LUẬN VĂN: Các giải pháp thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Quảng Bình hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Các giải pháp thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới
doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nhà nước ở tỉnh Quảng Bình hiện nay
mở đầu

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
kinh tế nhà nước mà nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước luôn được coi là một công cụ
quan trọng là lực lượng vật chất để điều tiết và định hướng nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp, hơn 10 năm qua các doanh nghiệp nhà
nước ở Quảng Bình đã có nhiều chuyển biến tích cực, thực hiện vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, mặt tích cực, trong quá trình phát triển

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn không đề cập toàn bộ những vấn đề về sắp xếp, đổi mới trong các doanh
nghiệp nói chung mà chỉ đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về sắp xếp,
đổi mới đối với doanh nghiệp nhà nước. Với thực tiễn quá trình sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 1998 - 2003 để minh họa cho những
vấn đề lý luận được đề cập trong luận văn.
4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước,
vai trò doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường, xu thế tất yếu của việc sắp xếp,
đổi mới doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động và sắp xếp đổi mới của doanh nghiệp nhà
nước của tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua. Từ đó, rút ra ưu điểm tồn tại, chỉ rõ nguyên
nhân của các tồn tại đó.
Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình sắp
xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh
Quảng Bình trong thời gian tới.

5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập quốc tế.
Chương 2: Thực trạng sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Quảng Bình
trong thời gian qua.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước để góp phần nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở Quảng Bình
hiện nay.


hành ngày 20/4/1995 (lần đầu tiên ở Việt Nam) đã đưa ra khái niệm có tính pháp lý về
doanh nghiệp nhà nước như sau:
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp
nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp
quản lý [1].
Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã có một vai trò rất quan trọng trong việc củng
cố và phát triển doanh nghiệp nhà nước, góp phần tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm tính định hướng xã hội của nền kinh tế thị
trường ở nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thời gian qua còn nhiều
doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh yếu, có nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này như những yếu kém về trình độ quản lý, công nghệ thiết bị lạc
hậu trong đó, có một nguyên nhân quan trọng là những vướng mắc về thể chế, chính
sách tổ chức quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước làm cho khu vực doanh nghiệp này
thiếu tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, sau khi Luật doanh nghiệp
nhà nước có hiệu lực thi hành, đã có nhiều văn bản liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp nói chung được ban hành như Luật doanh nghiệp, Luật thuế, Luật thương mại
Trong đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp được đổi
mới hơn so với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, để thực
hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
về sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và tiến tới
hình thành một mặt bằng pháp lý chung cho mọi loại hình doanh nghiệp, Luật doanh
nghiệp nhà nước đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2004, khẳng định:
"Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc
có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn" [15].
1.1.2. Phân loại doanh nghiệp nhà nước


nhất của loại doanh nghiệp nhà nước này là nhà nước tham dự cổ phần, nhờ đó có thể
khống chế chúng. Nhưng doanh nghiệp nhà nước loại này hoạt động kinh doanh theo
nguyên tắc của doanh nghiệp tư nhân, thu lợi nhuận kinh doanh qua cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác, đồng thời, bằng chế độ tham dự, nhà nước có thể triển khai các hoạt
động có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước bao gồm những công trình
cơ sở hạ tầng như ngân hàng, đường sắt, đường bộ, vận tải biển và cũng có thể triển khai
mở rộng vào các ngành công nghiệp mới. Doanh nghiệp nhà nước theo chế độ nhà nước
tham dự ngày càng tỏ ra là loại hình doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả nhất [9], [10].
Dựa theo cấp độ quản lý, doanh nghiệp nhà nước được chia thành:
- Doanh nghiệp nhà nước địa phương (doanh nghiệp địa phương): là những doanh
nghiệp chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh.
- Doanh nghiệp nhà nước Trung ương (doanh nghiệp Trung ương): là những
doanh nghiệp vừa chịu sự quản lý về mặt hành chính của các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh
cũng đồng thời chịu sự quản lý và chi phối trực tiếp trực tiếp của các cơ quan quản lý cấp
trên theo ngành dọc như các Tổng công ty (Tổng công ty Điện lực), các liên hiệp xí nghiệp
(liên hiệp xí nghiệp đường sắt), các Cục, Tổng cục…
1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước mà nòng cốt là các doanh
nghiệp nhà nước và hệ thống thể chế kinh tế vĩ mô luôn được xác định là hai công cụ quan
trọng để Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân, dẫn dắt
nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trên
các mặt chủ yếu sau:
Doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất quan trọng, góp phần để kinh tế nhà nước thực
hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là động lực thúc đẩy phân bố lại dân cư
theo hướng công nghiệp hóa, hình thành các trung tâm kinh tế văn hóa, đô thị mới, trang bị

