TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
THỊ TRƯỜNG EUROCURENCY
GVHD:
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 –Nhóm12
Danh sách nhóm: Huỳnh Ngọc Hà My
Hồ Hữu Nghĩa
Trần Hà Minh Nguyệt
Nguyễn Mạnh Toàn
Mai Thúy Hằng
Nguyễn Thị Thúy Nga
Page 1
MỤC LỤC
I. KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG EUROCURRENCY………………………………… 3
II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỆN CỦA THỊ TRƯỜNG EUROCURRENCY 4
III. CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA THỊ TRƯỜNG……………………………………………5
IV. CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA THỊ TRƯỜNG ………………………………… 5
V. CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA THỊ TRƯỜNG EUROCURRENCY………… 6
VI. LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA CÁC EUROBANK……………………………… 7
VII. THỊ TRƯỜNG VAY NỢ QUỐC TẾ…………………………………………………9
VIII. CƠ CHẾ TẠO TIỀN VÀ GỬI TÍN DỤNG BẰNG USD………………………… 10
IX. CÁC Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ VAI TRÒ CỦA EUROMARKETS…………….14
X. EUROMARKETS VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA CHÍNH PHỦ…………………….17
I. KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG EUROCURRENCY
Ngày nay, đối với các đồng tiền mạnh, thị trường tiền tệ đã vượt ra ngoài biên giới truyền
thống vốn có của chúng, do đó, chúng ta có thể ký một tờ séc bằng Dollar Mỹ từ tài khoản mở
tại ngân hàng ở Tokyo, hoặc ký một tờ séc bằng Yên Nhật từ tài khoản mở tại ngân hàng ở
New York. Tương tự, chúng ta cũng có thể dàn xếp một khoản tín dụng bằng Dollar Mỹ tại
Page 2
lượng Dollar Mỹ do người không cư trú nắm giữ tăng lên, tạo điều kiện cho sự mở rộng của thi
trường Eurodollars.
1963: Chính phủ Mỹ ban hành qui chế Q qui định mức lãi suất trần mà các ngân hàng
nội địa được phép trả trên tài khoản và tiền gửi tiết kiệm là 5,25%/ năm. Nhưng qui chế này
không áp dụng cho các ngân hàng hải ngoại, chính vì vậy đã kích thích các ngân hàng Mỹ mở
chi nhánh ở nước ngoài tại các trung tâm như London. Cũng vào năm này, để khắc phục ảnh
hưởng của các luồng vốn chạy ra lên thâm hụt của các cân thanh toán, Mỹ đã đánh thuế vào lãi
suất (Interest Equalization Tax - IET) làm tăng chi phí của những người nước ngoài đi vay ở
NewYork, do đó họ quay sang vay trên thị trường Eurocurrency (IET bãi bỏ vào 1974).
1965: Mỹ lại hạn chế các ngân hàng Mỹ cho người nước ngoài vay bằng “ Những
nguyên tắc chỉ đạo hạn chế tín dụng cho người nước ngoài”.
1968: Chính phủ Mỹ ban hành chính sách hạn chế tự nguyện chuyển vổn ra nước
ngoài ( Voluntary Foreign Credit Restreint), buộc các công ty đa quốc gia mỹ tài trợ tín dụng
cho các chi nhánh ở nước ngoài bằng nguồn tài chính bên ngoài nước Mỹ, làm cho sự phát
triển của thị trường Eurocurrency được khuyến khích
1973-1974: cú sốc giá dầu khiến các nước Opec đã ký gửi phần lớn số dư USD từ xuất
khẩu dầu vào các Eurobanks Các Eurobank đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc
trung chuyển vốn nhàn rỗi từ những quốc gia xuất khẩu dầu đến những quốc gia nhập khẩu
dầu đang có nhu cầu USD
1978: cú sốc giá dầu lần 2, các Eurobank lại tiếp tục thực hiện chức năng trung gian
của mình vai trò của các Eurobank ngày càng quan trọng.
