LUẬN VĂN: Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm
phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong
mùa nước nổi MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
thác tối đa những lợi ích mà lũ mang lại, tiến dần đến chủ động sống chung với lũ,
kiểm soát một cách hiệu quả hiện tượng tự nhiên này.
An Giang là tỉnh đầu nguồn, có toàn bộ diện tích nằm trong vùng lũ và phải
chịu ảnh hưởng của lũ lâu dài và nặng nề nhất. Thời gian chịu lũ kéo dài khoảng 6
tháng trong năm nên vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khai thác một cách có
hiệu quả nhất những công trình, cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ đã được đầu tư phục vụ
cho việc chủ động sống chung với lũ, khai thác tối đa những lợi thế của lũ cũng như
trong phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do lũ mang lại.
Quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/2/1996 về định hướng
dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và
xây dựng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, cho quá trình chủ động
sống chung với lũ. Song quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải nghiên
cứu như: xây dựng các cụm tuyến dân cư vượt lũ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng,
tài sản của nhân dân trong mùa lũ nhưng cũng làm thay đổi phong tục, tập quán,
cách sống của nhân dân; xây dựng đê bao chống lũ kết hợp với phát triển đường
giao thông nông thôn nhưng cũng ngăn không cho nước tràn đồng, có thể làm tăng
mực nước lũ trên các dòng chính
Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề: "Những vấn đề đặt ra và các giải pháp
nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi "
là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc chủ động sống chung với lũ,
thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn An
Giang. Qua đó, tổng kết kinh nghiệm và góp phần thúc đẩy quá trình khai thác lợi
thế mùa nước nổi của người dân vùng lũ bao đời nay từ tự phát lên tự giác dưới sự
định hướng và hỗ trợ của Nhà nước. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về lũ ở châu thổ sông Cửu Long đã các công
trình sau:
nước tiến hành điều tra nghiên cứu về vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long trên
các lĩnh vực: điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đa dạng sinh học; cơ cấu kinh tế
vùng ngập lũ; hệ thống canh tác nông - lâm - ngư kết hợp; nước sạch và vệ sinh môi
trường; giáo dục và dạy nghề
Dương Văn Nhã: "Báo cáo tác động của đê bao đến kinh tế - xã hội - môi
trường", chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan, An Giang, 2004. Chương
trình đã điều tra và đánh giá những tác động việc thực hiện đê bao chống lũ tại một
số địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long, đưa ra một số nhận định về việc thực
hiện đê bao triệt để, đê bao tháng 8 và không đê bao.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí, các đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ, địa phương. Các công trình trên đã nghiên cứu về mùa lũ ở châu
thổ sông Cửu Long và vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long dưới nhiều góc độ
khác nhau và đề cập đến một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, điều tra tổng hợp về kinh tế - xã hội - môi trường - văn hóa - giáo
dục vùng đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp số liệu cho công tác quy hoạch phát
triển vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Hai là, đánh giá tác động và đưa ra những khuyến nghị về việc phát triển
đồng bằng sông Cửu Long trong mối quan hệ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
nhất là trong mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh.
Ba là, đánh giá bước đầu ảnh hưởng của việc thực hiện chương trình đê bao
chống lũ triệt để ở một số địa phương.
Bốn là, đưa ra những kiến nghị nhằm khuyến khích phát triển kinh tế - xã
hội - môi trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu
Long trong điều kiện chung sống với lũ. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu mùa lũ ở châu thổ sông Cửu
Long với tư cách là một nguồn lực - nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói
chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng.
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết và chủ trương của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn nói
chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Tham khảo và tiếp thu có chọn
lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ những lợi thế tự nhiên trong trong mùa nước nổi có tác động tích
cực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói
chung và An Giang nói riêng.
- Khái quát những vấn đề cấp thiết đang đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã
hội ở An Giang trong mùa nước nổi.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết những vấn đề được đặt ra
để phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết. Chương 1
LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở AN GIANG
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Quan niệm mùa nước nổi
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 3.956.900 ha, được hình
thành từ phù sa của phần hạ lưu vực sông Mêkông. Sông Mêkông dài 4.200 km, có
diện tích lưu vực 795.000 km
2
, chảy qua Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào,
Campuchia và Việt Nam. Phần hạ lưu chảy vào Việt Nam theo hai nhánh chính là
sông Tiền và sông Hậu, chảy ra biển theo 9 cửa là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai,
dồn về các tỉnh hạ lưu.