lại kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đào tạo bồi dưỡng cán

trọng trong nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ
đạo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.1.4. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Là một loại hình trong cộng đồng các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước có các đặc trưng chung như mọi doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như:
- Là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định nhằm thực hiện các mục đích hoạt động kinh doanh.
- Chức năng của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ,
trao đổi, hợp tác và tiêu thụ sản phẩm.
- Mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi ích kinh tế, trước hết là
mục đích sinh lợi.
- Tư cách pháp nhân của doanh nghiệp là điều kiện cơ bản, quyết định sự tồn tại
của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Ngoài những đặc điểm chung kể trên, các doanh nghiệp nhà nước cũng có những
đặc điểm riêng, đó là:
- Chủ sở hữu tài sản, tiền vốn trong doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước dưới hình
thức sở hữu toàn dân. Do vậy, các doanh nghiệp nhà nước thường phải chịu áp lực quản lý
hoặc điều tiết của Chính phủ như giá bán, nguồn cung cấp nguyên liệu, họ không được chủ
động hoàn toàn trong việc lựa chọn các mặt hàng kinh doanh và phương án đầu tư. Hơn
thế, các doanh nghiệp nhà nước thường chịu sự chi phối của không chỉ một cơ quan chủ
quản, mỗi cơ quan lại có một yêu cầu riêng về quản lý, vì vậy một quyết định có tính chiến
lược kinh doanh thường được triển khai chậm, có khi còn mất cả cơ hội do phải trình duyệt
qua nhiều cửa, nhiều cấp quản lý.
- Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngoài mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, vẫn
có một số trường hợp lợi nhuận không phải là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất (như đối
với doanh nghiệp hoạt động công ích). Vì ngoài việc đầu tư phát triển để thu được lợi

nhuận tối đa, các doanh nghiệp nhà nước đôi khi còn phải đầu tư vào các chương trình phù
hợp với kế hoạch quốc gia hoặc hy sinh lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội.

