LUẬN VĂN:
Giải quyết việc làm trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở
Kiên Giang
PHầN Mở ĐầU
1. Tính cấp bách của đề tài
Nguồn nhân lực là một trong hai nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất của cải
vật chất của mọi xã hội, nếu nguồn nhân lực được quan tâm phát triển đúng mức sẽ là
nguồn tài nguyên vô giá, song nếu nguồn nhân lực đó không được sử dụng tốt, việc làm
không được giải quyết, nạn thất nghiệp gia tăng, trở thành một gánh nặng, một sức ép về
kinh tế, nảy sinh tiêu cực xã hội, thậm chí gây chấn động đất nước.
Chính vì vậy mà các nhà kinh tế tư sản điển hình như John Maynard Keynes, đưa
ra "lý thuyết về việc làm" và coi việc làm là một vấn đề trung tâm của xã hội tư sản hiện
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, hơn lúc nào
hết, nguồn nhân lực được đặt vào vị trí xứng đáng - là nguồn lực cơ bản nhất, quyết định
nhất đối với các nguồn lực khác (vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyên ) Có thể nói,
vấn đề khó khăn nhất hiện nay là muốn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải áp
dụng khoa học công nghệ vào nền sản xuất xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Song, điều đó đang đứng trước thách thức lớn về việc làm. Vì vậy, vấn đề việc làm cho
người lao động được đặt ra không chỉ là một yêu cầu cấp bách, mà còn là chiến lược an
toàn việc làm cho thập niên đầu thế kỷ 21, không chỉ về kinh tế mà còn là vấn đề chính
trị - xã hội, là một vấn đề trong tổng thể các vấn đề chiến lược con người của Đảng và
Nhà nước ta, như Bác Hồ đã dạy: "Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là mục tiêu,
là động lực của mọi cuộc cách mạng" [32,11]. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII Đảng ta đã nhấn mạnh "Bảo đảm công ăn, việc làm cho dân là mục tiêu xã
hội hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành bệnh kinh niên. Nhà nước chú trọng đầu tư
tạo việc làm, đồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người lao động tạo
thêm chỗ làm việc và tự tạo việc làm; khuyến khích các tổ chức và cá nhân cùng Nhà
nước tổ chức tốt dịch vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp" [41,99].
Tỉnh Kiên Giang là miền đất có dân số trẻ, tỷ lệ người trong tuổi lao động cao -
đây là một nguồn nhân lực hết sức quý giá của tỉnh. Song Kiên Giang đang đứng trước
thách thức là: Tốc độ tăng dân số còn cao (2,4%) nên bình quân mỗi năm cần giải quyết
việc làm trên 30.000 lao động, số người thất nghiệp còn lớn: 198.965 người, trong đó
88,34% ở nông thôn, 11,65% ở thành thị, đặc biệt số người thất nghiệp trong độ tuổi từ
15 - 34 chiếm gần 70 %, trong đó lao động ở độ tuổi từ 15 - 24 chiếm 35,35% [42].