1981: Nhận thấy nhiều ngân hàng Mỹ đã thành lập các chi nhánh ở nước ngoài nhằm
tránh các quy định hà khắc, Mỹ quyết định hợp pháp hóa các hoạt động ngân hàng quốc tế IBF
(International Banking Facilities). Bản chất của IBF cho phép các ngân hàng Mỹ thực hiện các
nghiệp vụ Eurobank độc lập với các quy chế của Mỹ, không yêu cầu tham gia dự trữ bắt buộc
nhưng IBF chỉ cho phép nhận tiền gửi và cung cấp tín dụng cho người không cư trú.
Nhân tố cuối cùng thúc đẩy các Eurobank phát triển là sự tăng trưởng thương mại thế
giới. Trong giai đoạn này, nhiều công ty trở nên dư thừa vốn lưu động bằng ngoại tệ muốn tìm
Page 4
kiếm cơ hội thu lãi suất tiền gửi cao, trong khi đó những công ty khác lại có nhu cầu vốn ngắn
đơn giản chỉ tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí lãi suất thấp nhất.
- Đầu cơ: Nhiều hành động đi vay và cho vay chỉ vì muốn tạo ra các trạng thái đầu cơ
nhằm kiếm lợi trên cơ sở thay đổi mức lãi suất và tỷ giá.
Page 5
- Bảo hiểm: Nhiều hành động đi vay và cho vay nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro;
nghĩa là nhằm giảm thiểu thua lỗ phát sinh do thay đổi lãi suất và tỷ giá.
- Đưa vốn chạy trốn: Nhiều chu chuyển vốn xảy ra chỉ vì những nhà đầu tư muốn tránh
khỏi bị đánh thuế nặng, khỏi bị chính quyền địa phương tịch thu, hay thóat khỏi những
hạn chế trong chuyển đổi tiền tệ, tránh rủi ro chính trị có thể xảy ra.
V. CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CỦA THỊ TRƯỜNG EUROCURRENCY
Sản phẩm tiền gửi
Trên thị trường tiền tệ bán buôn, các ngân hàng EuroBank nhận tiền gửi có kỳ hạn và
phát hành Chứng chỉ tiền gửi khả nhượng (Negotiable Certificates of Deposit-NCD). Lãi suất
tiền gửi được niêm yết tương ứng với các kỳ hạn từ 1 ngày tới vài năm, tuy nhiên kỳ hạn chuẩn
mực là 1, 2, 3, 6, 9 và 12 tháng.
Lãi suất được áp dụng là lãi suất thị trường tiền tệ châu Âu và được thực hiện với mọi
đồng tiền tự do chuyển đổi.
- Tiền gửi có kỳ hạn (time deposit): khoản tiền gửi với thời hạn và lãi suất nhất định.
- Tiền gửi không kì hạn (call deposit): thường được quy định số tiền gửi tối thiểu và phải
chịu mức thuế vốn được quy định trước.
Eurobank huy động dưới dạng NCD với mệnh giá tối thiểu là 500.000 USD, thông
thường là 1 triệu USD. Đồng thời, NCD có khả năng lưu thông nên người gửi dễ dàng bán lại
trên thị trường nếu cần vốn trước khi đến hạn.