việc làm, đầu tư phát triển, khen thưởng, phúc lợi. Nhưng theo số liệu báo cáo năm 2003 của
Bộ Tài chính, trong tổng số 4.800 doanh nghiệp nhà nước thì số doanh nghiệp kinh doanh có
lãi chiếm 77,2% (nếu tính theo chỉ tiêu hiệu quả chỉ chiếm 56%); số doanh nghiệp bị lỗ chiếm
13,5% (nếu tính đủ khấu hao giá trị tài sản cố định thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ còn lớn
hơn), số còn lại là những doanh nghiệp nhà nước chưa có hiệu quả, nằm trong tình trạng khi lỗ,
khi lãi và nếu có lãi cũng chỉ là tượng trưng.
Về khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước rất yếu kém, biểu hiện rõ
nhất là chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh yếu kém ngay tại thị trường nội địa, có nhiều
ngành, sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước đang được bảo hộ tuyết đối (ưu đãi, độc
quyền) hoặc bảo hộ qua hàng rào thuế quan, trợ cấp (qua ưu đãi tín dụng và bù lỗ, miễn
thuế…) nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa chứng tỏ khả năng cạnh tranh của
mình, thậm chí nhiều doanh nghiệp lại cố gắng luận chứng để Nhà nước tăng cường các
biện pháp bảo hộ mạnh hơn để duy trì việc làm và thị phần. Theo số liệu nghiên cứu gần
đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, các mặt hàng như thép, xi măng, phân bón, đồ
điện dân dụng, kính xây dựng, sứ xây dựng, xe đạp, động cơ nổ đều được bảo hộ bằng cả
công cụ thuế quan và phi thuế quan dẫn đến giá trên thị trường Việt Nam cao hơn giá quốc
tế từ 10-50% tùy mặt hàng. Khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhà nước thể
hiện ngay trên thị trường nội địa: ở những ngành có khả năng sinh lợi, thị phần của các
doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm sút nhường chỗ cho khu vực đầu tư nước ngoài
và khu vực ngoài quốc doanh, khả năng cạnh tranh kém của các doanh nghiệp nhà nước
trong điều kiện Việt Nam đã và đang thực hiện cam kết hội nhập quốc tế có nguy cơ dẫn
đến tình hình Nhà nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai để trợ cấp, duy trì các
doanh nghiệp nhà nước.
Tình trạng công nợ của doanh nghiệp nhà nước hiện nay là khá nghiêm trọng, nợ quá
hạn, nợ khó đòi có xu hướng ngày càng tăng. Trong số 15,1% nợ quá hạn ngân hàng
thương mại thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 64,8%, gây khó khăn lớn đến hoạt động của
ngân hàng. Theo Báo cáo của Bộ Tài chính đến hết năm 2003, tổng số nợ phải trả lên tới

207.778 tỷ đồng (tăng 10% so với năm 2002), trong đó nợ quá hạn là 10.716 tỷ đồng, nợ khó
đòi là 2.748 tỷ đồng, tỷ lệ nợ này không phải là cao so với các nước trên thế giới nhưng khả

Sự chồng chéo, trùng lặp về ngành nghề, về sản phẩm trong khi thị trường còn
chưa được phát triển và sức mua của nhân dân chưa cao đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh
không lành mạnh. Đầu tư dàn trải trong khi nguồn vốn rất hạn hẹp, quan hệ cung cầu luôn
không cân đối.
Thứ ba, trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, đầu tư đổi mới công nghệ chậm đã
hạn chế khả năng cạnh tranh và hội nhập của các doanh nghiệp.
Theo thống kê của Bộ Công nghiệp thì các doanh nghiệp nhà nước được trang bị
máy móc thiết bị từ nhiều nước khác nhau (26% của Liên Xô cũ, 25% của các nước Đông
Âu, 20% của các nước ASEAN và Bắc Âu, trên 18% là các nước khác, còn trong nước chỉ
chế tạo chưa đến 12%) và thuộc các thế hệ khác nhau. Theo kết quả khảo sát 727 thiết bị
và 3 dây chuyền nhập khẩu của 42 cơ sở của một ngành do Viện Khoa học Bảo hộ lao
động thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiến hành gần đây thì đến 76% thiết bị
máy móc nhập khẩu thuộc thế hệ những năm 50 - 60, trên 70% đã hết khấu hao, gần 50%
được tân trang lại.
Theo tài liệu của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường qua khảo sát nhiều
doanh nghiệp thuộc 7 ngành thì máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất lạc hậu so với thế
giới từ 20 đến 30 năm, trình độ cơ khí hóa, tự động hóa dưới 10%, mức độ hao mòn hữu
hình từ 30 đến 50%; có 38% tài sản cố định ở dạng thanh lý; 52% qua bảo dưỡng, sửa
chữa, hậu quả là chưa tạo ra được các sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao.
Một số mặt hàng như cơ khí, sắt thép, xi măng, phân bón, kính xây dựng có mức giá cao
hơn hàng nhập cùng loại từ 20 đến 40% [6], [3].
Thứ tư, tình trạng thiếu việc làm và lao động dôi dư trong các doanh nghiệp nhà
nước đang là một khó khăn lớn, ảnh hưởng đến việc đẩy nhanh quá trình đổi mới và phát
triển doanh nghiệp nhà nước.
Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì hiện nay số lao động
không có việc làm trong doanh nghiệp nhà nước khoảng 6% nhưng trong thực tế nhiều
doanh nghiệp nhà nước có số lao động quá lớn so với yêu cầu như ở Tổng Công ty Than