Hai là, mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long lên xuống với cường suất nhỏ,
khoảng 5-7cm/ngày và kéo dài trong suốt mùa lũ. Mức độ biến động lũ giữa các
năm không lớn, nguyên nhân chính là do sự điều tiết tự nhiên của Biển Hồ ở
Campuchia. Vì thế mà dạng lũ ở đồng bằng sông Cửu Long là tương đối ổn định và
được điều hòa một cách tự nhiên, không có hiện tượng cường suất lũ dâng cao
nhanh như lũ ở miền Trung và miền Bắc. Tuy nhiên, do địa hình đồng bằng sông
Cửu Long tương đối bằng phẳng nên chỉ cần đỉnh lũ tăng thêm vài chục cm là mức
độ ngập lũ tăng một cách đáng kể. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, việc xác định
lũ lớn hay nhỏ không phụ thuộc vào cường độ lũ, lưu lượng, tổng lượng mà yếu tố
quan trọng là dựa vào mực nước. Theo phân cấp của Tổng cục Khí tượng Thủy văn,
mực nước trên sông Tiền tại Tân Châu thấp hơn 3,83 m là lũ nhỏ, từ 3,83 m đến
4,83 m là lũ trung bình và trên 4,83 m là lũ lớn.
Ba là, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thường là lũ một đỉnh, đạt lớn nhất
vào khoảng từ cuối tháng 9 đến nửa đầu tháng 10. Tháng 8 thường xuất hiện một
"đỉnh phụ", bởi sau đỉnh này, vào đầu tháng 9, lũ hoặc bị hạ thấp đôi chút hoặc nằm ngang hay tăng chậm hơn so với thời kỳ trước và sau đó. Đôi khi đỉnh lũ này lại cao
hơn đỉnh lũ chính tháng 10 (lũ năm 1978, 1991).
Bốn là, không chỉ chảy theo các nhánh sông chính, lũ còn tràn vào đồng
bằng sông Cửu Long bằng cách tràn qua và lấp đầy các khu trũng thấp dọc theo
biên giới (nhất là ở hai vùng ngập chính Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên).
Diện tích ngập lũ khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 2,5% diện tích lưu vực sông
Mêkông nhưng phải gánh chịu tổng lượng lũ khoảng 400 tỷ m
3
của toàn lưu vực đổ
về. Trong đó, lượng theo các sông chính khoảng 320 tỷ m
3
, còn lại thì tràn đồng và
Với những đặc trưng riêng có như trên của mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long ta cần phải có một tên gọi vừa thể hiện được đặc trưng đó, vừa thể hiện được
tính lạc quan của việc chung sống trong mùa lũ mà cư dân vùng sông nước đã quen
sống bao đời nay.
Trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, từ lũ, lụt thường được
dùng để chỉ mùa lũ chung cho các loại hình lũ, chỉ khác nhau là có thêm tên địa
danh để phân biệt như: lũ ở sông Hồng, lũ ở miền Trung, lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long…
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì:
Lũ (dt): "Hiện tượng nước dâng cao đầu nguồn, dồn vào dòng chảy, thường
là rất mạnh, trong thời gian tương đối ngắn" [70, tr. 1055].
Lụt (dt): "Hiện tượng nước dâng cao tràn ngập cả một vùng rộng lớn do
mưa lũ gây ra" [70, tr. 1066].
Cả hai khái niệm trên chỉ diễn tả được những tính chất chung nhất của lũ lụt
nhưng không thể hiện được những đặc trưng cơ bản của mùa lũ ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
Theo PGS.TS Trần Thanh Xuân thì:
Thuật ngữ lũ chỉ hiện tượng nước sông dâng cao trong một
khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần. Trong mùa lũ, những trận
mưa liên tiếp trên lưu vực sông (vùng hứng nước mưa và sinh dòng
chảy) làm cho nước sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông suối. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê)
chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng [69, tr.
7].
Các cách gọi như trên là đúng nhưng chưa đủ, để chỉ lũ ở đồng bằng sông
Cửu Long thì chúng ta phải dùng cả cụm từ là "mùa lũ (lũ) ở châu thổ sông Cửu
Long". Đây là cách gọi đúng và đủ nhưng mang nặng tính bi quan, thiên về những
tác hại do lũ gây ra (lũ, lụt được ông cha ta từ xưa xếp vào một trong những thiên
khai thác những nguồn lợi mà thiên nhiên mùa nước nổi mang lại cho họ; vẫn sinh
sống, mua bán, trao đổi những vật phẩm khai thác được cũng như những hàng hóa
thiết yếu cho cuộc sống
Mùa nước nổi là cách gọi truyền thống từ bao đời nay của người dân vùng
sông nước, là cách gọi mang đầy tính lạc quan của những cư dân khai phá và sinh
sống trên vùng đất này, thể hiện tinh thần chủ động chung sống với lũ theo hướng
khai thác mùa lũ như là một trong những lợi thế để phát triển, từ đó tác động tích
cực đến tư duy và các hoạt động cần thiết khác để cùng chung sống trong mùa nước
nổi như: chủ động điều chỉnh lịch mùa vụ để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do
mùa nước nổi gây ra cũng như khai thác tốt nhất những lợi thế mà mùa nước nổi
mang lại cho đồng bằng sông Cửu Long để xóa đói, giảm nghèo; triển khai các mô
hình kinh tế hiệu quả cao trong mùa nước nổi để phát triển kinh tế
Chính vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ dùng khái
niệm mùa nước nổi để chỉ mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long và cũng để thể hiện
rõ mục đích nghiên cứu chính của luận văn là phân tích những lợi thế của mùa nước
nổi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang.
