MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 1
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU ......................................................... 6
1.1. Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa ...................................... 6
1.1.1. Khái niệm và vai trò của xuất khẩu hàng hóa ................................. 6
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa ................................ 8
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam .................................................................... 13
1.3. Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
thị trường EU ............................................................................................. 17
1.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc - nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất
trên thế giới ................................................................................................ 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU ....................................................... 22
2.1. Tổng quan về thị trường thuỷ sản EU .............................................. 22
2.1.1. Đặc điểm thị trường EU .................................................................. 22
2.1.2. Tình hình nhập khẩu thuỷ sản của EU từ năm 2000 đến nay ........ 26
2.1.3. Các quy định pháp lý đối với thuỷ sản nhập khẩu vào EU ........... 28
2.2. Thực trạng sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm
2000 đến nay ............................................................................................... 32
2.2.1. Tình hình nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ sản của Việt Nam . 32
2.2.2. Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ................................ 34
2.2.2.1. Quy mô, chất lượng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam ................ 34
2.1.2.2. Về cơ cấu thị trường xuất khẩu ............................................. 41
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 1 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
2.2.3. Đánh giá chung về tình hình sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản Việt
Nam ............................................................................................................ 45
2.2.3. Các yếu tố tác động tới hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 3 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
- Việt Nam và EU ngày càng có quan hệ chặt chẽ về cả kinh tế và chinh
trị, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế
khi mà Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.
- Đối với lĩnh vực kinh tế việc xuất nhập khẩu hàng thuỷ hải sản giữa
Việt Nam và EU chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch ngoại
thương giữa hai bên.
- Việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản
Việt Nam sang thị trường EU có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhà nước
và các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu
-Từ việc phân tích thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU
nhằm đề ra các giải pháp quản lý về phía nhà nước và các giải pháp thúc đẩy
xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt
Nam sang thị trường EU
- Phạm vi nghiên cứu là tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị
trường EU từ năm 2000 đên nay (2008) và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thuỷ
sản Việt Nam sang thị trường này
Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phưương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương
pháp phân tích tổng hợp, phưong pháp thống kê, so sánh đối chiếu, quy nạp
diễn dịch để nghiên cứu đề tài.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 4 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 phần:
- Chương I: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu hàng hoá và sự cần thiết
cao hơn góp phần cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Ngoài ra, để hàng
xuất khẩu cạnh tranh được với thị trường về giá cả và chất lượng đòi hỏi phải
tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích ứng được với thay
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 6 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
đổi của thị trường. Do đó xuất khẩu giúp cho các doanh nghiệp ngày càng
phát triển kéo theo sự phát triển nền kinh tế của đất nước.
- Xuất khẩu đóng vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp
sản xuất
- Xuất khẩu có vai trò chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và
những nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước.
- Xuất khẩu được đẩy mạnh sẽ tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế
ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh
của đất nước
Theo lý thuyết thương mại thì các quốc gia nên tập trung chuyên môn
hóa sản xuất những sản phẩm mình có lợi thế sau đó trao đổi với quốc gia
khác. Sau đó xuất khẩu lại có vai trò tác động trở lại làm sức cạnh tranh của
hàng hóa được nâng lên, tăng trưởng kinh tế trở nên ổn định và bền vững và
hơn nhờ các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả hơn.
- Xuất khẩu làm cho sản phẩm sản xuất của một quốc gia sẽ tăng thông
qua việc mở rộng thị trường tiêu thụ ra thị trường thế giới.
Hoạt động sản xuất của quốc gia phát triển không những đáp ứng được
nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài các mặt hàng mà quốc
gia đó có lợi thế. Ngoài ra, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện
cho ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi như là các ngành cung cấp
nguyên liệu đầu vào, ngành công nghiệp chế tạo thiết bị, ngành công nghiệp
phụ trợ hàng xuất khẩu. Như vậy, các sản phẩm sản xuất của quốc gia sẽ tăng
lên nhờ hoạt động xuất khẩu.
- Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ có tác động tích cực đến việc nâng cao mức
sống của nhân dân, giải quyết vấn đề việc làm.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 8 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
* Yếu tố nguyên liệu
Nguyên liệu cũng là một trong những yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng
trong hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu nói chung và hoạt động sản xuất
hàng thủy sản xuất khẩu nói riêng. Nguyên liệu cho hàng thủy sản phải tươi,
đảm bảo về chất lượng cao vì nhiều thị trường rất khắt khe trong vấn đề kiểm
tra. Nguồn nguyên liệu có thể đánh bắt ngoài biển hoặc do ngư dân nuôi
trồng.
* Yếu tố kinh tế
Muốn xuất khẩu được thì phải có người tiêu dùng hay còn gọi là sức
mua. Sức mua lại này lại ảnh hưởng bởi các thông số kinh tế như thu nhập,
chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một quốc gia. Một yếu tố cơ
bản được phản ánh kích thước của thị trường tiềm năng đó là dân số, quan
trọng hơn là so sánh tốc độ tăng GNP với tốc độ tăng dân số để dự đoán khả
năng mở rộng thị trường của quốc gia đó. Đồng thời các nhà nghiên cứu thị
trường nước ngoài còn phải chú ý đến mức phân phối theo tuổi, mật độ, sự
phân bố, đặc tính phân phối thu nhập.
Tùy vào trình độ phát triển của quốc gia mà hoạt động xuất khẩu phát
triển mạnh hay không. Những quốc gia mà nền kinh tế chỉ đáp ứng nhu cầu
của người dân để tồn tại thì cơ hội cho hoạt động xuất khẩu của các công ty
ít. Còn các quốc gia thường xuất khẩu nguyên liệu thô, có nền kinh tế đang
công nghiệp hóa hay đang công nghiệp sẽ tạo điều kiện triển vọng, mở ra
nhiều thời cơ cho các công ty kinh doanh quốc tế. Do vậy, những nhà xuất
khẩu này có thể dự đoán tình hình thị trường quốc tế sẽ giúp họ giảm được
những chi phí không đáng có và vượt qua được những biến động kinh tế.
* Môi trường văn hóa- xã hội
Đây là môi trường hình thành các niềm tin cơ bản, các giá trị và những
tiêu chuẩn, đồng thời đây cũng là nơi xác định mối quan hệ giữa người với
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 9 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
người. Các đặc tính văn hóa ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh quốc tế
được ưu tiên hay không được ưu tiên. Những mặt hàng nào nằm trong định
hướng xuất khẩu sẽ được chính phủ tạo điều kiện thuận lợi hơn, hay những thị
trường mà chính phủ đang coi là cần phát triển, mở rộng thì có những ưu đãi
đặc biệt thông qua những công cụ quản lý xuất khẩu của nhà nước. Các công
cụ biện pháp mà các nước thường sử dụng là:
- Thuế xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hóa xuất
khẩu của mỗi quốc gia. Do vậy loại thuế này có tác động rất lớn đến giá cả
hàng hóa xuất khẩu và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp xuất khẩu. Vì thế mà các doanh nghiệp quan tâm đến loại thuế này.
Thuế quan là một loại công cụ quan trọng mà chính phủ dùng để khuyến
khích hay hạn chế nhập khẩu.
- Công cụ phi thuế quan
Cũng giống như công cụ thuế, công cụ phi thuế quan là một trong những
công cụ quan trọng mà chính phủ dùng để khuyến khích hay hạn chế xuất
khẩu, nhập khẩu.
+ Hạn nghạch
Là những quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng
hay một nhóm hàng được phép xuất khẩu hay nhập khẩu từ một thị trường
trong một thời gian nhất định thông qua hình thức giấy phép.