Sản phẩm tín dụng
Là khoản cho vay bằng tiền tệ Euro ngắn hạn, trung hạn mà các Eurobank cấp cho các
doanh nghiệp, các ngân hàng, các chính phủ và các tổ chức quốc tế. Các khoản vay này được
thực hiện bằng loại tiền không phải là đồng bản tệ của quốc gia mà Eurobank trú đóng, do các
khoản vay này thường lớn đối với một ngân hàng, nên các Eurobank thường liên kết nhau
thành một tổ chức đồng tài trợ để chia sẻ rủi ro. Mức lãi suất quan trọng nhất trên thị trường
Eurobank là lãi suất cho vay liên ngân hàng tại London (LIBOR), những người đi vay phi ngân
thông qua sơ đồ sau:
Vậy tại sao các Eurobanks lại có khả năng đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn như vậy? Giải
thích cho điều này có nhiều nguyên nhân nhưng ta có thể đưa ra các nguyên nhân chính sau:
- Trong khi các ngân hàng kinh doanh nội địa chịu sự kiểm soát của chính phủ Mỹ thì
các Eurobanks được hoạt động một cách độc lập, hơn nữa nó không chịu sự quản lý về
trần lãi suất và không phải tham gia dự trữ bắt buộc . Do đó khi các ngân hàng nội địa
phải trích một phần tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầu dự trữ chính thức không có
Page 7
lãi suất hoặc lãi suất rất thấp thì các Eurobanks chỉ phải duy trì một lượng tài sản tối ưu
có mức lãi suất thấp làm tài sản dự trữ, chính vì vậy mà các Eurobanks có nguồn vốn
dồi dào hơn.
- Lợi ích kinh tế từ quy mô giao dịch lớn của các Eurobanks. Nhìn chung, mức trung
bình của mỗi khoản tiền gửi và mỗi khoản cho vay của Eurobanks lớn hơn nhiều so với
giao dịch của các ngân hàng nội địa. Điều này có nghĩa là chi phí hoạt động trung bình
liên quan đến mỗi USD nhận tiền hay cho vay của Eurobanks là rất thấp.
- Trong khi các ngân hàng nội địa phải duy trì một hệ thống chi nhánh cồng kềnh và tốn
nhiều chi phí thì các Eurobanks tránh được đáng kể các chi phí liên quan đến tổ chức
cán bộ, hành chính và sự chậm trễ phát sinh do phải tuân theo các quy định ngân hàng
nội địa. Hơn nữa, các ngân hàng nội bộ cần một cơ chế kiểm soát nội bộ chặt chẽ và
thường chịu chi phí rất lớn cho những hoạt động về pháp lý thì các Eurobanks giảm
được đáng kể những chi phí này.
- Những hoạt động của các Eurobanks chịu sự cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ bên cạnh
những điều kiện tham gia hoạt động trên thị trường này tương đối dễ dàng so với những
hoạt động ngân hàng nội địa. Điều này khiến cho các Eurobanks hoạt động càng trở
nên hiệu quả và càng trở nên cạnh tranh hơn.
- Các Eurobanks không phải trả phí bảo hiểm tiền gửi, trong khi đó các ngân hàng Mỹ
phải trả phí bảo hiểm cho những khoản tiền gửi tại FDIC.
- Nhìn chung, đội ngũ khách hàng được các Eurobanks cho vay đều là những khách hàng
có chất lượng cao, có tỷ lệ vỡ nợ không đáng kể. Trong khi đó, những khách hàng mà
các ngân hàng nội địa cho vay thường có tỷ lệ vỡ nợ khá cao, do đó các ngân hàng này
một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy nhất dưới các dạng hỗ trợ tài chính, viện
trợ nhân đạo bằng hiện vật.
Phân loại theo dòng vốn vào: Tín dụng thương mại, nợ viện trợ có hoàn lại, không hoàn
lại, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư tài chính qua các công cụ tài chính phái sinh, trái
phiếu, cổ phiếu.
3. Chi phí sử dụng nợ và các nhân tố ảnh hưởng đến vay nợ quốc tế
Chi phí sử dụng là cái giá mà một quốc gia phải trả cho việc sử dụng nợ vay. Cái giá
phải trả này ngoài tiền lãi phải trả định kỳ, quốc gia còn phải trả chi phí môi giới, chi phí phát
hành nợ (nếu là phát hành trái phiếu), hoặc những chi phí vô hình là những ràng buộc của
quốc gia cho vay (nếu là nợ ưu đãi).