1.1.2. Một số khái niệm thường dùng trong phòng chống lũ lụt
Có nhiều khái niệm được dùng trong phòng chống lũ lụt, trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu một số khái niệm thường
dùng trong phòng chống lũ lụt có liên quan như: Điều tiết lũ là sử dụng các dung tích lớn như các hồ chứa, khu
trũng để phân bố lại dòng chảy lũ theo thời gian, tích nước khi có lũ, xã
nước khi sông cạn kiệt.
Điều khiển lũ là sử dụng các biện pháp công trình như đê bao
ngăn lũ, kênh thoát lũ, cống điều tiết để phân bố lại dòng chảy lũ theo
không gian.
Kiểm soát lũ là khái niệm rộng hơn, trong đó chủ yếu là làm thay
đổi hướng truyền lũ, thoát lũ (theo không gian), song cũng có phần phân bố
/s. Hàm lượng phù sa
của sông Cửu Long không cao như hàm lượng phù sa của sông Hồng nhưng do lưu
lượng dòng chảy cao, khối lượng nước lớn nên tổng khối lượng phù sa của sông
Cửu Long lên đến 150 triệu tấn/năm, gấp 7 - 8 lần tổng khối lượng phù sa của sông
Hồng. Một phần phù sa theo nước tràn đồng, lắng đọng và bồi đắp cho ruộng đồng;
một phần theo sông chảy ra cửa sông, bồi tụ cho những vùng ven biển. Chính sự bồi
lắng của phù sa đã làm cho ruộng đồng luôn trù phú, màu mỡ, tiết kiệm nhiều chi
phí trong trồng trọt, năng suất cao hơn, hiệu quả cao hơn.
Quá trình chuyển tải và bồi lắng phù sa hay nói cách khác là khối lượng phù
sa bồi đắp thực tế cho đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc nhiều vào vị trí vùng
đất, các công trình kiểm soát lũ, bờ bao lũ, yếu tố dòng chảy tuy nhiên, lượng phù
sa bồi đắp cho đồng bằng sông Cửu Long hàng năm là khá cao và có chất lượng tốt
hơn lớp đất cũ. "So với đất tại chỗ, phù sa bồi lắng giàu khoáng, lân, kali hơn, có tác
dụng gia tăng độ tơi xốp, độ no bazơ và lượng lân tổng số trong đất" [46, tr. 143].
Riêng tại An Giang, theo kết quả nghiên cứu của dự án Bắc Vàm Nao - năm
2003, lượng phù sa phủ trên đồng ruộng tại An Giang là khoảng 80 tấn/ha, có chất
lượng cao hơn lớp đất mặt trước lũ.
Lượng phù sa bồi tích nhiều nhất ở điểm đặt khai số 1: 19092,2
g/m
2
; điểm số 4: 14314,4 g/m
2
; điểm số 8: 12585,5 g/m
2
; điểm số 22:
10851,0 g/m
2
; điểm số 23: 10734,4 g/m
2
; điểm số 19: 7696,4 g/m
các cửa sông với hy vọng tăng khả năng thoát lũ [8, tr. 12].
Điều này cũng là một khuyến cáo đối với các nhà hoạch định chính sách là
khi áp dụng các giải pháp đào kênh nhằm thoát lũ nhanh về phía biển Tây và làm
thủy lợi phải gắn với việc quy hoạch một hệ thống cống, đập thích hợp nhằm đảm
bảo thoát nước nhanh vào mùa nước nổi và giữ một mức nước thích hợp để tránh
xâm mặn vào mùa kiệt.
