LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp tăng
cường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Vĩnh Phúc Mở đầu
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều hàng hoá và dịch vụ, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều kiện
cần thiết và quan trọng nhất là phải thu hút được các nguồn vốn đầu tư trong nước cũng
như của nước ngoài. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định vốn
trong nước là quyết định nhưng vốn đầu tư nước ngoài cũng có vai trò hết sức quan
trọng. Hơn nữa ngoài ý nghĩa về vốn, thì đầu tư trực tiếp nước ngoài còn giúp cho chúng
ta tiếp thu các công nghệ hiện đại và những kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, có tham chiếu, so sánh
với một số địa phương điển hình khác
+ Về thời gian: Giai đoạn 1997 - 2004
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận nghiên cứu là
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Tác giả sử dụng phối hợp phương pháp
thống kê, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp phân tích tổng hợp, và phương pháp
so sánh để phân tích, đối chiếu, xử lý số liệu, tình hình và khái quát thành những luận
điểm có căn cứ và lý luận thực tiễn.
Tác giả cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có bổ sung những số liệu mới theo
thực tiễn nghiên cứu của đề tài, nhằm làm cho luận văn rõ ràng có tính khoa học và logic
hơn.
5. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận về thu hút FDI, vai trò của FDI đối
với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc
- Trên cơ sở kinh nghiệm của một số địa phương trong thu hút FDI rút ra những
bài học cho thu hút FDI ở tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong thu hút FDI vào địa phương, và vận dụng
vào thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường
thu hút FDI vào tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương như
sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thu hút FDI
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI ở Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào tỉnh
phần cơ sở đó. Hay nói cụ thể các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối
thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo luật đầu tư của mỗi nước, từ đó chủ đầu tư nước ngoài
có quyền tham gia vào việc quản lý và điều hành dự án đầu tư. Quyền quản lý dự án đầu
tư phụ thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên. Nếu bên nước ngoài góp 100% vốn thì
doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý, nhưng doanh
nghiệp đó vẫn phải hoạt động tuân theo pháp luật nước sở tại. Lợi nhuận của các chủ đầu
tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả của hoạt động kinh doanh và được chia
theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định. Mức lợi nhuận này nói chung là tương đối cao
nhưng cũng chịu sự rủi ro tương đối lớn. FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng
doanh nghiệp mới, mua lại từng phần hay toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc
mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau. Trên thực tế phần
lớn FDI được thực hiện dưới dạng các công ty con hoặc các công ty liên doanh của các
công ty xuyên quốc gia, đó là những công ty giữ vai trò chủ động trong quá trình đầu tư
này. Do đó FDI có thể được định nghĩa là sự mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất kinh
doanh của các công ty xuyên quốc gia trên phạm vi quốc tế. Sự mở rộng đó bao gồm
chuyển giao vốn, công nghệ và các kỹ năng sản xuất, bí quyết quản lý tới nước tiếp nhận
đầu tư để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh theo kế hoạch của dự án đầu tư.
Nói chung FDI là một hoạt động quan trọng trong đầu tư quốc tế, nó ngày càng trở
nên hết sức sôi động với quy mô ngày càng gia tăng. Đồng thời trên thế giới cũng đang
diễn ra những sự thay đổi lớn cả về lĩnh vực đầu tư, về chủ đầu tư, về nơi tiếp nhận đầu
tư cũng như nhiều hình thức đầu tư trực tiếp mới v.v. Để tìm hiểu sâu hơn về FDI chúng
ta cần nghiên cứu về các hình thức cơ bản của FDI.
1.1.2. Các hình thức của FDI
Trên thế giới có nhiều hình thức tổ chức FDI khác nhau nhưng những hình thức
được áp dụng phổ biến là:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hay còn gọi là hợp đồng hợp tác kinh
doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Việt Nam tham gia góp vốn pháp định bằng tiền Việt Nam, tiền nước ngoài, giá trị quyền
sử dụng đất đai, các nguồn tài nguyên, thiết bị máy móc nhà xưởng, công trình xây dựng,
giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ
thuật.
Nói chung các nước nhận đầu tư thường ưa chuộng hình thức này bởi vì ngoài
mục tiêu tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển nước chủ nhà còn có điều kiện tiếp thu được
kỹ thuật, công nghệ mới, học tập được kinh nghiệm quản lý, đào tạo đội ngũ lao động và
tiếp cận thị trường quốc tế. Song nước chủ nhà cũng cần phải đáp ứng được những điều
kiện về vốn, trình độ quản lý doanh nghiệp cùng với người nước ngoài thì mới đảm bảo
được hiệu quả mong muốn.
* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đây là hình thức đầu tư trong đó bên nhận đầu tư không góp vốn, toàn bộ vốn là
do bên nước ngoài bỏ ra nhưng bên nhận đầu tư chịu trách nhiệm cung cấp cho bên nước
ngoài các dịch vụ cần thiết như điện, nước và cho thuê đất đai, cho thuê sức lao động
Doanh nghiệp này thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức hoặc cá
nhân người nước ngoài) được thành lập dưới hình thức công ty TNHH, có tư cách pháp
nhân theo luật pháp của nước chủ nhà. Loại hình doanh nghiệp này do một hay nhiều tổ
chức hoặc cá nhân người nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, họ tự đứng ra quản lý, tổ
chức điều hành sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh cuối
cùng.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các chủ đầu tư lựa
chọn nhiều hơn vì họ được tự mình quản lý, điều hành và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu
tư mang lại sau khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế với nước chủ nhà. Đối với nước chủ
nhà, nhất là những nước đang phát triển do trình độ và kinh nghiệm quản lý còn hạn chế,
nguồn vốn có hạn trong khi đó rất cần những dự án có số vốn đầu tư lớn, thời hạn thu hồi
vốn dài mức độ mạo hiểm cao thì việc để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn là
rất cần thiết.
Hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài còn có một vài dạng đặc biệt như
+ BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
trực tiếp nước ngoài ngày càng lớn; cơ cấu đầu tư chủ yếu tập trung vào các ngành dầu
khí, công nghiệp và dịch vụ. Các nước tư bản phát triển ngày càng đầu tư vào Việt Nam
nhiều hơn. Sự gia tăng nhanh chóng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn đối
với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, làm cho nền kinh tế Việt Nam ngày càng
ổn định, tăng trưởng, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, mở rộng và làm vững chắc
hơn quan hệ kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới, tạo
đà cho những bước tiến lớn hơn ở giai đoạn tiếp theo.
Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam được thể hiện như
sau:
* FDI tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam. Vốn cho đầu tư phát triển, bao gồm nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển nói chung và với
Việt Nam nói riêng khi mà sản xuất còn ở trình độ thấp, nguồn vốn viện trợ của các nước
XHCN không còn nữa, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn eo hẹp, các DNNN gặp nhiều
khó khăn, vốn tiềm ẩn trong dân chưa được huy động nhiều, vốn ODA còn hạn hẹp thì
nguồn vốn FDI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước.
Xét về mặt định tính, sự hoạt động của nguồn vốn FDI như là một trong những
động lực gây phản ứng dây chuyền làm thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước.
Một số chuyên gia kinh tế tính toán rằng cứ 1 đồng vốn FDI hoạt động sẽ làm cho 4 đồng
vốn trong nước hoạt động theo. Như vậy FDI còn có vai trò giúp cho Việt Nam phát triển
một nền kinh tế cân đối, bền vững theo yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
* Nguồn vốn FDI đóng góp tích cực và ngày càng lớn vào duy trì nhịp độ tăng trưởng
cao và ổn định nền kinh tế. Khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý , luôn là khu vực năng
động nhất của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao (khoảng 20% năm) đặc
biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Chẳng hạn, năm 2004 tốc độ tăng giá trị sản xuất công
nghiệp của khu vực trong nước là 22,3% thì của khu vực FDI là 38,2%. Nói chung hoạt
động của khu vực FDI đạt hiệu quả cao, do đó doanh thu hàng năm của khu vực này đạt
cao và đóng góp vào GDP ngày càng tăng: Năm 1997 tỷ trọng trong GDP là 9,07%, năm
năm 2004 chiếm 53,25%.
Trong nội bộ ngành công nghiệp, xuất hiện một số ngành mà nếu như không có
FDI thì chúng ta không có điều kiện phát triển. Hiện nay có 8 ngành hàng công nghiệp
trong đó các doanh nghiệp FDI chiếm xấp xỉ 100% sản phẩm (dầu khí, ô tô, đèn hình,
tổng đài điện thoại, tủ lạnh ), ngoài ra còn có một số ngành hiện đại mà khu vực FDI
chiếm trên 50% sản phẩm như thép, kính xây dựng Sự phát triển các lĩnh vực này làm
cho nền kinh tế được chuyển dịch theo xu hướng tích cực.
Đối với ngành nông nghiệp, FDI với trên 200 dự án còn hiệu lực đã góp phần nâng
cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều cây
giống, con giống, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy quá trình đa
dạng hoá sản xuất nông nghiệp cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm
nông, lâm sản.
* FDI đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn
nhân lực, nâng cao sức mua trong nước.
Tính đến cuối năm 2004, các doanh nghiệp có vốn FDI đã thu hút khoảng 73 vạn
lao động trực tiếp là người Việt Nam. Bên cạnh đó còn có hàng chục vạn lao động gián
tiếp thông qua các hợp đồng xây dựng, cung ứng dịch vụ có liên quan đến các dự án FDI.
