Báo cáo tốt nghiệp
“Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án
vay vốn tại ngân hàng techcombank hai bà trưng”
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG TECHCOMBANK HAI BÀ TRƯNG 6
1.1. Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Techcombank Hai Bà
Trưng 6
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển chung của Ngân hàng
Techcombank Hai Bà Trưng. 6
1.1.2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong những năm
gần đây 6
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn 6
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng 8
1.1.2.3. Các hoạt động khác 10
1.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Techcombank Hai Bà
Trưng trong những năm 2007 – 2009 10
1.2. Thực trạng công tác thẩm định dự án vay vốn tại Ngân hàng
Techcombank Hai Bà Trưng 12
1.2.1. Vai trò của công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn 12
1.2.2. Quy trình thẩm định tài chính dự án vay vốn 13
1.2.3. Nội dung thẩm định tài chính dự án vay vốn 14
1.2.3.1. Thẩm định tổng vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn của dự án 14
1.2.3.2. Thẩm định nguồn vốn huy động cho dự án. 16
vay vốn tại Ngân hàng 59
1.4.3. Một số nguyên nhân chính gây ra các hạn chế trong công tác thẩm
định tài chính dự án vay vốn tại Ngân hàng 62
Chương II: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn
tại Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng 65
2.1. Định hướng phát triển của Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng 65
2.1.1. Định hướng phát triển chung của Ngân hàng 65
2.1.2. Định hướng phát triển trong công tác thẩm định tài chính tài Ngân
hàng 68
2.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn
tại Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng 69
2.2.1. Giải pháp về quy trình thẩm định 69
2.2.2. Giải pháp về nội dung thẩm định 70
2.2.3. Giải pháp về phương pháp thẩm định 71
2.2.4. Giải pháp về cán bộ thẩm định 72
2.2.5. Giải pháp về nguồn thông tin, trang thiết bị, công nghệ phục vụ công
tác thẩm định 74
2.3. Một số kiến nghị 74
2.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước 74
2.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 75
2.3.4. Kiến nghị đối với chủ đầu tư 76
KẾT LUẬN 78
Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng.
Chương II: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án vay
vốn tại Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng. CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI
CHÍNH DỰ ÁN VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TECHCOMBANK HAI BÀ TRƯNG
1.1. Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Techcombank Hai
Bà Trưng
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển chung của Ngân hàng
Techcombank Hai Bà Trưng.
Chi nhánh Techcombank HBT được thành lập theo quyết định số 2419/GP-
UB do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 23 tháng 4 năm 2006. Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 405022 do Sở kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 15
háng 5 năm 2006. Chi nhánh hiện nay được đặt tại 382,384 Trần Khát Chân, Hai Bà
Trưng, Hà Nội. Ban đầu Techcombank HBT chỉ là một phòng giao dịch trực thuộc
Chi nhánh Hà Nội nhưng chỉ sau một năm, nhờ việc luôn hoàn thành xuất sắc các
chỉ tiêu, hoạt động kinh doanh có lãi nên chỉ sau 1 năm tức là năm 2007 đã trở
thành một chi nhánh của Techcombank tại Hà Nội.
Trong suôt quá trình hoạt động, chi nhánh luôn là một trong những chi nhánh
hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu đề ra, và đạt nhiều giải thưởng của toàn hệ thống
Techcombank về chi nhánh xuất sắc và cá nhân lao động điển hình.
1.1.2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong những
năm gần đây
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
năm 2007; đến năm 2009 tổng vốn huy động được là 449,1 tỷ đồng, tăng 13,5% so
với năm 2008.