Những năm qua, Đảng, chính quyền và các tổ chức xã hội của tỉnh bằng nhiều biện pháp
tích cực nhằm khai thác, phát huy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giải quyết nguồn lao
động quan trọng này, từ đó đã góp phần thực hiện có kết quả các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh, từng bước nâng cao đời sống cho người lao động, giảm đáng kể tỷ lệ
đói nghèo trong nhân dân. Tuy nhiên, vấn đề lao động việc làm của tỉnh vẫn là một trong
Luận án nghiên cứu vấn đề việc làm trong một số ngành kinh tế - dịch vụ cơ bản,
trong độ tuổi lao động của tỉnh Kiên Giang, chủ yếu trong thời kỳ đổi mới kinh tế đất
nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp
kinh tế chính trị, phương pháp thống kê, sơ đồ, so sánh, khái quát để phân tích làm rõ nội
dung chủ đề định ra; Đồng thời khảo sát thực tế, sưu tập tư liệu, số liệu, tình hình về lao
động việc làm từ các cơ quan nghiên cứu, quản lý như: UBND, Sở Lao động - thương
binh và xã hội, Cục thống kê, tỉnh Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công an tỉnh kết hợp
tranh thủ ý kiến của các "chuyên gia" trong lĩnh vực này.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương
Phần Nội DUNG
Chương 1
Theo đánh giá của tổ chức lao động quốc tế (ILO), thế giới ngày nay đang ở
trong tình trạng khủng hoảng thị trường lao động trầm trọng nhất kể từ những năm 30
đến nay. Năm 1994 trên thế giới có trên 120 triệu người thất nghiệp. Song trên thực tế
hiện nay con số đó có thể còn cao hơn nhiều. Tỷ lệ thất nghiệp ở các nước Mỹ, Anh,
Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia trong những năm 80 - 90 mắc từ 7 - 12%, ở Nhật
khoảng 2%, những năm gần đây đã lên trên 3%, Thái Lan 6%, Malayxia 3,5% [30]. Ước
tính, nếu các nước tư bản chủ nghĩa phát triển hiện nay giảm thời gian lao động xuống
còn 30 giờ/tuần, trong đó 10% dùng để đào tạo liên tục, thì có thể đủ việc làm cho mọi
người trong độ tuổi lao động. Nhưng một khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa còn giữ
địa vị thống trị, sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản vẫn là động lực cơ bản của sản
xuất, thì điều đó không thể xảy ra được.
Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 81 của ILO tháng 6/1994 đã nêu: giải quyết việc
làm, chống đói nghèo, phát triển nguồn nhân lực là nội dung chủ yếu của chương trình
hành động của ILO trong thập kỷ từ nay đến năm 2000 [30]. Đồng thời, trong Hội nghị
thượng đỉnh về phát triển xã hội tại Copenhagen (Đan Mạch) vào tháng 3/1995 đã nêu 3
vấn đề được tập trung thảo luận là chống đói nghèo, mở rộng việc làm và hòa nhập xã
hội. Hội nghị đã tuyên bố:
Chúng tôi cam kết thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu có đủ việc làm như một ưu
tiên cơ bản của chính sách kinh tế và xã hội của mình và làm cho mọi người nam cũng
như nữ có một cuộc sống bảo đảm và bền vững thông qua tự do lựa chọn công ăn việc
làm. Hội nghị cũng khẳng định ở cấp quốc gia của các nước cần phải có các giải pháp vĩ
mô về việc làm [30].
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lao động việc làm
Vấn đề con người trong đó có việc làm nằm ở vị trí trung tâm của nhiều hệ thống
quan điểm chính trị - xã hội từ trước đến nay. Bởi vì hơn bao giờ hết, vấn đề nhân tố con
người và khai thác tiềm năng của con người trong quá trình phát triển của xã hội có một ý
nghĩa đặc biệt quan trọng như ngày nay.
hoạt động và phát triển sản xuất. Cách mạng khoa học kỹ thuật (và ngày nay là cách
mạng khoa học - công nghệ) không những không dẫn đến giảm vai trò của con người, mà
còn càng nâng cao chức năng sáng tạo của con người, đề ra cho lao động những yêu cầu
mới cao hơn.
Nói đến lao động là nói đến sự hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải, sản phẩm hàng hóa. Do đó không có
lao động chung chung, trừu tượng - lao động thể hiện ở việc làm. Càng nhiều người lao
động khác nhau, có chuyên môn nghề nghiệp khác nhau càng làm cho cơ cấu lao động cụ
thể, việc làm đa tầng, đa dạng hơn.
