minh họa về khoảng cách này giữa 3 nước đứng đầu trong
top các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới ta thấy rất rõ:
Quốc gia Niên vụ 2002 2003 2004 2005
Brasil (R/A) T.4-T.3 48.480 28.820 39.272 32.944
Việt Nam (R/A) T.10-T.9 11.555 15.230 13.844 11.000
Colombia (A) T.10-T.9 11.889 11.197 11.405 11.550
Trong bảng trên ta có thể thấy có những niên vụ sản lượng cà phê xuất khẩu
của Colombia đã vượt Việt Nam như niên vụ 2002 và 2005. Đồng thời để vượt được
Braxin vươn lên vị trí đứng đầu đối với Việt Nam là một điều vô cùng khó khăn. Vậy
làm thế nào để ngành sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam phát triển một cách bền
vững và phát huy được tối đa thế mạnh đang là vấn đề đặt ra đối với các cấp lãnh đạo
cũng như bản thân các doanh nghiệp tham gia vào họat động này. Với cương vị là
một nước đi sau chúng ta có thể học được những bài học quý báu từ quốc gia Braxin
và áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách linh hoạt vào hoàn cảnh và điều kiện của
Việt Nam.
Những biện pháp mà Braxin đã áp dụng để thúc đấy phát triển ngành cà phê
một cách có hiệu quả đó là:
Thứ nhất: Braxin có hệ thống giám sát nguồn cung cà phê hiệu quả, để đưa ra
thông tin và dự báo thị trường cà phê chính xác, được công bố qua Hội thảo triển
vọng thị trường được tổ chức hàng năm tại Braxin. Hoạt động này là vô cùng quan
trọng nhằm phục vụ các quyết định chính sách, sản xuất và đầu tư cho các tác nhân.
Học tập kinh nghiệm này, đầu năm 2007, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển
Nông Nghiệp –Nông Thôn cũng đã tổ chức thành công hội thảo triển vọng thị trường

+Thảo luận, hoạch định và thực hiện chính sách;
Đặng Thị Quỳnh Lớp: Kinh Tế Quốc Tế K46
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Xác định, điều chỉnh, giám sát và đánh giá nghiên cứu kỹ thuật cà phê,
thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tăng cường chất lượng cà phê. Bộ
Nông nghiệp Braxin có chức năng nghiên cứu, hoạch định chính sách, chịu trách
nhiệm về các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống bệnh dịch.
Việc thực hiện được như Braxin đối với Việt Nam không phải là dễ và có thể thực
hiện trong một thời gian ngắn, song đây là điều mà các nhà hoạch định chính sách
nên hướng tới.
Thứ năm: Braxin xây dựng, phát triển hệ thống hợp tác xã ngành hàng cà phê
hoạt động rất hiệu quả và nhịp nhàng. Sản xuất cà phê của hợp tác xã chiếm tới 35%
tổng sản lượng cà phê của cả nước. Hợp tác xã có hệ thống hoàn chỉnh bao gồm kho
chứa, làm sạch, phân loại, đánh bóng, pha trộn hạt cà phê và buôn bán trực tiếp. Mỗi
vụ các chuyên gia có thể tới thăm 1 trang trại khoảng 4 lần để hướng dẫn kỹ thuật
mới, kiểm tra quy trình sản xuất đến thu hoạch, phát hiện vấn đề và giải quyết khó
khăn khi cần thiết. Họat động này ở Việt Nam chưa có, các cơ sở sản xuất cà phê ở
Việt Nam còn khó đơn lẻ, manh mún, không có tiêu chuẩn đồng bộ dẫn đến tình
trạng chất lượng kém và không đồng đều của cà phê xuất khẩu. Đây cũng là bài học
mà Việt Nam nên áp dụng, chúng ta có thể không rập khuôn lại của Braxin mà nên
tập trung các cơ sở sản xuất này lại, lập ra ban kiểm tra, kiểm định và những tiêu
chuẩn chung trong toàn bộ quá trình sản xuất cà phê xuất khẩu của nước ta.
Ngoài ra: Braxin còn có các tổ chức hỗ trợ khác như Nhóm các tổ chức
nghiên cứu cà phê (Coffee Research Consortium), chịu trách nhiệm nghiên cứu và
chuyển giao các vấn đề kỹ thuật cho cà phê, bao gồm nhiều tổ chức nghiên cứu khác
nhau như tổ chức nghiên cứu nông nghiệp của chính phủ (Embrapa – điều phối của
nhóm), các đơn vị nghiên cứu của các trường đại học, các tổ chức phi chính
phủ...Bên cạnh các tổ chức nghiên cứu kỹ thuật cà phê, Braxin còn có tổ chức nghiên
cứu kinh tế - xã hội ngành hàng (Coffee Intelligence Center), chịu trách nhiệm nghiên
cứu, dự báo, cung cấp thông tin thị trường cà phê thế giới và Braxin cho các tác nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status