1.2.2. Mang lại nguồn lợi thủy sản tự nhiên đa dạng, phong phú và là
điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng các loại thủy sản
Thành phần loài cá vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là khá phong
phú và đa dạng, chủ yếu là cá nước ngọt, thuận lợi khai thác, đem lại nguồn lợi to
lớn cho người dân trong vùng. Thành phần loài cá vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long khá
phong phú với khoảng 183 loài thuộc 38 họ trong tổng số 267 loài cá
thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong số này, có 122 loài hiện
diện ở hạ lưu sông Mêkông thuộc địa phận Campuchia. Các loài chiếm
ưu thế thuộc nhóm cá trắng bao gồm
9 họ (114 loài). Kế đến là nhóm cá nước lợ, gồm 19 họ (46 loài); nhóm
cá đen là 8 họ (18 loài) và ít nhất là nhóm cá di cư có nguồn gốc từ biển
bao gồm 3 họ (4 loài) [46, tr. 37-38].
Trong đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao trong xuất khẩu như: cá tra, cá
ba sa, cá bống tượng, cá lóc
Vào mùa nước nổi, cá từ sông, theo nước vào tìm mồi, sinh sống và sinh
sản ở nội đồng - những vùng ngập nước vì những nơi đó vào mùa này có rất nhiều
thức ăn và thuận lợi trong cư trú. Trong những tháng mùa nước, với những điều
kiện thuận lợi trên, cá sinh sản và sinh trưởng nhanh tạo nên một trữ lượng cá tự
nhiên nội đồng khá lớn. Khi nước rút, từ nội đồng, cá lại quay về sông và người dân
rất dễ dàng đánh bắt bằng những biện pháp đơn giản như: làm đăng, đặt dớn, kéo
lưới mang lại nguồn lợi khai thác tự nhiên to lớn cho cư dân vùng ngập lũ.
được 1 vụ lúa (vào mùa mưa) và nuôi các loài hải sản.
Bảng 1.1: Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm đất
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
1. Đất phù sa 1.094.248 28,91
2. Đất phèn 1.054.342 28,02
3. Đất mặn 890.034 21,38
4. Đất phèn mặn 631.443 16,98 5. Đất phù sa cổ 108.989 2,84
6. Đất than bùn 34.027 0,92
7. Đất núi 34.678 0,95
Nguồn: [51, tr. 38].
Vào mùa mưa, các đợt mưa đầu mùa làm hòa tan phèn tích lũy trong đất do
sự ôxy hóa trong mùa khô. Lượng mưa càng nhiều kết hợp với lượng nước từ
thượng nguồn đổ về làm loãng độ phèn và sau một thời gian dài ngâm nước, lượng
nước có chứa phèn hòa tan theo hệ thống sông ngòi, kênh rạch và hệ thống thủy lợi
thoát về hạ lưu, ra biển. Tác động này làm cho vùng đất nhiễm phèn nhẹ chuyển đổi
từ sản xuất nông nghiệp một vụ vào mùa mưa sang sản xuất được hai vụ; chuyển
đất nhiễm phèn nặng từ không sản xuất nông nghiệp được sang sản xuất một vụ và
dần chuyển sang sản xuất hai vụ; đồng thời cũng gây nhiễm phèn trên một phần
diện tích các thủy vực ven biển vào mùa mưa. Ta có thể nhìn thấy tác động tháo
chua, rửa phèn của mùa nước nổi đối với vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long
theo một quy trình chung nhất qua kết quả nghiên cứu sau:
Bảng 1.2: Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn
trong mùa nước nổi
Thời điểm Đất phèn Nước
XII)
Đất ít chua. Nước ít chua nhất.
Nguồn: [46, tr. 132].