Việt Nam, Công ty Gang Thép Thái Nguyên, các nhà máy xi măng địa phương… Số lao
động không có việc làm ở các địa phương chiếm tỷ lệ cao hơn, tiếp đến là ở các Bộ, ngành

Những mặt hạn chế, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước nêu trên xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Có thể khái quát một số nguyên nhân chủ yếu sau:
* Nguyên nhân khách quan
Những vấn đề tồn tại của doanh nghiệp nhà nước có nguyên nhân khách quan là
trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, cơ chế mới đang hình thành, cơ chế cũ chưa được
xóa bỏ triệt để và nhiều vấn đề do lịch sử để lại nặng nề không thể giải quyết được trong
một sớm một chiều.
Trừ một phần nhỏ số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn đổi mới, còn đa
phần các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam là kế thừa từ thời bao cấp với các đặc
trưng như công nghệ kỹ thuật lạc hậu, không có nguồn thay thế. Nguồn vốn khấu hao để
tái sản xuất giản đơn cũng chưa đủ do chế độ trích nộp khấu hao vào ngân sách nhà nước
những năm trước đây. Lao động vừa thiếu (thiếu lao động lành nghề), vừa thừa (thừa lao động
không đáp ứng yêu cầu công việc) song chưa có cơ chế giải quyết. Cơ cấu doanh nghiệp
nhà nước không hợp lý, không có khả năng tự đổi mới công nghệ cũng như ngành nghề
Để thoát khỏi tình trạng đó, chúng ta cũng không thể dùng giải pháp phá đi làm lại
bởi năng lực sản xuất của đất nước và đời sống của nhiều con người trông cậy vào đây mà
chỉ có thể dùng biện pháp gỡ rối dần dần, vừa cải tổ, vừa ổn định kinh tế và xã hội, chính
vì thế hiệu quả của hệ thống doanh nghiệp nhà nước chưa thể cải thiện nhanh.
* Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, chưa nhận thức thống nhất và đầy đủ nội dung đổi mới và phát triển
doanh nghiệp nhà nước; trong tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết, không triệt để và chưa
có giải pháp, chính sách cụ thể phù hợp với yêu cầu đổi mới và phát triển doanh nghiệp
nhà nước.
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vị trí quan trọng của doanh nghiệp nhà
nước chưa được nhận thức đầy đủ và thống nhất đã gây khó khăn lúng túng khi định
hướng và thực hiện các biện pháp đổi mới doanh nghiệp nhà nước nhất là các biện pháp về

sắp xếp, đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp nhà nước. Quá trình sắp xếp vẫn còn mang tính
chất hành chính, chưa gắn với cơ chế điều chỉnh của thị trường, với Luật phá sản, chưa
quan tâm đầy đủ đến yếu tố chất lượng, hiệu quả và khả năng hội nhập nên kết quả còn