Hơn thế nữa số lao động làm trong hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh lại tính vào
cán bộ công nhân viên của khu vực kinh tế Nhà nước, do đó, tổng số lao động làm việc
liên quan đến các dự án FDI có thể lên đến hàng vạn người.
FDI tạo điều kiện cho người lao động thích nghi với điều kiện lao động mới, góp
phần làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, tạo nên một thị trường lao động với đầy đủ
các yếu tố cung cấp và cạnh tranh. Qua đó thúc đẩy sự quan tâm của xã hội đối với sự
nghiệp giáo dục, đào tạo, làm chuyển đổi cơ cấu lao động và hình thành đội ngũ lao động
lành nghề. Đồng thời FDI tạo điều kiện cho người lao động Việt Nam tiếp thu công nghệ
hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, rèn luyện tác phong kỷ luật và kỹ năng lao động
công nghiệp, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường.
Thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp FDI cao hơn đáng kể so với các
khu vực khác, khoảng 30% đến 50% tuỳ thuộc từng ngành nghề trong khu vực FDI, mức
tài chính. Bởi đứng về lợi ích riêng của nhà đầu tư thì hiệu quả cao nhất là lợi nhuận thu
được, nên họ chú ý đến những vấn đề thiết thực như doanh thu, chi phí thuế, tiền thuê
đất , trong khi đó Nhà nước khuyến khích một hay nhiều dự án FDI không chỉ căn cứ
vào hiệu quả tài chính, mặc dù đó là một nhân tố làm tăng nguồn thu của ngân sách Nhà
nước, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế. Nhưng điều phải quan tâm nhiều hơn
để đánh giá một dự án FDI là hiệu quả kinh tế xã hội của nó và cần phải lấy hiệu quả kinh
tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương hướng, lựa chọn các dự án và tính
chất công nghệ
Trong điều kiện kinh tế xã hội của đất nước kém phát triển như hiện nay, chỉ tiêu
hiệu quả kinh tế xã hội của FDI nhìn tổng thể phải đáp ứng các yêu cầu: vốn, công nghệ,
tri thức và kinh nghiệm quản lý sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm và tăng thu
nhập cho người lao động, giải quyết thị trường tiêu thụ cho sản phẩm. Tuy nhiên, điều đó
không có nghĩa là các chỉ tiêu trên đều nhất thiết phải được hội tụ đủ trong một dự án cụ
thể, trong điều kiện các địa phương của nước ta, trước mắt có lẽ nên coi trọng mục tiêu
tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm số người thất nghiệp và nâng cao đời sống
nhân dân ở các địa phương. Điều đó có nghĩa là trong mối tương quan thu hút vốn và
công nghệ của FDI thì tạm thời chúng ta phải chấp nhận thực tế là chưa thể có điều kiện
tự do lựa chọn công nghệ tiên tiến như ý muốn. Hơn nữa, lao động được coi là một vấn
đề quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương và của toàn đất nước,
việc tạo ra công ăn việc làm cũng là biện pháp hữu hiệu tích luỹ cho công nghiệp hoá,
cho mua sắm công nghệ, tạo đà cho kinh doanh phát triển .
Rõ ràng là mỗi địa phương đều có chiến lược và quy hoạch phát triển KT-XH
riêng phù hợp với điều kiện của địa phương mình. Trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế
hiện nay việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được các địa phương xác định là
vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển. Tuy nhiên không thể lựa chọn
tràn lan các dự án đầu tư mà phải chọn lọc các dựa án phù hợp, có khả năng phục vụ cho
chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, thường là các dự án đó
phải đáp ứng được các vấn đề như: có tạo ra công ăn việc làm cho người dân không, có
điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật ổn định không, có mang lại những tiến bộ khoa học
gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một yếu tố chủ yếu cấu thành tính hấp
dẫn của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính sách thuế và những ưu đãi tài
chính sẽ tiếp tục hoàn thiện theo hướng có hệ thống, ổn định và thích hợp với các nước
trong khu vực. Loại bỏ những hạn chế do chính sách thuế và những ưu đãi tài chính gây
ra. Phát huy tích cực tác dụng của chính sách thuế và ưu đãi tài chính đối với các nhà đầu
tư.
- Chính sách cải cách hành chính: Đẩy mạnh cải cách hành chính liên quan đến
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý và tổ chức
quản lý theo hướng một cửa, một đầu mối ở trung ương và địa phương để tạo thuận lợi
cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các bộ, ngành, địa phương quy định rõ ràng
công khai các thủ tục hành chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục hành chính không
cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm khắc các trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, tiêu cực
và vô trách nhiệm của cán bộ công quyền.
