NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG EU VÀ HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
1.1. Nhân tố cơ bản tác động tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị
trường EU
1.1.1.
Các nước thuộc Liên minh châu Âu áp dụng hệ thống thuế quan chung của EU.
Biểu thuế quan được xây dựng trên cơ sở hệ thống hài hòa (HS – Harmonized System)
trong mô tả và mã hàng hóa. Chế độ thuế quan chung (CCT) được áp dụng cho tất cả
các nước thành viên EU.
1.1.1.1. Thuế nhập khẩu
Trong đó:
+ Giá trị hàng hóa nhập khẩu tính theo giá CIF bao gồm: tiền hàng, chi phí
đóng gói, chi phí để làm thủ tục xuất khẩu, nộp thuế xuất khẩu (nếu có), chi phí để lập
bộ chứng từ xuất khẩu, cước vận tải đến cảng đến và phí bảo hiểm.
+ Thuế suất phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng nhập khẩu.
Thuế suất được xây dựng trên nguyên tắc: những mặt hàng trong nước chưa
sản xuất được, hoặc sản xuất không đủ, hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản
xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp; Ngược lại, những
mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ
phải chịu thuế suất cao. Theo nguyên tắc này, hầu hết nguyên liệu nhập vào EU được
miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm
phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt.
1.1.1.2. Thuế ưu đãi
!"#$%&'(
Ngoài chính sách thuế quan thông thường đối với hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa, EU còn có chính sách ưu đãi về thuế trong một số điều kiện. Chính sách ưu
đãi này chia làm 3 nhóm các nhà xuất khẩu:
- Nhóm thứ nhất áp dụng đối với các nước có quy chế tối huệ quốc.
- Nhóm thứ hai là ưu đãi thuế quan phổ cập GSP, áp dụng đối với hàng nhập
Về điều kiện vận tải (hay điều kiện gửi hàng): EU yêu cầu hàng hóa phải được
gửi thẳng từ nước được hưởng ưu đãi đến nước cho hưởng. Quy định này nhằm đảm
bảo hàng hóa không bị gia công tái chế thêm trong quá trình vận chuyển. Điều kiện gửi
hàng được thỏa mãn khi:
- Hàng hóa vận chuyển không qua lãnh thổ của một nước thứ ba nào khác
- Nếu hàng hóa vận chuyển qua một nước thứ ba thì phải được đảm bảo
rằng: hàng hóa chịu sự kiểm soát của nước thứ ba đó và không qua bất cứ quá trình gia
công tái chế hay mua đi bán lại nào tại nước thứ ba đó.
Về điều kiện giấy chứng nhận xuất xứ: EU yêu cầu hàng hóa muốn được hưởng
GSP thì cần có giấy chứng nhận xuất xứ Form A.
Khi đã đạt đủ các tiêu chuẩn nêu trên thì hàng nhập khẩu vào EU sẽ được
hưởng ưu đãi theo chế độ GSP, nhưng không phải với loại sản phẩm nào cũng được
hưởng một mức thuế quan như nhau mà phụ thuộc vào tính cạnh tranh của từng loại sản
phẩm đó.
23&'(
Cụ thể, chế độ GSP hiện hành chia làm 4 loại sản phẩm với 4 mức thuế ưu đãi
khác nhau.
Thứ nhất là loại sản phẩm có độ nhạy cảm cao: Mức thuế ưu đãi bằng 85% so
với thuế quan chung (CCT).
Thứ hai là loại sản phẩm nhạy cảm: Có mức thuế ưu đãi bằng 70% so với thuế
quan chung (CCT).
Thứ ba là loại sản phẩm bán nhạy cảm: Chịu mức thuế bằng 30% mức thuế
CCT.
Thứ tư là loại không nhạy cảm: Được miễn thuế hoàn toàn (0%).
Hơn thế nữa không phải mặt hàng nào nằm trong danh mục giảm thuế này
cũng nghiễm nhiên vào được thị trường EU vì theo điều 14 (điều khoản tự vệ) của
quy chế GSP thì một số sản phẩm được đưa ra vẫn có thể bị thay đổi trong thời gian
hưởng lợi khi mặt hàng đó “gây ra hoặc đe dọa gây ra khó khăn cho các nhà sản xuất
của EU”. EU thường xuyên điều chỉnh hệ thống thuế quan chung (CCT) như một
công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động ngoại thương, do đó các doanh nghiệp phải
rộng rãi hơn. Thuế nông sản gồm nhiều phần khác nhau, thuế theo mùa và dựa trên giá
thời điểm nhập khẩu.