Bên cạnh tác động tháo chua, rửa phèn, mùa nước nổi còn giúp rửa sạch
những độc chất mà chủ yếu là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn tồn đọng trên
đồng ruộng trong quá trình sử dụng; thời gian ngập lâu cũng góp phần đáng kể vào
việc giảm thiểu hay tiêu diệt các loài sâu bệnh có nguy cơ tiềm tàng trong lòng
đất…
1.3. HẠN CHẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI
Bên cạnh những lợi thế trên, mùa nước nổi cũng gây ra những tổn thất to
lớn cho sản xuất, kết cấu hạ tầng, tài sản của nhân dân và Nhà nước, tính mạng của
nhân dân nhất là trẻ em ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long, thiệt hại lên đến
hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm và làm tốn kém thêm công sức và hàng ngàn tỷ đồng để
khắc phục. Trong khoảng 15 năm gần đây, liên tiếp có nhiều trận lũ lớn ở đồng bằng
sông Cửu Long gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, mà nguyên nhân chính là do
những biến động bất thường của môi trường trái đất, sự tàn phá rừng nhất là rừng
đầu nguồn, sự khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho dân số
và nhu cầu ngày càng tăng của con người, sự chủ quan của con người
Lũ gây thiệt hại to lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân, mỗi năm có
hàng trăm người bị chết đuối (trong đó phần lớn là trẻ em, nguyên nhân chính là do
sự bất cẩn của người lớn), hàng ngàn hộ dân phải di dời nhà, hàng trăm căn nhà bị
hư hỏng ; các cơ sở hạ tầng y tế - trường học - cơ quan nhà nước bị ngập, xuống
cấp nhanh, không sử dụng được ; các công trình thủy lợi, giao thông vận tải bị tàn
phá làm gián đoạn hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội bình thường của cư dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, lũ sớm đe dọa thu hoạch vụ lúa hè thu, gây
mất trắng hay giảm chất lượng lúa do gặt ép (lúa còn chưa thật sự chín); lũ muộn
5. Trạm xá, bệnh viện bị ngập, hư hỏng Điểm 376
6. Đường giao thông bị ngập Km 11.010
7. Thiệt hại về thủy lợi
- Sạt lở bờ bao, kênh M
3
27.822.400
- Đê, bờ bao bị hư hại Km 1.470
- Cống, bộng, đập bị hư hại Cái 2.440
8. Thiệt hại về nông nghiệp Ha 330.266
Tổng trị giá thiệt hại Tỷ đồng 4.000
Nguồn: [52, tr. 10]. Qua phân tích lợi thế và hạn chế của mùa nước nổi đối với phát triển kinh tế
- xã hội ở An Giang, chúng ta nhận thấy, mùa lũ đối với vùng ngập lũ đồng bằng
sông Cửu Long có tác động hai mặt: tích cực và tiêu cực. Mặt tiêu cực, lũ gây thiệt
hại to lớn trên nhiều mặt như: tính mạng, tài sản, thiệt hại cơ sở hạ tầng, gián đoạn
các hoạt động kinh tế - xã hội Mặt tích cực, lũ cũng mang đến những yếu tố sinh
thái đặc trưng, những nguồn lợi về nước ngọt, phù sa, thủy sản là những tiềm
năng có thể khai thác để phát triển vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long. Nhận
dạng được tính 2 mặt của mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là một
trong những nhân tố quan trọng cho việc hình thành những đối sách với lũ ở vùng
ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long. Chính tính đặc trưng riêng có này đã hình thành
nên cách gọi mùa nước nổi để gọi mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long
nhằm thể hiện tính lạc quan của cư dân trong quá trình khai phá vùng đất này cũng
như nhấn mạnh đến những nguồn lợi tự nhiên được mang đến trong mùa nước nổi
mà con người có thể khai thác được.
Sông Mêkông là sông lớn, có lưu vực rộng, gắn chặt với môi trường tự
nhiên, kinh tế và cả văn hóa của những quốc gia nơi lưu vực sông Mêkông chảy
qua. Lũ ở lưu vực sông Mêkông nói chung và lũ ở đồng bằng sông Cửu Long nói
Đối sách này có những đặc trưng cơ bản là: phải nắm được quy luật hoạt
động tự nhiên của lũ để có được những dự báo lũ kịp thời và thích hợp; chủ động
nghiên cứu để có đánh giá cơ bản về những diễn biến bất thường của lũ dưới tác
động khai phá thiên nhiên của con người; phải có những giải pháp đồng bộ về quy
hoạch cơ sở hạ tầng dần theo hướng kiểm soát lũ để hạn chế thấp nhất những thiệt
hại do lũ mang lại; có những giải pháp tổng hợp về kinh tế - môi trường - văn hóa -
xã hội thích hợp để khai thác có hiệu quả những lợi thế do lũ mang lại vào quá trình
phát triển.
Đối sách này được lựa chọn dựa trên những kinh nghiệm được đúc kết từ
thực tiễn quá trình khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long của người dân Nam
bộ; dựa trên những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại giúp chúng ta có thể nắm bắt được quy luật vận động cơ bản của lũ, có thể dự báo tương đối chính xác diễn
biến lũ ; dựa trên những công trình cơ sở hạ tầng điều khiển lũ và hướng tới mục
tiêu lâu dài là kiểm soát lũ cho vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long, đã và đang
được quy hoạch xây dựng nhằm giúp duy trì cuộc sống bình thường cho nhân dân
trong mùa nước nổi
Các tác động trên đã giúp hạn chế thấp nhất những tác hại trong mùa nước
nổi thì việc phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chung sống trong mùa nước
nổi như thế nào nhằm khai thác lợi thế mùa nước nổi cho phù hợp với điều kiện
phát triển của từng địa phương là một vấn đề rất quan trọng và
cần thiết.