Lao động là phương tiện để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của những thu
nhập đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của mọi thành viên và của toàn xã hội. Không có
cá nhân nào lại có quyền trút cho người khác cái nghĩa vụ lao động của mình vốn là điều
kiện tự nhiên của sự sống còn của loài người. Nhưng lao động và việc làm gắn chặt với
hình thái kinh tế - xã hội, chính hình thái kinh tế - xã hội lại chi phối tính chất, cơ chế sử
dụng lao động và việc làm. ở các hình thái kinh tế - xã hội trước, như chế độ chiếm hữu
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, thì người lao động bị bóc lột dưới hình thức này
hoặc hình thức khác, lao động không được quý trọng và vì thế trong nhiều trường hợp
người ta coi thứ lao động là sự bắt buộc, là cái tất yếu để kiếm sống. Còn trong chủ nghĩa
xã hội phải làm sao cho lao động trở thành "nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn
hạnh phúc của chúng ta" [32,12], lao động trở thành sự hứng thú, là phương tiện tự biểu
hiện, tự khẳng định của con người. Lao động, việc làm gắn chặt với nhau trong bản chất,
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội như Bác Hồ đã nói "Không có chế độ nào tôn trọng con
người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn
bằng chế độ xã hội chủ nghĩa" [31,38] và "Chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu nước
mạnh, dân có giàu thì nước mới mạnh" [31,44]. Đó là vấn đề đặt ra cho nền kinh tế nước
ta trong hiện tại và tương lai.
1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm
đã được Đảng ta xác định là nguồn lực "quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối
với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp". Các nguồn lực
khác như vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên - dù có nhiều bao nhiêu cũng
là hữu hạn, nó không có sức mạnh tự thân và sẽ mất đi trong quá trình khai thác của loài
người. Hơn thế, chúng chỉ phát huy tác dụng và có hiệu quả khi có ý thức của con người.
Cho nên, chỉ có con người với trí tuệ và tài năng là tài nguyên vô tận không bao giờ cạn
kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh nếu chúng ta biết nuôi dưỡng, thúc đẩy nó phát
triển. Thông qua quá trình đó, năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
được phát triển. Đó cũng chính là quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin; xem con người là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mọi quá trình biến đổi lịch
sử và cũng đúng với quan điểm của Bác Hồ và của Đảng ta xem con người là "vốn quý
nhất". Quan điểm trên được thể hiện trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội
đến năm 2000, Đảng ta xác định. " Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa năng lực lao động
xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, một tiêu chuẩn để định hướng cơ
cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ " [9,35]. Gần đây, trong mục những chủ trương chính
sách lớn của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng có ghi:
"Tích cực giải quyết vấn đề lao động việc làm. Kết hợp chương trình quốc gia giải quyết
việc làm với từng chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế để tạo ra nhiều chỗ làm mới,
đặc biệt là dự án đầu tư bằng vốn ngân sách và đầu tư của nước ngoài. Khuyến khích phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống, phát triển các ngành nghề
mới ở nông thôn để giải quyết việc làm tại chỗ, hoàn thiện cơ chế quản lý và tăng cường
quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm" [45,80].
1.2. Khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp
1.2.1. Khái niệm về lao động
ở mọi quốc gia đều có sự phân biệt quan niệm về nguồn lao động và nguồn nhân
lực nhằm mục đích để có chính sách và biện pháp hữu hiệu huy động nguồn nhân lực và
nguồn lao động. định như vậy là sát thực tế hơn vì trong khi chưa có được ngay một lúc danh mục toàn
bộ, hoàn chỉnh những ngành nghề và công việc được phép làm, còn danh mục những
ngành nghề và công việc cấm làm thì đã có cụ thể và sẽ được bổ sung dần. Ví dụ: mại
dâm, mua bán ma túy, sản xuất và buôn bán pháo nổ không phải là việc làm vì bị cấm
chính thức theo Nghị quyết 05/CP và 06/CP (năm 1993), nó không phải là nghề mà là
một tệ nạn xã hội. Ngược lại việc làm của những người giúp việc gia đình trước đây chưa
được xã hội tôn trọng, thì nay trở thành việc làm đáng khuyến khích mở rộng và được pháp
luật bảo vệ (điều 139 Bộ Luật lao động)
1.2.3. Khái niệm về thất nghiệp
Theo A. Samuelson: Thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang
chờ để trở lại làm việc hoặc đang tích cực đi xin việc [2, 235].
- Những người có việc làm hoặc không có việc làm đều nằm trong lực lượng lao
động.
Những người đang đi học, trông coi nhà cửa, về hưu, quá đau ốm không đi làm được
hoặc thôi đi làm việc nữa, đó là người nằm ngoài lực lượng lao động.