1.1.2.
Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật là biện pháp phi thuế quan chính mà EU áp dụng
đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào liên minh, đây là hệ thống bảo hộ bằng
rào cản kỹ thuật hiệu quả nhất trên thế giới hiện nay và hoàn toàn phù hợp với xu thế
chung của thương mại thế giới. Hệ thống rào cản kỹ thuật được cụ thế hóa ở 5 tiêu
chuẩn của sản phẩm: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn
an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động.
1.1.2.1. Quy định của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm
a. Quy định của EU về kiểm tra chứng nhận
Quyết định 95/328/EC ngày 25/7/1995 quy định về cấp giấy chứng nhận vệ
sinh cho các sản phẩm thủy sản từ các nước thứ Ba mà chưa chịu bởi một quyết định
riêng biệt nào. Quyết định nêu rõ các sản phẩm thủy sản ký gửi đưa vào các lãnh thổ
được xác định trong phụ lục 1 của Chỉ thị 90/675/EEC sẽ phải được chứng minh kiểm
tra bởi cơ quan kiểm tra của nước thứ Ba, và cùng với chứng nhận vệ sinh gốc chứng
thực rằng điều kiện vệ sinh khi mua bán, sản xuất, chế biến, đóng gói và các giấy tờ
chứng minh của sản phẩm là ít tương đương với những điều đã nêu ra trong Chỉ thị
91/493/EEC.
Quyết định 96/333/EC về chứng nhận vệ sinh cho hải sản là nhuyễn thể hai
mảnh vỏ, động vật da gai, giáp xác và chân bụng từ các nước thứ Ba mà không chịu bởi
một Quyết định riêng biệt nào. Quyết định quy định điều kiện đặc biệt cho việc nhập
nhuyễn thể hai mảnh vỏ, loài da gai, giáp xác và chân bụng biển cho các nước thứ Ba.
Chỉ thị 97/78/EC được đưa ra để tổ chức kiểm tra thú y các sản phẩm nhập
khẩu từ các nước thứ Ba, nhằm cung cấp một nguồn thực phẩm an toàn và ổn định,
bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Chỉ thị 97/78/EC về việc kiểm tra tại cửa khẩu do các nước
thành viên EU tiến hành. Các sản phẩm nhập khẩu từ nước thứ Ba phải được cấp giấy
chứng nhận trước khi đưa vào lãnh thổ EU.
Quy định kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thịt gia súc, gia cầm và
thủy sản
Chỉ thị 2002/70/EC ngày 26/7/2002 lập yêu cầu cho việc xác định mức độ
đioxin và giống đioxin như PCBs trong thức ăn chăn nuôi.
Quy định của Hội đồng (EEC) 315/93 ngày 8/2/1993 đề ra các quy định về các
chất ô nhiễm trong thực phẩm với điều kiện là:
+ Thực phẩm chứa chất ô nhiễm với số lượng không thể chấp nhận xét theo
quan điểm y tế cộng đồng và đặc biệt ở mức độc hại không đưa ra thị trường tiêu thụ
được.
+ Sẽ giữ ở mức ô nhiễm thấp có thể đạt được bằng các biện pháp sau đó
+ Đối với một số chất ô nhiễm nên thiết lập các mức tối đa nhằm bảo vệ sức
khỏe cộng đồng
Hiện tại EU cũng chưa có giới hạn cụ thể nào thiết lập ở cấp Cộng đồng đối với
điôxin hoặc PCBs trong thực phẩm và chỉ áp dụng yêu cầu chung.
Ủy ban yêu cầu Ủy ban Khoa học Thực phẩm (SCF) và Ủy ban Khoa học Dinh
dưỡng Động vật (SCAN) đánh giá những rủi ro cho sức khỏe cộng đồng xuất phát từ sự
có mặt của điôxin trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, bao gồm cả đánh giá lượng
dung nạp điôxin và PCBs trong chế độ ăn của người dân EU, xác định yếu tố đóng góp
chính.