Công cụ này gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của
nhà xuất khẩu. Vì khi nước xuất khẩu đưa ra số lượng hàng hóa đươc xuất
khẩu hay nước nhập khẩu đưa ra hạn nghạch nhập khẩu thì đều làm hạn chế
hàng hóa xuất khẩu.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 11 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
+ Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Là biện pháp hạn chế xuất khẩu mà theo đó một quốc gia nhập khẩu đòi
hỏi quốc gia xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu không sẽ bị
trả đũa.
+ Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
Đây là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao
Sinh sản nhân tạo tuy đã thành công nhưng đang trong giai đoạn sản xuất
thử nghiệm và từng bước chuyển giao công nghệ nên chưa thực sự đáp ứng
đủ giống cho nuôi đại trà.
Các loài cá nuôi biển cũng chủ yếu khai thác giống từ tự nhiên hoặc
nhập khẩu từ nước ngoài. Do thiếu nguồn giống các loài nên việc nhập khẩu
con giống là tất yếu. Tuy nhiên, việc kiểm dịch con giống còn rất hạn chế, gần
như chưa kiểm soát và loại trừ hết con giống mang mầm bệnh.
- Hình thức nuôi:
+ Nuôi biển đang là một hướng mở mới cho Ngành Thuỷ sản. Các hình
thức nuôi lồng, bè trên biển với các đối tượng nuôi như tôm hùm, cá giò, cá
mú, cá tráp, trai ngọc... là tiền đề ban đầu để đẩy mạnh nghề nuôi biển trong
thời gian tới.
+ Nuôi thuỷ sản nước ngọt đang phát triển rất mạnh. Từ sản xuất nhỏ tự
túc, nuôi nước ngọt đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, đặc biệt trong nhiều
năm gần đây, nghề nuôi cá tra, cá basa đã trở thành một lĩnh vực sản xuất đã
đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị xuất khẩu lớn.
+ Nuôi thuỷ sản cũng đã phát triển tới tận các vùng sâu, vùng xa, không
chỉ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm, mà còn
góp phần xoá đói giảm nghèo.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 13 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
- Diện tích nuôi
Diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ vẫn tiếp tục tăng, nhưng đã chậm
lại, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt có xu hướng giảm do nhiều ao, hồ
nhỏ bị san lấp cho mục đích xây dựng.
- Thức ăn
Hiện nay, thức ăn công nghiệp chủ yếu phục vụ cho nuôi tôm. Về cơ
bản, các nhà máy hiện đại, có công suất lớn như Cargill của Mỹ, Pronconco-
Pháp, CP-Thái Lan, Công ty phát triển nguồn lợi thuỷ sản Đà Nẵng… đã đáp
ứng đủ lượng thức ăn nuôi tôm.
Nuôi cá biển và tôm hùm hầu như không dùng thức ăn công nghiệp mà
Phần lớn lao động đều có kinh nghiệm đi biển, thành thạo nghề, chịu
được sóng gió. Tuy nhiên, thanh niên vùng ven biển đang có xu hướng không
muốn theo nghề khai thác, vì cường độ lao động cao, năng suất đánh bắt thấp
và thu nhập giảm. Việc đẩy mạnh khai thác xa bờ đang gặp khó khăn về
nguồn nhân lực. Đội ngũ thuyền trưởng, thuỷ thủ giỏi, có trình độ và kỹ thuật
khai thác xa bờ rất thiếu, nhất là các tỉnh Bắc Bộ và Nam Bộ, dẫn tới nhiều
nơi tàu đã đóng xong nhưng không tuyển được người có đủ trình độ ra khơi.
-Khu vực khai thác
+ Ở hồ
Việt Nam có trên 200.000 ha mặt nước hồ, trong đó diện tích hồ tự
nhiên trên 20.000 ha, còn lại là hồ chứa.
+ Ở vùng trũng ngập nước
Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ không có vùng trũng ngập nước lớn. Vùng
đồng bằng sông Cửu Long có nhiều vùng ngập nước theo mùa rất lớn.