Chi phí sử dụng nợ có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới cũng như sự
thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong các chính sách tài chính tiền tệ, bởi vì xét
về nợ vay, thời gian là yếu tố quan trọng dẫn đến gia tăng rủi ro của khoản vay đó, trong suốt
thời gian đi vay có thể xảy ra những biến cố có lợi hoặc bất lợi đến các khoản vay. Những yếu
tố đó là: rủi ro về tỷ giá hối đoái, lãi suất thị trường, lạm phát và những rủi ro quốc gia khác.
- Tỷ giá hối đoái: Đối với vay nợ nước ngoài, các khoản vay thường được tính bằng
ngoại tệ do đó khi tỷ giá đồng nội tệ biến động so với đồng tiền đi vay thì sẽ ảnh hưởng
Page 9
tới khoản vay nợ. Do vậy, để khắc phục các quốc gia phải có một chính sách quản lý tỷ
giá rất linh hoạt. Biện pháp bảo hiểm tỷ giá đối với các khoản vay thương mại cho xuất
nhập khẩu ngắn hạn là thực hiện mua bán hợp đồng quyền chọn.
- Lãi suất thị trường thế giới: Thông thường, lãi suất của các khoản vay thường được xác
định dựa trên lãi suất của thị trường thế giới như LIBOR, SIBOR…
- Rủi ro quốc gia: Rủi ro quốc gia là những biến cố có thể xảy ra đối với quốc gia như:
chính trị, chiến tranh, tình hình an ninh xã hội, … Điều này được lượng hóa qua hệ số
tín nhiệm của quốc gia. Hai tổ chức lớn nhất và co uy tín nhất về xếp hạng tín nhiệm
trên thế giới đó là Moody’s và Standard & Poor’s.
- Lạm phát: Lạm phát là vấn đề khó khăn luôn gặp phải tại các quốc gia đang phát triển.
Mức lạm phát này thường cao hơn các nước chủ nợ là các quốc gia đã phát triển. Theo
lý thuyết về ngang giá lãi suất, lạm phát trong nước cao hơn lạm phát nước ngoài thì tỷ
Qua quan sát thấy rằng, tổng tiền gửi bằng USD tại USBank là không thay đổi. Nhưng
tổng tiền gửi bằng EuroDollar đã tăng từ 1triệu USD lên 2 triệu USD, bao gồm 1 triệu tiền gửi
của công ty UPS tại USBank vẫn còn hiệu lực và 1 triệu của công ty MBI tại LDBank. Sự tạo
ra USD ngòai nước Mỹ này được gọi là số nhân trong mở rộng EuroDollar. Kể từ khi công ty
UPS gửi 1 trệu tại UKBank đã tạo ra tiền gửi mới bổ sung khi UKBank cho công ty MBI vay.
Điểm cần lưu ý là sự tạo ra Eurodollar không chỉ dừng lại ở mức 2 triệu USD. Chúng ta hãy
quan sát tài khỏan chữ T của ngân hàng LDBank, thấy rằng ngân hàng này đang có nguồn dự
trữ là 1 triệu USD có thể cho vay được. Nếu khỏan cho vay của ngân hàng LDBank lại được
Page 11
gửi tại 1 EuroBank nào đó, thì tổng lượng tiền EuroDollar được tạo ra sẽ tăng lên 3 triệu USD
(nếu như LDBank cho vay tòan bộ tiền dự trữ là 1 trịêu Dollar).
Ví dụ trên hàm ý rằng sự mở rộng EuroDollar theo cấp số nhân là không có giới hạn.