Mục đích chung của chính sách EU về điôxin là làm giảm mức nhiễm điôxin và
PCBs trong môi trường, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi nhằm đạt được mức bảo vệ
sức khỏe cộng đồng cao. Mục đích này sẽ đạt được thông qua thực hiện các yêu cầu
trong tất cả các giai đoạn của chuỗi thực phẩm và thức ăn như sau:
+ Giảm mức ô nhiễm môi trường
+ Giảm mức ô nhiễm của thức ăn chăn nuôi, bao gồm cả thức ăn cho thủy sản
+ Giảm mức ô nhiễm của thực phẩm
Ủy ban đã đề xuất cho các nước thành viên các biện pháp lập pháp sau đây liên
quan đến thức ăn chăn nuôi:
+ Thiết lập các mức tối đa nghiêm ngặt nhưng khả thi
+ Thiết lập các mức thực tế tác dụng như công cụ cảnh báo sớm về mức điôxin
cao
+ Thiết lập các mục tiêu để thực phẩm và thức ăn chăn nuôi nằm trong giới hạn
Tên chỉ tiêu Sản phẩm Mức giới hạn Căn cứ pháp lý
Kháng sinh cấm và hạn chế
sử dụng
Sản phẩm thủy sản
nuôi, động vật thủy sản
Tùy từng loại
Qui định (EC)
Số 2377/90, Quy định
2004/25/EC,
Thuốc trừ sâu Động vật thủy sản Tùy từng loại 86/363/EEC
Các chất kích thích sinh
trưởng
Động vật thủy sản Không cho phép 96/23/EC
Trichlofon Động vật thủy sản Không cho phép 96/23/EC
Độc tố nấm (Aflatoxin) 4 μg/kg
Quyết định
(EC) 466/2001
Kim loại nặng (Pb) Các loại thủy sản
0,2 – 0,4 mg/kg
Trọng lượng ướt
Qui định (EC)
Số 78/2005
Kim loại nặng (Cd) Các loại thủy sản
0,05 – 0,1 mg/kg
Trọng lượng ướt
Qui định (EC)
78/2005
Kim loại nặng (Hg) Các loại thủy sản
0,1 – 0,5 mg/kg
Trọng lượng ướt
Phế thải bao bì là các loại bao bì hay vật liệu làm bao bì được bỏ ra sau khi kết
thúc quá trình vận chuyển, chuyên chở, phân phối hay tiêu dùng. Chẳng hạn như
container thải ra sau khi kết thúc quá trình vận chuyển hàng hóa, túi ni lông các loại sau
khi dùng sản phẩm.
=>?'@<%5A B#B%@?B#B%
+ Bao bì phải được sản xuất sao cho thể tích và khối lượng được giới hạn đến
mức tối thiểu để duy trì mức an toàn, vệ sinh cần thiết đối với sản phẩm có bao bì đối
với người tiêu dùng.
+ Bao bì phải được thiết kế, sản xuất, buôn bán theo cách thức cho phép tái sử
dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế mức tối thiểu tác động đối với môi trường
khi chất phế thải bao bì bị bỏ đi.
+ Bao bì phải được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của
nguyên liệu và chất độc hại do sự phát xạ, tàn tro khi đốt cháy hay chôn bao bì, chất cặn
bã.
=>?'@<B#B%+CDE
Ngoài việc tuân thủ các yêu cầu đối với quá trình sản xuất và thành phần của
bao bì trên còn phải đáp ứng các yêu cầu dưới đây:
+ Tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì phải cho phép sử dụng lại một
số lần nhất định trong điều kiện sử dụng được dự đoán trước là bình thường.
+ Quá trình sản xuất bao bì phải đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao
động.
+ Phải đáp ứng yêu cầu đặc biệt về thu hồi bao bì khi bao bì không được tái sử
dụng trong thời gian dài và thành phế thải.
=>?'@<@F@B#B%
+ Bao bì thu hồi ở dạng vật liệu tái sử dụng được thì phải được sản xuất theo
cách để nó có thể chiếm một tỷ lệ phần trăm khối lượng vật liệu được dùng vào việc
sản xuất thành những sản phẩm có thể bán được, chỉ cốt sao phù hợp với các tiêu chuẩn
hiện hành của châu Âu. Việc định ra tỷ lệ này có thể khác nhau, phụ thuộc vào loại vật
liệu làm bao bì.
+ Loại bao bì thu hồi dạng phế phẩm năng lượng, phải thu được tối thiểu lượng