Chính sách thuế tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều điểm bất hợp
lý, chưa ổn định, chưa chú trọng đầy đủ đến việc nuôi dưỡng nguồn thu và phát triển sản
xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tích lũy vốn. Chế độ kế toán chưa tạo
điều kiện và bắt buộc doanh nghiệp nhà nước hạch toán đúng kết quả kinh doanh; phân
phối thu nhập chưa tạo được động lực mạnh mẽ cả đối với người quản lý và người lao
động; chính sách tiền lương và phân phối lợi nhuận để lại doanh nghiệp chưa gắn chặt với
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhiều cơ chế, chính sách tài chính không còn phù hợp với
cơ chế thị trường nhưng chưa được sửa đổi, chẳng hạn như: quỹ dự phòng rủi ro, quỹ dự
phòng thất nghiệp…
Về quản lý nhà nước, chưa phân định rõ ràng các loại quyền như: quyền quản lý
của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; quyền của cơ quan nhà nước với tư cách là
chủ sở hữu; quyền của đại diện chủ sở hữu trực tiếp đối với doanh nghiệp; quyền sử dụng
vốn và quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt, cơ chế thực thi sở hữu nhà
nước vẫn tỏ ra chưa hiệu quả do một mặt, chúng ta thừa nhận quyền tự chủ khá rộng rãi
của doanh nghiệp, nhưng mặt khác vẫn còn tồn tại chế độ chủ quản hành chính trước kia
như: duyệt dự án đầu tư mới, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt, kiểm tra theo chức năng của cơ
quan chủ quản… đã dẫn đến tình trạng doanh nghiệp vừa làm vừa lo, còn cơ quan quản lý
nhà nước vẫn thích can thiệp quá nhiều vào công việc của doanh nghiệp mà không phải
chịu trách nhiệm.
Ngoài ra, cải cách hành chính còn tiến hành chậm, chưa theo kịp đòi hỏi thực tiễn
của tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước, việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý
nhà nước đối với doanh nghiệp còn hạn chế, còn gây nhiều phiền hà cho doanh nghiệp,
chưa phát huy đầy đủ quyền tự chủ, tính năng động của doanh nghiệp nhà nước trong cơ
chế thị trường.
Thứ ba, sự chậm trễ trong việc thực hiện chủ trương đa dạng hóa sở hữu và cổ
phần hóa, chưa tạo được cơ chế quản lý năng động có hiệu quả và đã làm hạn chế các

kênh huy động vốn của xã hội cho yêu cầu bù đắp phần thiếu hụt vốn đầu tư của Nhà nước
cho doanh nghiệp nhà nước và chậm khắc phục có hiệu quả tình trạng trì trệ và thiếu trách
nhiệm trong lao động, quản lý sử dụng vốn của nhà nước.

một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập
đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các Tổng Công ty Nhà nước, có sự tham gia của
các thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở
hữu đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không nhất thiết nắm giữ 100%
vốn; giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước
không cần nắm giữ; sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động
không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên [5].
Mục tiêu của việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước
trong những năm tới là:
- Xây dựng doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh góp phần chủ yếu để kinh tế nhà
nước làm tốt hơn vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ
nghĩa.
- Làm cho doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý, hoạt động có hiệu quả và có
sức cạnh tranh cao, chiếm được thị phần lớn trong các ngành và lĩnh vực kinh tế then chốt
để Nhà nước chi phối, điều khiển được nền kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các
cân đối lớn của nền kinh tế.
- Làm nòng cốt đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và xây dựng công nghiệp sản
xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp sản xuất công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Bảo đảm được nhu cầu cần thiết cho an ninh, quốc phòng và các sản phẩm dịch
vụ công ích thiết yếu cho xã hội.
Từ những mặt tồn tại, yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua
và những phương hướng mục tiêu đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những
năm tới để doanh nghiệp nhà nước khắc phục được tình trạng phân tán, manh mún, kinh
doanh kém hiệu quả, thực sự phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đòi hỏi phải
đẩy mạnh việc tổ chức sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, trong đó việc đẩy mạnh các

giải pháp cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước không cần
nắm giữ hình thức sở hữu nhà nước là vấn đề vừa có tính thời sự cấp bách, vừa có ý nghĩa
lâu dài đối với việc đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước.