Từ phân tích trên, A. Samuelson kết luận: Người có việc làm là người đi làm,
người không có việc làm là người thất nghiệp. Những người không có việc làm, nhưng
không tìm được việc làm là những người ngoài lực lượng lao động.
Cùng với khái niệm thất nghiệp, Samuelson cũng đưa ra các loại hình thất
nghiệp: thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp không tự nguyện, thất nghiệp tạm thời, thất
nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ.
Từ khái niệm việc làm, thất nghiệp, các loại thất nghiệp trên có thể khái quát:
Người có việc làm là người đang làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, hoạt động có
ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình,
đồng thời đóng góp một phần cho xã hội. Còn người thất nghiệp được hiểu là những
người không có việc làm đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
Thiếu việc làm cũng có thể hiểu là trạng thái trung gian giữa có việc làm đầy đủ
Hậu quả về mặt kinh tế do thất nghiệp gây ra rất to lớn. Song về mặt xã hội tác
động đó còn lớn hơn nhiều. Những cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy nạn thất nghiệp
dẫn đến sự suy sút cả về thể chất và tâm lý, nghiện rượu, tự tử, các tệ nạn xã hội khác
nhiều hơn. Người nghiên cứu hàng đầu là bác sĩ H. Brenner cho biết hậu quả thất nghiệp
ảnh hưởng rất lớn về mặt xã hội, Ông đã ước tính rằng nếu tăng 1% tỷ lệ thất nghiệp
trong thời kỳ 6 năm thì sẽ làm cho 37.000 người chết sớm [40, 160].
Những công trình nghiên cứu trên chứng minh rằng: thất nghiệp gây ra tổn thất
nặng nề về kinh tế, về người, xã hội và tâm lý rất lớn.
ở Kiên Giang, theo báo cáo của công an tỉnh từ năm 1990 đến năm 1998, trên địa
bàn đã giải quyết và thụ lý 9.284 vụ án thuộc các tội phạm hình sự, kinh tế, ma túy, tệ
nạn xã hội. Trong đó tội phạm hình sự chiếm 67 % tổng số vụ án, có xu hướng ngày càng
tăng và tăng bình quân mỗi năm 5,8 %, thành phần tội phạm có trên 60 % là phạm tội lần
đầu, trong đó có trên 30 % đối tượng không có việc làm ổn định [5, 2].
1.3. Đặc điểm kinh tế-xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm ở Kiên
Giang
1.3.1. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tác động đến lao động
việc làm
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Kiên Giang là một tỉnh lớn nằm ở tận cùng phía Tây Nam Tổ quốc thuộc
vùng đồng bằng Sông Cửu Long, phía Bắc giáp tỉnh bạn Cam Pốt Campuchia có đường
biên giới dài 56 km, phía Đông và Đông Bắc giáp hai tỉnh Cần Thơ và An Giang, phía
Nam giáp tỉnh Cà Mau Bạc Liêu, phía Tây là vùng biển giáp Vịnh Thái Lan, có diện tích
tự nhiên 6.222km
2
với hơn 200km bờ biển, có 608 km hải đảo (chưa kể các hòn khô, vùng
nội thủy, thềm lục địa). Địa hình ở Kiên Giang đa dạng và phức tạp, có đủ đồng bằng, biển
đảo và rừng núi (Nhiều người ví Kiên Giang như một Việt Nam thu nhỏ), phần đất liền
khoáng sản và trữ lượng lớn rất có giá trị như: đá vôi, đất sét (làm xi măng, gạch ngói), đá xây
dựng, cát (làm thủy tinh), than bùn. Ngoài ra ở Phú Quốc còn có đá huyền, Hà Tiên có thạch
anh để làm đồ trang sức mỹ nghệ
1.3.1.2.4. Tiềm năng du lịch
Bên cạnh tiềm năng tài nguyên, Kiên Giang còn có điều kiện thuận lợi để phát
triển du lịch do có nhiều địa danh thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông,
Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, Núi Moso, Mũi Nai, Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, U
Minh, Phú Quốc với nhiều bãi tắm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Đáng
lưu ý Kiên Giang còn có nền văn hóa óc Eo một thời đã là trung tâm giao lưu với bên
ngoài. Ngoài ra du lịch lễ hội cũng là một thế mạnh, hàng năm lễ hội Nguyễn Trung Trực
vào cuối tháng 8 âm lịch cũng thu hút trên 100.000 lượt người.