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 15 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
+ Ở trên sông
Nước ta có hàng ngàn sông, rạch. Trước đây, nguồn lợi cá sông rất
phong phú. Do khai thác quá mức, nên nguồn cá sông đã cạn kiệt.
* Chế biến thủy sản
- Nguồn nguyên liệu và cơ cấu sử dụng nguyên liệu cho chế biến thủy sản
Do tổng sản lượng thuỷ sản tăng mạnh và công nghệ chế biến, thói quen
tiêu dùng cũng có nhiều thay đổi nên lượng nguyên liệu được đưa vào chế
biến ngày càng nhiều.
- Chất lượng nguyên liệu
Nguyên liệu hải sản được đánh bắt từ nhiều loại tàu và ngư cụ khác nhau
do đó sản phẩm đánh bắt được cũng có những đặc tính khác nhau. Nguyên
liệu hải sản thường bị xuống cấp chất lượng do phương tiện và đầu tư cho
khâu bảo quản còn quá ít, quá thô sơ. Các loại nguyên liệu từ nuôi trồng nước
ngọt, lợ do gần nơi tiêu thụ hoặc là chủ động khai thác nên được đưa trực tiếp
ra thị trường hoặc vào thẳng các nhà máy chế biến, hầu như không qua xử lý
tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền đất nước cả về
nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Tốc độ phát triển trong hoạt động
Xuất khẩu thủy sản là rất lớn, hứa hẹn nhiều cơ hội cho các Doanh nghiệp chế
biến thủy sản phát triển... Quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với các
nước thành viên và với thể chế EU đã hình thành từ lâu. EU là một đối tác
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 17 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
quan trọng của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác thương mại, trong đó có
xuất khẩu thủy sản. Việc gia nhập WTO đã mang lại nhiều thuận lợi cho các
doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. Sự ưu đãi về thuế quan, giảm hàng rào phi
thuế quan, bình đẳng hơn trong tranh chấp thương mại... sẽ tạo điều kiện cho
các sản phẩm thủy sản của Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh để xâm nhập
vào thị trường EU.
1.4. Kinh nghiệm của Trung Quốc - nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất
trên thế giới
Tổng giá trị thương mại thuỷ sản của Trung Quốc năm 2007 ước đạt
12,6 tỉ USD, trong đó, nhập khẩu đạt 3,6 tỉ USD và xuất khẩu đạt 9 tỉ USD,
tăng lần lượt, 7%, 13% và 5% so với năm 2006. Thặng dư thương mại đạt 5,4
tỉ USD, tương đương với mức năm 2006. Năm 2007, thuỷ sản tiếp tục là mặt
hàng nông sản xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc. Mặc dù vậy, năm 2007,
khối lượng xuất khẩu thuỷ sản của Trung Quốc chỉ tăng gần 3%, thấp hơn
nhiều so với mức 17% năm 2006. Nguyên nhân chính dẫn tới sự sụt giảm này
là Mỹ thắt chặt kiểm soát nhập khẩu kể từ tháng 6/2007 sau khi thuỷ sản của
Trung Quốc phải đối mặt với nhiều đợt thanh tra của các nước nhập khẩu lớn
trên thế giới.
Tiếp tục tăng nhập khẩu để chế biến
Nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc tiếp tục đà tăng trưởng từ mức 2,4
triệu tấn năm 2007, tăng 9% so với năm 2006. Kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản
đạt 3,6 tỉ USD, tăng 13% so với năm 2006, thuỷ sản chế biến chiếm tới 40%
tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Trung Quốc. Nhập khẩu để tiêu thụ nội địa
cũng tăng nhưng với tốc độ khá chậm.