Công tác huy động vốn của chi nhánh luôn được quan tâm bằng các biện
pháp hiệu quả như việc tuyên truyền quảng bá, chính sách chăm sóc khách hàng, lãi
suất cạnh tranh, có nhiều hình thức huy động vốn hấp dẫn tiện lợi mà chi nhánh đã
có sự tăng trưởng đáng kể trong mức vốn huy động. Công tác đào tạo trình độ
nghiệp vụ cho các giao dịch viên được tiến hành một cách thường xuyên. Đặc biệt
đã triển khai chương trình “khách hàng bí mật” để kiểm tra thái độ phục vụ, chăm
sóc khách hàng của các giao dịch viên. Nhờ đó mà thái độ phục vụ khách hàng của
các giao dịch viên rất tốt, làm hài lòng hầu hết khách hàng. Đó cũng là một tác động
tích cực đối với hoạt động huy động vốn của chi nhánh. Do đó đến hết năm 2009
tổng vốn huy động lũy kế của ngân hàng là 616,219 tỷ đồng. Đây là một con số ấn
tượng đối với các chi nhánh mới thành lập như Techcombank Hai Bà Trưng. Nguồn
vốn chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, chiếm tới 54,46 % là tiền gửi có thời hạn dưới
12 tháng, còn lại là tiền gửi trên 12 tháng ( chiếm 42,85%) và nguồn vốn chiếm tỷ
trọng nhỏ nhất là tiền gửi không kì hạn ( 2,69%). Chi nhánh chủ yếu đáp ứng nhu
cầu tín dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.1.2.2. Hoạt động tín dụng
Trong năm 2007 tình hình kinh tế đất nước có nhiều biến đổi, sự tăng trưởng
nhanh của kinh tế kèm theo tỷ lệ lạm phát cao đã ảnh hưởng tới mọi mặt của đời
sống của dân cư và ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008 các ngân hàng ồ
ạt chạy đua tăng lãi suất đã làm cho thị trường tài chính của chúng ta thêm bất ổn.
Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Mỗi ngân hàng đều đưa ra
mức lãi suất hấp dẫn cùng những chương trình khuyến mại đặc biệt để thu hút
khách hàng. Bám sát diễn biến của thị trường đồng thời vận dụng đúng đắn, linh
hoạt các chủ trương, chính sách của nhà nước, Techcombank Hai Bà Trưng đã có
những giải pháp tích cực, quan tâm và tìm hiểu kĩ mọi đối tượng khách hàng nên
kết quả hoạt động tín dụng của chi nhánh vẫn đạt những kết quả tốt cả về tốc độ
tăng trưởng và chất lượng các khoản đầu tư.
Chi nhánh đã sử dụng khá triệt để nguồn vốn huy động để cho vay, kết quả
cho thấy, tính đến cuối năm 2007 tổng dư nợ chiếm 83,100% tổng huy động, con số
này tăng lên 89,86% tổng huy động đến hết 31/12/2008 và đến 31/07/2009 là
89,16% tổng vốn huy động. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng
là khá tốt và ổn định, sẽ còn được phát huy trong thời gian tới.
Có thể thấy tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng lên qua các năm một
cách nhanh chóng thể hiện uy tín và hiệu quả hoạt động của chi nhánh ngày càng
tăng. Tuy tỉ lệ nợ loại 2,3 có tăng lên nhưng không đáng kể và các chỉ số an toàn
vẫn ở mức cao do tỉ lệ cho vay/ TTS đang ở mức thấp. Năm 2007, toàn bộ các
khoản vay đều là nợ loại 1. Năm 2008, không xảy ra tình trạng nợ xấu, các khoản
vay đều là nợ loại 1,2. Năm 2009, các chỉ số an toàn đạt mức độ cao, tỷ lệ nợ loại 3
chiếm 1,26% trên tổng dự nợ (2,119 tỷ đồng).
Cấu trúc tài sản theo kỳ hạn ở mức độ hợp lý. Tỷ lệ cho vay trung hạn chiếm
tỷ trọng thấp 18% so với tổng dư nợ và 7% tổng tài sản nên phù hợp với tỷ lệ huy
động vốn trung hạn, giảm thiểu được mức độ rủi ro về kỳ hạn và lãi suất. Tỷ trọng
cho vay doanh nghiệp lớn chiếm 0,06%, SMEs (doanh nghiệp vừa và nhỏ) chiếm
68,25%, cho vay cá nhân chiếm 11,81% ở mức độ tương đối phù hợp đối với chi
nhánh doanh nghiệp. Chi nhánh đã tiến hành kiểm tra giám sát nghiệp vụ tín dụng
một cách thường xuyên và chặt chẽ ví dụ như kiểm tra thường xuyên đối với 100%
hồ sơ trước khi phê duyệt, 100% được kiểm tra định kỳ sau khi giải ngân, thường
xuyên cập nhật thông tin liên quan đến khách hàng….Nhờ có các công tác đó được
tiến hành một cách tổng thể và thường xuyên và hoạt động tín dụng của chi nhánh
tương đối hiệu quả.