1.3.1.2.5. Tiềm năng về nhân lực
Năm 1998 dân số Kiên Giang là 1.476.550 người, trong đó nữ 752.612 người, chiếm
50,9%, gồm 3 dân tộc chủ yếu: dân tộc Kinh chiếm 85,60%; Khơmer 12,19%; dân tộc Hoa
chiếm 2,16%; các dân tộc khác chiếm 0,5 %, trong đó dân số nông thôn chiếm 77,67%,
thành thị chiếm 22,33%.
1998, Nguồn lao động (lao động trong độ tuổi) khoảng 851.223 người chiếm
57,6% dân số, trong đó khoảng 84% số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc
dân (711.262); lao động kỹ thuật chiếm 3,5% trong tổng số nguồn lao động.
Đó là những thuận lợi cơ bản về tiềm năng thiên nhiên và những thành quả đạt
được của nền kinh tế. Kiên Giang còn có một yếu tố vật chất vô cùng đặc biệt quan trọng
và phức tạp đã tác động mật thiết với cuộc sống hiện tại và tương lai, đó là lực lượng lao
động, là lực lượng sản xuất cơ bản đầu tiên quyết định sự tăng trưởng của toàn bộ nền
kinh tế.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm đối với nước ta
Đối với Việt Nam, sự phát triển dân số và lao động là những vấn đề kinh tế - xã
hội gay gắt chẳng những trong giai đoạn hiện nay, mà còn trong nhiều năm tới. Dân số
44,06% đến năm 1998 là 25,7% - 32,59 - 41,66%. Điều này hạn chế lớn đến giải quyết
việc làm trong kinh tế thị trường và hòa nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa [13].
Do tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực và trên thế
giới, dẫn đến phát triển kinh tế nước ta bị chững lại. GDP có xu hướng suy giảm làm cho
tình hình thất nghiệp khu vực thành thị ở nước ta còn ở mức cao và đang có xu hướng
tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị từ năm 1994 đến 1996 có xu hướng giảm bình quân
mỗi năm 0,4% nhưng năm 1997 so với năm 1996 lại tăng thêm 0,13%, năm 1998 so với
năm 1997 tăng thêm 0,55% (1996 tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 5,88%, 1997: 6,01%, năm
1998: 6,85%, 1999: 7,4%) [13].
Về cơ bản, nông thôn vẫn là khu vực tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội
(gần 70%). Tuy nhiên, trong nông thôn nạn thiếu việc làm rất nghiêm trọng. Số người
thiếu việc làm tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 15 - 24 (chiếm 32,79%, tiếp đến là nhóm
tuổi từ 25 - 34 (29,39%) và nhóm tuổi 35 - 44 (21,29%) [13]. Tình trạng thiếu việc làm ở
nông thôn chủ yếu là do diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chi phí
sản xuất lại tăng, hiệu quả sản xuất giảm, trong khi đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao
động nông thôn diễn ra chậm chạp. Kinh tế nông thôn vẫn nặng về nông nghiệp (chiếm
70%), trong nông nghiệp vẫn nghiêng về trồng trọt (78%), chủ yếu cây lương thực
(56%). Hiện nay cả nước có 8,1 triệu ha đất nông nghiệp, bình quân 0,68ha/hộ nông
nghiệp, bình quân 1 hộ nông nghiệp chỉ có 0,27 ha (đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng
bình quân 1 lao động nông nghiệp chỉ 600m2) thì nhu cầu lao động ở nông thôn cho nông
nghiệp tối đa chỉ 19 triệu người. Nếu không phát triển mạnh việc làm phi nông nghiệp, sẽ
dư thừa tương đối lao động rất lớn, khoảng 10 triệu [13].