giá trị xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm cá và trứng cá chế biến sẵn
hoặc đóng túi tăng 23%, cao hơn mức tăng 7% của xuất khẩu các sản phẩm
philê, phản ánh rõ xu hướng tăng thêm giá trị cho các sản phẩm của ngành
chế biến thuỷ sản Trung Quốc. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trên thế
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 19 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
giới, ngành thuỷ sản của Trung Quốc sẽ tiếp tục phát huy xu hướng này trong
tương lai thông qua cải tiến công nghệ và phương thức quản lý. Cơ cấu các
mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc năm 2007 có nhiều thay đổi. 10 tháng
đầu năm, xuất khẩu tôm của nước này giảm 4%, do xuất khẩu sang Mỹ sụt
giảm mạnh từ 243 triệu USD năm 2006 xuống còn 136 triệu USD. Trong khi
đó, xuất khẩu sang Châu Á, và các nước khu vực Thái Bình Dương như Hàn
Quốc, Malaixia, Ôxtrâylia, Đài Loan tăng 26%, đạt 232 triệu USD. Xuất khẩu
sang Nhật vẫn giữ mức tăng trưởng khá và giúp Nhật duy trì vị trí nhà nhập
khẩu thuỷ sản số một. Năm 2007, xuất khẩu cá rôphi của Trung Quốc tăng
trưởng ngoạn mục. 10 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu cá rôphi của nước
này đạt 369 triệu USD. Xuất khẩu rôphi chế biến sẵn có bảo quản đạt 153.887
tấn, tăng 694% so với cả năm 2006, chiếm 94% tổng giá trị xuất khẩu rôphi
của nước này. Trong khi đó, xuất khẩu philê rôphi giảm mạnh, từ 85 triệu
USD năm 2006 xuống còn 10 triệu USD năm 2007. Như vậy, xu hướng tập
trung vào các sản phẩm giá trị gia tăng ngày càng rõ nét. Mỹ là nước tiêu thụ
nhiều nhất cá rôphi Trung Quốc, chiếm 62% giá trị xuất khẩu và 58% về khối
lượng. Ngoài ra, Nga cũng là thị trường tiêu thụ tiềm năng mặt hàng thuỷ sản
này của Trung Quốc với giá trị xuất khẩu sang thị trường này đạt trên 45 triệu
USD. Xuất khẩu tôm sông của Trung Quốc năm 2007 giảm xuống còn 150
triệu USD. Xuất khẩu sang các thị trường chính như Bỉ, Đan Mạch giảm
tương ứng 59% và 15%. Xuất khẩu sang Mỹ cũng không tăng. Xuất khẩu cá
chình của Trung Quốc trong năm này tăng 4% về giá trị. Xuất khẩu sang Nhật
ổn định và tăng mạnh xuất khẩu sang Nga và Hồng Kông. (Bộ Ngoại giao
Trung Quốc)
Mở rộng thị trường xuất khẩu
được áp dụng nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh
doanh thông thoáng hơn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, tăng khả năng tiếp cận vốn, trợ giúp tài chính và nguồn lao động
cho các doanh nghiệp, gắn mọi hoạt động với nghĩa vụ bảo vệ môi sinh. Đây
cũng là mục tiêu trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của EU
giai đoạn 2007 – 2013.
EU rất cứng rắn trong các tranh chấp thương mại và thắt chặt quản lý
chất lượng hàng hoá nhập khẩu, kể cả với các đối tác lớn và quan trọng như
Mỹ, Nga, Trung Quốc. Trong thương mại quốc tế, bên cạnh mục tiêu hướng
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 22 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
tới tự do hoá thương mại toàn cầu, EU sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp cân
bằng thương mại được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho phép, như
chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu…
Trước đây, EU chủ trương chỉ tập trung vào quá trình tự do hóa thương
mại toàn cầu trong khuôn khổ WTO. Nhưng gần đây, EU đã phải chấp nhận
xu thế tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại song phương và khu vực qua
việc tham gia đàm phán ký kết một số thỏa thuận, như: Hiệp định thương mại
với 78 nước ACP (châu Phi, Caribe và Thái Bình Dương); thoả thuận hợp tác
kinh tế xuyên Đại Tây Dương và Hiệp định “Bầu trời mở” với Mỹ; khởi động
đàm phán các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với Hàn Quốc, Ấn Độ, ASEAN
và Trung Mỹ; tăng cường hợp tác năng lượng với các nước Trung Á và
Balkan; thiết lập quan hệ "đối tác chiến lược" toàn diện với Brasil...