1.1.2.3. Các hoạt động khác
- Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong
cơ chế hoạt động. Tuy vậy với những cố gắng không ngừng trong công tác kinh
doanh đối ngoại – tài trợ thương mại nên nhìn chung chi nhánh đã có những bước
phát triển đáng kể. Năm 2009 thu lãi từ tiền cho vay tài trợ xuất nhập khẩu là 4,715
tỷ đồng trong đó từ doanh nghiệp lớn là 34 triệu đồng, từ doanh nghiệp vừa và nhỏ
là 4,681 tỷ đồng
50.496 62.692 85.482
Thu lãi tiền cho vay 15.027 28.349 16.497
Thu lãi tiền cho vay tài trợ XNK 1.956 2.475 4.715
Thu lãi điều hoà vốn trong hệ thống 23.513 34.343 64.271
Chi phí tr
ả l
ãi và b
ảo hiểm tiền gửi
38.184 48.720 78.758
Chi trả lãi tiền gửi 32.148 37.383 52.468
Chi trả lãi điều chuyển vốn nghiệp vụ cho vay 5.772 10.475 25.298
Chi trả lãi điều chuyển vốn nghiệp vụ tài trợ XNK
264 376 992
Thu nhập lãi thuần
12.312 13.972 6.725
B. Ho
ạt động dịch vụ -
Doanh thu thu phí
2.846 3.578 7.209
Thu phí thanh toán quốc tế 1.265 1.666 5.433
Thu phí dịch vụ trong nước 1.348 1.865 1.689
Chi phí hoạt động khác 903 2067 496
L
ợi nhuận tr
ư
ớc thuế v
à d
ự ph
òng RRTD
8.555 11.432 9.281
Trích d
ự ph
òng r
ủi ro tín dụng
2.507 3.364 4.709
L
ợi nhuận tr
ư
ớc thuế
6.048 8.067 4.572
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2007-2009 của chi nhánh Hai Bà Trưng
Qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2007 đến 2009 ta có thể thấy
rằng năm 2008 được coi là năm mà kết quả kinh doanh của chi nhánh tốt nhất đạt
8,067 tỷ đồng. Doanh thu thu lãi năm 2008 tăng 24,15% so với năm 2007. Năm
2009 doanh thu thu lãi tăng 36,35%. Doanh thu thu phí năm 2008 tăng 25,72% so
có trình độ cao, một quy trình thực hiện nghiêm ngặt từ đó mới đảm bảo giảm thiểu
tối đa rủi ro trong quá trình cho vay của ngân hàng.
1.2.2. Quy trình thẩm định tài chính dự án vay vốn
Sơ đồ thẩm định: Nhận và kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ
đề suất tín dụng
Kiểm tra sự phù hợp với các chính sách,
quy trình tín dụng hiện hành
Cho điểm tín dụng và phân loại khách
hàng
Thẩm định chi tiết dự án
Lập báo cáo thẩm định và trình trưởng/
phó phòng thẩm định
Thông báo kết quả thẩm định
Khách hàng
Phòng thẩm định
Phòng tín dụng
Bước 1: Phòng khách hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng và kiểm
tra tính đầy đủ, trung thực, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ xin vay vốn. Nếu hồ sơ vay
vốn chưa đầy đủ, hợp lệ thì cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh, bổ
sung hồ sơ, nếu hồ sơ đã đầy đủ thì cán bộ tín dụng tiến hành lập đề xuất tín dụng
và chuyển sang bước 2.
Bước 2: Phòng thẩm định nhận đề xuất tín dụng từ phòng khách hàng.
Trưởng phòng thẩm định tiến hành phân công nhiệm vụ cho cán bộ trong phòng.
như chi phí thiết kế, khảo sát, xây lắp; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng… Khi
thẩm định, cán bộ thẩm định cần kiểm tra nhu cầu xây dựng các hạng mục công
trình, mức độ hợp lý của đơn giá xây dựng (bằng kinh nghiệm từ các dự án đã triển
khai tương tự).
Vốn đầu tư thiết bị: bao gồm các chi phí mua sắm thiết bị, vận chuyển thiết
bị từ nơi mua đến công trình, chi phí lắp đặt, chi phí bảo hành, chi phí chuyển giao
(nếu có)…Khi thẩm định nội dung này cần kiểm tra giá mua và các danh mục chi
phí trong đó.
Chi phí quản lý và các khoản chi phí khác: Các khoản mục chi phí này chỉ
chiếm một tỉ lệ nhất định nào đó trên tổng vốn đầu tư. Đối với các khoản mục chi
phí này, khi thẩm định Ngân hàng chủ yếu kiểm tra tính đầy đủ và hợp lý của các
khoản mục.
Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian xây dựng: chi phí trả lãi vay khi
dự án được đưa vào sản xuất thường đươc tính vào chi phí thường xuyên hàng năm
nhưng trong thời gian xây dựng thì nó vẫn được tính vào tổng vốn đầu tư.