lĐây chỉ là khả năng lý thuyết cho nên kết quả xảy ra trong thực tế là không hòan tòan như
vậy. Tại sao ại như vậy? Bởi vì sự giải thích của chúng ta đã dựa vào 2 giả thuyết không thực
tế là: i) Ngân hàng UKBank đã cho công ty MBI vay 100% (1 triệu USD) dự trữ mới được
hình thành , và ngân hàng LDBank cũng làm tương tự; ii) Công ty MBI đã gửi 100% (1 triệu
USD) khỏan tiền vay được tại 1 ngân hàng khác thuộc hệ thống EuroBanks. Đây là những giả
thuyết không thực tế, tại vì: thông thường UKBank phải duy trì 1 lượng dự trữ nhất địnhdưới
dạng tiền gửi của ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng( gọi là dự trữ
thanh tóan), do đó, nó chỉ có thể cho MBI vay ít hơn 1 triệu USD. Giả sử tỷ lệ tiền dự trự
thanh tóan là 10% trên tổng số tiền gửi , thì ngân hàng UKBank chỉ có thể cho MBI vay tối đa
là 900.000 USD và giữ lại 100.000 USD làm dự trữ tanh tóan. Giả sử công ty MBI sử dụng
tòan bộ số tiền vay được gửi tại 1 ngân hàng EuroBanks khác, thì tổng số tiền gửi thuộc
EuroDollar bây giờ chỉ là 1,9 triệu USD,nhỏ hơn 2 triệu USD. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là
kết quả cuối cùng. Nếu công ty MBI quyết định sử dụng 1 phần tịền vay của mình gửi tại các
EuroBank, và phần còn lại gửi tại các ngân hàng Mỹ. Trong trường hợp này, đã xảy ra rò rỉ 1
lượng USD từ hệ thống EuroDollar. Giả sử MBI sử dụng 80% số tiền vay được gửi tại 1 ngân
hàng của Mỹ ở Oasinton và phần còn lại 20% gửi tại LDBank, thì tiền gửi bằng EuroDollar chỉ
tăng lên 1.180.000 USD (bao gồm 1 triệu USD tiền gửi của công ty UPS + 20% khỏan vay
900.000USD của MBI.) . Như vậy, có thể kết luận: khả năng mở rộng tiền gửi bằng
chính trị, chiến tranh, tình hình an ninh xã hội, … Điều này được lượng hóa qua hệ số
tín nhiệm của quốc gia. Hai tổ chức lớn nhất và co uy tín nhất về xếp hạng tín nhiệm
trên thế giới đó là Moody’s và Standard & Poor’s.
- Lạm phát: Lạm phát là vấn đề khó khăn luôn gặp phải tại các quốc gia đang phát triển.
Mức lạm phát này thường cao hơn các nước chủ nợ là các quốc gia đã phát triển. Theo
lý thuyết về ngang giá lãi suất, lạm phát trong nước cao hơn lạm phát nước ngoài thì tỷ
giá hối đoái sẽ tăng lên để bù đắp lại khoản chênh lệch đó do đó có thể làm tăng mức
nợ vay mức nợ vay thực tế.
IX. CÁC Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ VAI TRÒ CỦA EUROMARKETS
a. Những ý kiến phản đối về Euromarkets
Một trong những mối quan tâm chính đến thị trường Eurocurrency là ở chỗ, thị trường
này bao gồm một khối lượng nguồn vốn khổng lồ có khả năng tạo tín dụng, nhưng lại không
có bất cứ một quy chế nào điều chỉnh. Lý luận cho rằng, những hoạt động của Eurobanks như
một quả bom tiềm ẩn được cài đặt dưới hệ thống tài chính thế giới. Thực tế thấy rằng, những
hoạt động của Eurobanks là không bị điều chỉnh và không tồn tại cơ chế tiếp cận với “người
cho vay cuối cùng” cộng với sự hoạt động trên thị trường Interbank rất sôi động, làm phát sinh
những lo ngại: nếu một Eurobank sụp đổ sẽ tạo ra hiệu ứng đomino làm sụp đổ các Eurobanks
khác, như vậy sẽ làm tăng mối nguy hiểm dến toàn hệ thống tài chính quốc tế.