Sự phát triển không đều giữa các vùng đặc biệt là giữa nông thôn và thành phố
lớn, khu công nghiệp tập trung (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, ) dẫn đến dòng người di dân tự phát từ nông thôn vào thành
phố lớn với quy mô và tốc độ ngày càng tăng, nhất là thành phố Hồ Chí Minh thường
xuyên có 7 vạn lao động từ các tỉnh đến tìm việc làm, Hà Nội khoảng 2 vạn Số này vào
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Dân số 1.265
1.296
1.332
1.368
1.399
1.430
1.461
1.491
1.518
0,46
0,48
0,48
Tỷ lệ tăng t
ự nhiên
(%)
2,39
2,34
2,48
2,20
2,13
2,05
1,98
1,89
1,8
Tốc độ tăng dân s
ố
ảnh hưởng đến việc làm và thất nghiệp.
Biểu số 2: Cơ cấu độ tuổi và giới tính
của dân số tỉnh Kiên Giang[35]
Đơn vị: người
Độ tuổi
1995 1996 1997
Nam
Trong đó
nữ
Nam
Trong đó
nữ
Nam
Trong đó
nữ
0 - 4 187.490 91.701 190.222 93.304 194.312 95.427
5 - 9 184.272 89.630 183.356 89.386 180.432 87.690
10 - 14 199.383 98.256 201.950 99.400 197.964 97.200
15 - 59 744.362 401.457 773.043 414.426 805.591 431.526
60 trở
lên
83.670 44.847 81.667 44.371 82.691 45.403
Tổng
cộng
1.399177 725.891 1.430.23
8
740.887 1.460.99
0
757.246
834.41
3
851.22
3
Trong đó: - Mất sức lao động 30.401 31.257 32.425 35.522 34.048
- Có khả năng lao
động
703.93
4
724.12
9
773.25
5
798.89
1
817.17
5
2. Ngoài tuổi có tham gia lao
động
28.520 33.290 36.248 40.904 41.728
- Trên tuổi lao động 14.320 16.890 18.298 20.654 21.070
- Dưới tuổi lao động 14.200 16.400 17.950 20.250 20.658
B. Phân phối lao động 732.45
4
757.41
9
809.50
3
839.79
5
53.998 55.329 63.447 59.805 59.030
6. Vận tải thông tin 7.652 8.082 10.127 12.689 14.226
7. Quản lý nhà nước, ANQP,
Đảng, đoàn thể, các tổ chức
quốc tế
3.858 4.727 4.743 5.175 5.256
8. Giáo dục và đào tạo 9.291 10.122 10.196 12.549 12.873
9. Y tế và cứu trợ 2.270 2.399 2.928 3.159 3.148
10. Khác 4.942 5.064 5.425 7.333 8.439
II. Học sinh đang đi học 59.481 62.515 65.954 68.922 70.308
III. Nội trợ và chưa có việc
làm
66.955 73.949 74.260 83.441 77.333
a. Nội trợ 31.972 39.642 42.561 48.396 42.195
b. Chưa có việc làm 34.938 34.307 31.699 35.045 35.138
Nguồn: Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Kiên Giang
Theo quy định của Bộ Luật lao động, độ tuổi lao động từ 15 - 55 đối với nữ và 15
- 60 đối với nam. Nhưng thực tế nguồn lao động theo số liệu năm 98 bao gồm: Những
người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (817.174) và những người trên và
dưới độ tuổi vẫn tham gia lao động là 41.728 người.
Đến năm 1998, tổng lao động đang làm việc của Kiên Giang là 858.903 người,
so với năm 1994 tăng 126.449 người, chiếm 14,7%, bình quân hàng năm tăng 3% nguồn
lao động.
Như vậy, với số liệu trên cho thấy nguồn lao động trong các năm 1994 - 1998
tăng với tỷ lệ cao. Nguyên nhân chủ yếu là do dân số bước vào độ tuổi lao động cao,
nguyên nhân thứ hai là do tỷ lệ biến động cơ học do số lao động tỉnh ngoài đến Kiên
Giang làm ăn sinh sống (nhất là huyện đảo), vì vậy dẫn đến nguồn lao động các năm qua