Vốn lưu động: Cán bộ thẩm định của Ngân hàng sẽ xem xét nhu cầu vốn lưu
động ban đầu (đối với dự án xây dựng mới) hoặc nhu cầu vốn lưu động bổ sung (đối
với dự án mở rộng bổ sung thiết bị) để dự án sau khi hoàn thành có thể hoạt động
bình thường.
Việc xác định đúng đắn vốn đầu tư của dự án là rất cần thiết, tránh hai
khuynh hướng là tính quá cao hoặc quá thấp (cần so sánh suất đầu tư với các dự án
tương tự) ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ của dự án.
Cán bộ thẩm định cần xem xét, đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được tính
toán hợp lý hay chưa, tổng vốn đầu tư đã tính đủ các khoản cần thiết chưa, cần xem
xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khối lượng công việc,
thay đổi tỷ giá đối với các dự án có sử dụng ngoại tệ.
Sau khi thẩm tra tổng mức vốn đầu tư, cần xem xét việc phân bổ vốn đầu tư
theo tiến độ bỏ vốn cho dự án. Tiến độ bỏ vốn được căn cứ theo tốc độ triển khai
đầu tư dự án, các điều kiện về tạm ứng vốn hoặc thanh toán khối lượng trong các
hợp đồng giao nhận thầu cũng như khả năng tham gia của các nguồn vốn đầu tư vào
năm, việc phê duyệt cho vay vốn lưu động ngay là chưa phù hợp về mặt thời điểm.
Tuy nhiên, việc xác định tương đối mức vay vốn lưu động dự kiến để có thể cân đối
chung giữa mức vốn tự có của khách hàng và tổng số tiền ngân hàng cho vay là một
yếu tố cần thiết trong việc xem xét tài trợ cho dự án.
+ Cần tính tới phương án dự phòng cho trường hợp tổng vốn đầu tư thực tế
phát sinh tăng vượt tổng mức đầu tư dự kiến: Chủ đầu tư tự huy động thêm hay các
tổ chức tín dụng cho vay bổ sung.
1.2.3.3. Thẩm định các yếu tố đầu vào, đầu ra của dự án.
Các yếu tố đầu vào trong việc tính hiệu quả tài chính và khả năng trả
nợ của dự án
Xác định công suất của dự án
Công suất thiết kế của dự án là công suất mà dự án có thể thực hiện
được trong điều kiện bình thường, theo thiết kế chuẩn tức là máy móc thiết bị hoạt
động theo đúng qui trình công nghệ, không bị gián đoạn vì những lý do không được
dự tính trước như hỏng hóc đột xuất, cúp điện ; các yếu tố đầu vào được đảm bảo
đầy đủ, liên tục;…
Công suất hoạt động thực tế của dự án: là công suất hoạt động mà
dự án dự kiến đạt được trong từng năm kể từ khi đi vào vận hành khai thác. Công
suất thực tế của dự án thường khác nhau qua các năm. Thông thường thiết bị trong
những năm đầu sản xuất thường chưa đạt ngay công suất thiết kế do năng lực điều
hành, tổ chức sản xuất, sự chưa thành thục của người lao động, do nhu cầu thị
trường, do khả năng gia nhập thị trường của sản phẩm mới, do nguồn cung cấp
nguyên nhiên vật liệu chưa ổn định
Tuỳ theo tính chất của từng ngành nghề và đặc điểm của thị trường, tham
khảo số liệu của các đơn vị cùng ngành, cán bộ thẩm định có thể giả định công suất
thực hiện hàng năm một cách phù hợp để tính toán hiệu quả dự án.
Xác định giá bán và doanh thu dự kiến
Xác định giá bán:
Cán bộ thẩm định sẽ xem xét: Sản phẩm sản xuất ra bán theo phương thức gì,
bán buôn hay bán lẻ, giá bán hiện tại là bao nhiêu, so sánh với giá bán các sản phẩm
Chi phí của dự án bao gồm chi phí biến đổi và chi phí cố định
Chi phí biến đổi: hay còn gọi là biến phí, là loại chi phí thay đổi theo
sự biến đổi của khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ. Thông thường các chi phí
này thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ nghĩa là nếu
khối luợng sản phẩm tăng thì biến phí tăng và ngược lại. Mặc dù vậy, các chi phí
này không nhất thiết luôn tăng giảm theo cùng một tốc độ với mức tăng giảm của
sản lượng sản xuất.