Một mối quan tâm khác đến thị trường Eurocurrency là áp lực tiềm ẩn của thị trường
này lên lạm phát. Một số nhà hoạch định chính sách và kinh tế cho rằng, do tốc độ tăng trưởng
Page 13
nhanh của thị trường Eurocurrency đã làm tăng tỷ lệ lạm phát. Lý luận này dựa trên cơ sở là:
bên cạnh sự tăng trưởng nhanh của thị trường Eurocurrency nhưng không bị tham gia dự trữ
bắt buộc, do đó đã tạo ra hiệu ứng tiền bổ sung vào cung ứng tiền quốc gia, làm áp lực lạm
phát gia tăng. Ví dụ: Friedman (1969) và (1970) đưa ra những dự tính ban đầu rằng, thị trường
Eurocurrency đã tạo ra hiệu ứng mở rộng cung ứng tiền rất lớn, bởi vì thị trường này chỉ duy
trì tỷ lệ dự trữ rất thấp. Trái ngược với ý kiến này, Klopstock (1968) đã chỉ ra rằng các
Eurobanks có hệ số tạo tiền rất thấp, do đó khả năng tạo tín dụng cũng rất hạn chế. Hơn nữa,
Mckinnon (1977) đã chỉ ra một điểm quan trọng là để quyết định xem mức độ mà các
Eurobanks tham gia tạo tín dụng là như thế nào, cần phải xem các ngân hàng này đã bổ sung
năm qua của nó, có thể thấy, việc Ecurrency market ra đời là hệ quả tất yếu của việc nhu cầu
thương mại của nhiểu quốc gia lớn trên thế giới đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, việc sử dụng
ngoại tệ để giao dịch giữa các nước cần một thị trường, một trung gian cũng như một cơ chế
thông thoáng hơn, không bị áp đặt, điều khiển, chi phối bởi bất kì quốc gia nào ( Nga không
muốn gửi $ tại Mỹ, Anh không cho vay bằng stering, quy chế Q…)
40 năm trôi qua và nó vẫn phát triển, khẳng định được sự cần thiết của nó đối với thương mại
toàn cầu, dù rằng vẫn tiềm tàng nhiều điểm bất ổn ( sẽ được nói ở phần khuyết điểm).
- Sự tăng trưởng, lớn mạnh, mở rộng đó thể hiện qua :
Sự tăng của quy mô Ecurrency market qua các năm
Số thương vụ sử dụng thị trường này.
Số vốn mà các công ty đa quốc gia, các nước gửi vào / nhu cầu vay ở các Eurobanks
Là nơi mà một nguồn vốn lớn có cơ hội chu chuyển từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn,
đặc biệt là với những khoàn vay lớn, cỡ bự.
Eurocurrency ra đời đã tạo ra thêm một phương tiện sẵn có cho người đi vay cũng như
người cho vay.
- Các khuyết điểm của các ngân hàng nội địa trong việc cho vay, huy động ngoại tệ :
Trước hết là phải chịu một lãi suất khá cao ( đi vay), hoặc nhận lãi suất thấp ( cho
vay).
Các ngân hàng có lượng dự trữ ngoại tệ có giới hạn.
Các hoạt động về ngoại tệ bị quản lí khá chặt chẽ bởi NHTW các nước.
Bởi vậy, những khoản vay ngoại tệ lớn thường gặp không ít khó khăn.
- Eurobanks có những lợi thế vượt hẳn các ngân hàng trong nước :
Lãi suất cho vay thấp, lãi suất huy động cao.
Nguồn vốn huy động được là rất lớn, lại không phải tham gia dự trữ bắt buộc , nên đã
đáp ứng rất tốt nhu cầu vay của những nơi cần vốn, đặc biệt là những khoản vay lớn, vì
sẽ giảm thiểu được chi phí so với các khoản vay nhỏ
Điều kiện tham gia thị trường dễ dàng
Cơ cấu hoạt động đơn giản…
Là nguồn tài trợ cho những nước có cán cân thanh toán thâm hụt một cách dễ dàng và
đỡ tốn kém hơn.
điều này càng làm cho hoạt động của Eurobanks phát triển nhanh hơn. Ngòai ra, để có thể
chuyển được các họat động của Eurobanks thành họat động của ngân hàng nội địa, đòi hỏi phải
tự do hóa các quy chế điều chỉnh và can thiệp lên họat động ngân hàng nội địa.
Page 16