EU là một trong những khu vực đầu tư ra nước ngoài cũng như thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhiều nhất trên thế giới.
Xu thế từ nhiều năm nay là EU nhập siêu đối với hầu hết các nước, trừ
Mỹ vẫn đang tiếp tục. Trong đó, nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn nhất,
chiếm gần 60% tổng nhập siêu của EU.
Do có trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, những mặt
hàng mà các nước EU có thế mạnh và có tính cạnh tranh cao hầu hết thuộc
các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo, hoá chất, giao thông vận tải, hàng
Những thay đổi về xu hướng tiêu thụ là do những thay đổi về sở thích
của người tiêu dùng và trong cơ cấu cung cấp sản phẩm. Vai trò của các siêu
thị ngày càng tăng đã khiến cho thuỷ sản được quan tâm nhiều hơn. Hơn nữa,
ngành thuỷ sản của các nước đã mở rộng chủng loại sản phẩm, mang lại thành
SV: Ng« ThÞ L¬ng Thu 24 Líp: Kinh tÕ Quèc tÕ 47
công trong việc giới thiệu các sản phẩm mới như cá hồi nuôi và cá vược sông
Nile với lợi ích kinh tế và sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng.
- Người tiêu dùng ngày càng hướng tới các sản phẩm có lợi cho sức
khoẻ, thích ứng với dạng sản phẩm an toàn. Họ thích các sản phẩm ít béo và
có giá trị dinh dưỡng cao. Thuỷ sản có hàm lượng prôtêin, các vitamin và chất
khoáng cao thích hợp cho nhu cầu này. Ngoài ra, các sản phẩm thuỷ sản có
chất lượng thường đóng vai trò chống lại các nguy cơ về sức khoẻ.
- Người tiêu dùng ngày càng hướng tới sự thuận tiện. Trong những thập
kỷ gần đây, thời gian dành cho mua sắm và chế biến món ăn đã bị rút ngắn.
Vai trò của phụ nữ trong xã hội ngày càng tăng, nhiều hộ gia đình bận rộn với
công việc. Vì vậy, nhu cầu về các sản phẩm tiêu dùng và dễ chế biến sẵn cũng
tăng lên.
- Người tiêu dùng quan tâm hơn đến giá: Khoảng 2 năm trở lại đây, một
số nước (Hà Lan, Anh và Pháp) đã trải qua thời kỳ gọi là chiến tranh về giá
giữa các nhà bán lẻ. Ðức luôn được xem là thị trường quan tâm tới giá cả. Giá
cả tăng khiến người tiêu dùng chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm có giá thấp
hơn. Trong môi trường cạnh tranh, nhu cầu cho các sản phẩm đơn giản và giá
rẻ được thể hiện rõ nét và thành công của các sản phẩm cá vược sông Nile, cá
rô phi và cá tra, ba sa của Việt Nam.
- Người tiêu dùng ở những nước châu Âu thể hiện mối quan tâm của
mình về các hoạt động liên quan đến môi trường và xã hội của các công ty sản
xuất thực phẩm. Những người này thường thúc ép chính phủ và các công ty
quan tâm đến các vấn đề này. Một số vấn đề họ quan tâm đến nhiều nhất là:
+ Sự khai thác quá mức các ngư trường, sự suy thoái trữ lượng thuỷ sản
và sự cạnh tranh giữa các hoạt động khai thác và bảo tồn thiên nhiên.