Các chi phí biến đổi bao gồm: nguyên vật liệu chính; nguyên vật liệu phụ;
nhiên liệu, điện, nước; bao bì đóng gói; tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất; phụ
tùng thay thế, vật rẻ tiền mau hỏng; chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí tiếp thị,
quảng cáo; chi phí quản lý…
Chi phí cố định: Là những chi phí không thay đổi theo sự biến đổi
theo sự biến đổi của sản lượng sản xuất và tiêu thụ.
Thuộc về chi phí cố định bao gồm những khoản mục chi phí sau: khấu hao
tài sản cố định; chi phí bảo trì, sửa chữa máy móc định kỳ; chi phí thuê mướn đất
đai, nhà xưởng; chi phí quản lý xí nghiệp; phí bảo hiểm tài sản cố định và kho
nguyên vật liệu, thành phẩm; lương công nhân (trường hợp không sản xuất công ty
vẫn phải trả lương tối thiểu); chi phí quản lý; các khoản phải trả cố định hàng
năm;…
Lãi vay Ngân hàng: bao gồm lãi vay vốn lưu động và lãi vay vốn
trung dài hạn.
Thuế: Thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp,
và các loại thuế khác (nếu có).
Các định mức chi phí nên tính toán trên cơ sở các quy định hiện hành của Bộ
Tài chính, các định mức mà đơn vị hoặc các đơn vị khác cùng ngành đã và đang
thực hiện, đặc tính tiêu hao nguyên nhiên vật liệu và sử dụng lao động của dây
chuyền công nghệ mới,…
1.2.3.4. Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án
a. Tính toán dòng tiền:
Trước tiên, cán bộ thẩm định cần xác định khoảng thời gian phù hợp để tính
D
D/V + r
S
S/V
Trong đó: V là tổng vốn đầu tư của dự án
E là vốn chủ sở hữu
D là vốn vay thương mại
S là các nguồn vốn khác nếu có (Vốn vay trả chậm nước ngoài, vốn vay ưu
đãi từ Ngân hàng Phát Triển,…)
r
E
là mức lợi tức kỳ vọng của Chủ đầu tư
r
D
là lãi suất vay thương mại
r
S
là lãi suất vay ưu đãi (nếu có)
Về nguyên tắc, dự án càng rủi ro thì mức lợi tức kỳ vọng của chủ đầu tư càng
cao, lãi suất vay ngân hàng càng cao. Thời hạn vay vốn càng dài và tỷ trọng vốn vay
càng lớn thì mức lãi suất vay cũng tăng tương ứng.
c. Tính toán các chỉ tiêu tài chính của Dự án
Các chỉ tiêu tài chính của dự án bao gồm:
NPV: giá trị hiện tại ròng của dự án
IRR: hệ số hoàn vốn nội bộ
T: Thời gian hoàn vốn đầu tư
Điểm hòa vốn
thanh lý lài sản cố định ở các thời điểm trung gian (khi các tài sản hết tuổi thọ theo
quy định) và ở cuối đời dự án, vốn lưu động bỏ ra ban đầu và được thu về ở cuối
đời dự án
C
t
: Khoản chi phí của dự án ở năm t. Nó có thể là chi phí vốn đầu tư ban đầu
để tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động ở thời điểm đầu và tạo ra tài sản cố
định ở các năm trung gian, chi phí vận hành hàng năm của dự án
t là số năm họat động của dự án
i là lãi suất chiết khấu
K là tổng vốn đầu tư quy đổi về thời điểm dự án đi vào khai thác. Trường
hợp vốn đầu tư kéo dài trong nhiều tháng, hoặc nhiều năm, ta phải quy đổi giá trị
đầu tư về thời điểm đưa dự án vào khai thác theo công thức sau:
K = K
1
(1+i)
n
+ K
2
(1+i)
n-1
+ + K
n
(1+i)
1
K
1 n
: Vốn đầu tư năm thứ nhất đến năm thứ n
n : thời gian xây dựng dự án
n
i
ii
CB
0
i
IRR)1(
)(
=0
Vì vậy để xác định IRR, cho NPV= 0 và giải phương trình này để tìm giá trị
r nào đó làm cho NPV bằng 0, giá trị r đó chính là nghiệm IRR.
Việc giải phương trình này một cách trực tiếp rất phức tạp nên người ta dùng
phương pháp nội suy để tìm IRR.
Theo phương pháp này cần tìm hai tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
(r
1
>r
2
) sao cho
ứng với r
1
ta có NPV
1
- r
1
5%
NPV
1
>0 gần 0, NPV
2
< gần 0.