thời gian đạt được sự tăng trưởng nhanh hơn; khả năng tiết kiệm các chi phí trong đào tạo
nguồn nhân lực; tiết kiệm các chi phí cố định; rút ngắn thời gian kiểm soát và chiếm lĩnh
thị trường chính vì vậy, sáp nhập hoặc hợp nhất doanh nghiệp cũng là một con đường có
thể lựa chọn để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.
Giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp nhà nước là giải pháp chấm dứt sự tồn tại của
một doanh nghiệp, song nguyên nhân và cách thức thực hiện giữa chúng lại có sự khác biệt
nhất định.
Một doanh nghiệp nhà nước có thể bị giải thể và chấm dứt sự tồn tại pháp nhân
của mình trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn hoạt động ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp mà doanh
nghiệp không xin gia hạn.
- Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài song chưa lâm vào tình trạng mất khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
- Doanh nghiệp không thực hiện được các nhiệm vụ do Nhà nước quy định sau khi
đã thực hiện các biện pháp cần thiết.
- Việc tiếp tục duy trì doanh nghiệp nhà nước là không cần thiết.
Khác với giải thể doanh nghiệp, việc phá sản doanh nghiệp là việc chấm dứt sự
tồn tại của doanh nghiệp và thực hiện theo luật về phá sản doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp bị phá sản nếu doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài, sau khi đã áp dụng các
biện pháp cần thiết để khôi phục doanh nghiệp mà vẫn hoàn toàn mất khả năng thanh toán
các khản nợ đến hạn, tổng số nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
1.3.2. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh
nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu) đồng thời chuyển doanh

nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp hoạt động
theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một xu thế khách quan, một biện pháp
quan trọng để tổ chức lại khu vực doanh nghiệp nhà nước khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường. Có thể nêu ra một số căn cứ sau đây:

1.3.3. Giao doanh nghiệp nhà nước
Giao doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp nhà nước và tài sản nhà
nước tại doanh nghiệp thành sở hữu của tập thể người lao động có điều kiện ràng buộc
[12].
Đối tượng được giao doanh nghiệp là tập thể người lao động trong doanh nghiệp
do Ban chấp hành Công đoàn đại diện hoặc người được đại hội toàn thể công nhân viên
chức trong doanh nghiệp bầu làm đại diện tự nguyện đăng ký nhận giao.
1.3.4. Bán doanh nghiệp nhà nước
Bán doanh nghiệp nhà nước là sự chuyển đổi sở hữu toàn bộ giá trị tài sản của một
doanh nghiệp nhà nước sang cho các pháp nhân hoặc thể nhân khác [12].
Căn cứ vào quyết định phê duyệt bán doanh nghiệp của cấp có thẩm quyền, giám
đốc doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho toàn thể người lao động trong doanh
nghiệp và trên các phương tiện thông tin đại chúng để đăng ký danh sách người mua doanh
nghiệp.
Đối tượng được mua doanh nghiệp có thể là tập thể, cá nhân hoặc các pháp nhân
kinh tế có nhu cầu mua doanh nghiệp. Nếu chỉ có một người đăng ký mua thì doanh
nghiệp được bán theo phương thức trực tiếp. Trường hợp có từ hai người đăng ký mua trở
lên thì phải bán doanh nghiệp theo phương thức đấu thầu, giá bán doanh nghiệp được căn cứ
vào giá trị thực tế của doanh nghiệp được người mua và người bán doanh nghiệp chấp nhận,
các vướng mắc về tài sản, tài chính của doanh nghiệp được bên bán xử lý trước khi bán
doanh nghiệp.

1.3.5. Khoán kinh doanh doanh nghiệp nhà nước
Khoán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước là phương thức quản lý doanh
nghiệp nhà nước mà bên nhận khoán được giao quyền quản lý doanh nghiệp, đồng thời có
nghĩa vụ thực hiện một số chỉ tiêu, bảo đảm các điều kiện và được hưởng các quyền lợi
theo hợp đồng khoán [12].
Nội dung, các chỉ tiêu và điều kiện khoán kinh doanh được bên giao khoán quy
định và được bên nhận khoán chấp nhận căn cứ vào đặc điểm của từng ngành và kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở xem xét các yêu cầu về bảo toàn vốn nhà nước;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status