Tuy nhiên, việc tính toán IRR theo công thức toán học thủ công thường lâu
và phức tạp. Người ta có thể tính IRR một cách tự động, rất dễ dàng, với độ chính
xác cao thông qua sử dụng chương trình phần mềm Microsoft Excel bằng hàm sau:
IRR(Giá trị 1, Giá trị 2,…. Giá trị n)
Trong đó: Giá trị 1,2,…n là giá trị Dòng tiên thuần các năm
Nguyên tắc đánh giá IRR: Thông thường, chủ đầu tư sẽ lựa chọn dự án nếu
IRR lớn hơn chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Ví dụ, nếu IRR của dự án thấp
hơn lãi suất tiết kiệm gửi tại Ngân hàng thì chủ đầu tư sẽ lựa chọn việc gửi tiền vào
Ngân hàng hơn là đầu tư vào một dự án có lợi nhuận thấp hơn và rủi ro cao hơn.
Hạn chế trong việc sử dụng IRR để đánh giá: Chỉ tiêu IRR không thể hiện
được quy mô của dự án do vậy sẽ khó trong việc so sánh giá trị này với các dự án
khác không cùng quy mô. Hơn nữa, trong trường hợp dòng tiền của dự án thay đổi
phức tạp trong vòng đời, có thể có nhiều giá trị IRR cho cùng một dự án.
Tính NPV và IRR của chủ đầu tư: Cán bộ thẩm định có thể tính thêm
chỉ số này để tham khảo về mức độ lợi tức theo quan điểm của chủ đầu tư. Khi tính
các chỉ tiêu này, cần loại bỏ khỏi dòng tiền các yếu tố liên quan đến việc vay vốn
ngân hàng mà chỉ tính trên số tiền vốn tự có mà chủ đầu tư bỏ ra và số tiền chủ đầu
tư thu về hàng năm sau khi đã thanh toán lãi vay và lịch trả nợ hàng năm. Lãi suất
chiết khấu áp dụng là mức lợi tức kỳ vọng của chủ đầu tư.
Thời gian hoàn vốn đầu tư:
Trường hợp nếu thiếu hụt nguồn trả nợ hàng năm thì cần xác định phương
án bù đắp như thế nào?
1.2.3.6. Tính toán độ nhạy của dự án:
Khi tính toán độ nhạy của dự án cần xây dựng các phương án khác nhau có
thể xảy ra trong trường hợp thay đổi doanh thu, chi phí, tăng giảm công suất vận
hành,…
Trong mỗi trường hợp thay đổi, cần tính toán sự thay đổi của các chỉ tiêu
NPV, IRR và khả năng trả nợ. Trên cơ sở đó đanh giá xem dự án nhạy cảm với
những yếu tố nào nhất.
Nên xác đinh mức thay đổi tối đa của các yếu tố đó mà tại đó NPV của dự án
< 0 hoặc dự án không đủ khả năng trả nợ trong thời gian dự kiến.
Nên xác định thêm cả trường hợp hai hay nhiều yếu tố cùng thay đổi cùng
một lúc để xác định sức chịu đựng biến động của dự án.
Lưu ý: việc tính toán độ nhạy của dư án sẽ nhanh hơn nếu khi lập Bảng tính
Excel cho trường hợp cơ bản cán bộ thẩm định đã đặt những công thức tự động, khi
tính độ nhạy của tham số nào chỉ cần thay đối giá trị của tham số đó trên bảng tính. 1.2.4. Phương pháp thẩm định dự án vay vốn
Việc thẩm định tài chính dự án vay vốn có thể được tiến hành bằng nhiều
phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào từng nội dung và yêu cầu cụ thể của dự án
mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp.
Các phương pháp thường được sử dụng tại Ngân hang Techcombank Hai Bà
Trưng là:
1.2.4.1. Phương pháp so sánh đối chiếu các chỉ tiêu
Đây là một phương pháp được sử dụng phổ biến trong công tác thẩm định tài
chính dự án vay vốn ở Ngân hàng Techcombank Hai Bà Trưng vì nó có ưu điểm là
đơn giản. Ở phương pháp này, cán bộ thẩm định sẽ tính toán các chỉ tiêu liên quan
đến dự án và so sánh, đối chiếu chúng với những quy chuẩn của từng ngành thuộc
lĩnh vực của dự án đầu tư hay so sánh với các dự án đầu tư khác đã được thẩm định