Các địa phương muốn thu hút ngày càng nhiều FDI cần phải chấp hành đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế của
mình. Bên cạnh đó các địa phương cũng cần không ngừng cố gắng cải thiện môi trường
đầu tư của mình, cần xác định thông qua FDI mà địa phương có thể nhận được công nghệ
và kỹ thuật tiên tiến, tiếp thu được kinh nghiệm quản lý tốt, tìm kiếm được các thị trường
bên ngoài Việt Nam , nhưng không được vì thế mà ỷ lại vào FDI mà không khai thác
tối đa các lợi thế bên trong. Hơn nữa FDI chưa thể tự nó quyết định sự thành công của
mục tiêu phát triển kinh tế, mà nó phải được kết hợp đồng bộ với các nguồn vốn khác
như: ODA, nguồn vốn huy động rộng rãi trong nước. Có thể nói sự ổn định môi trường vĩ
mô là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Đối với nước ngoài, điều
này càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Để thu hút được vốn đầu tư nước ngoài,
nền kinh tế nội địa phải là nơi an toàn cho sự vận động của đồng vốn đầu tư, sau đó là nơi
có năng lực sinh lợi cao hơn những nơi khác, sự an toàn vốn đòi hỏi môi trường vĩ mô ổn
định không gặp những rủi ro do các yếu tố chính trị xã hội gây ra. Kinh tế địa phương là
một bộ phận của nền kinh tế nước ngoài, các địa phương cũng phải tạo môi trường đầu tư
ổn định, có mức sinh lợi cao và đặc biệt là hạn chế tối đa rủi ro đầu tư.
những tiến bộ khoa học kỹ thuật. Vì vậy trong quá trình hợp tác đầu tư các bên cần phải
hết sức cân đối lợi ích của nhau để tránh mâu thuẫn, xung đột. Bên Việt Nam không nên
chỉ vì lợi ích của mình mà không xét đến những mặt trái của các dự án đầu tư, những vấn
đề có hại cho đời sống tự nhiên, xã hội của địa phương, của đất nước.
1.4. Kinh nghiệm (thành công và không thành công) của một số địa phương (tỉnh,
thành phố) trong thu hút FDI.
Vĩnh Phúc là một tỉnh mới thành lập, đang trên con đường phát triển kinh tế xã hội.
Sự phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc gắn liền với sự phát triển của các địa phương khác tạo
nên sự phát triển của đất nước.
Trong quá trình phát triển của mình mỗi địa phương đều đạt được những thành công
và không thành công riêng, cho nên để bù đắp cho nhau cùng phát triển các địa phương
cần phải học tập kinh nghiệm của nhau trong từng lĩnh vực riêng. Cũng như vậy trong
việc thu hút FDI, để có thể đánh giá khách quan hơn tình hình thu hút đầu tư và đề xuất
được những giải pháp thiết thực nhằm tăng cường thu hút FDI vào Vĩnh Phúc, tác giả xin
đưa ra một số kinh nghiệm (thành công và không thành công) trong thu hút FDI của Hà
Nội và hai tỉnh Hải Dương, Hà Tây (hai tỉnh có nhiều điều kiện tương đồng với Vĩnh
Phúc) như sau:
1.4.1. Kinh nghiệm trong thu hút FDI của thành phố Hà Nội.
Là thủ đô của đất nước, Hà Nội được coi là đầu tầu đi tiên phong trong tất cả các
lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, do vậy việc học tập kinh nghiệm của Hà Nội là một vấn
đề mà bất cứ địa phương nào cũng quan tâm trong quá trình phát triển của mình.
* Vài nét về tình hình kinh tế xã hội của Hà Nội trong thời gian qua:
Về cơ cấu kinh tế, kinh tế Hà Nội đã chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH: tỷ trọng
công nghiệp trong GDP tăng từ 36,4% (1998) lên 37,3% (2001), 38,8% (2002) và 41,2%
(2004), tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 59,6% (1998) lên 60% (2001), 68,8% (2002) và
75,1% (2004), tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 4% (1998) xuống 2,7% (2001),
2,4%(2002) và 2,0% (2004). Đối với khu vực kinh tế trong nước, tỷ trọng kinh tế Nhà
nước trung ương giảm từ 56,1% (1998) xuống 53,1% (2001); tỷ trọng kinh tế Nhà nước
địa phương giảm từ 9,1% (1998) xuống 7,8% (2001) và 48,9% (2004) Về vốn đầu tư:
khắc phục thì mới đưa nền KT-XH của thành phố ngày càng phát triển lên được. Những
tồn tại này không chỉ của riêng Hà Nội mà bất kỳ địa phương nào cũng gặp phải. Do vậy
các địa phương, tỉnh, thành phố cần phải phối hợp đưa ra những biện pháp khắc phục. Đó
là vấn đề cần thiết trong giai đoạn CNH, HĐH và hoà nhập kinh tế quốc tế của đất nước
hiện nay.
Có thể nói với tình hình kinh tế xã hội có nhiều thuận lợi và khó khăn như vậy
thành phố Hà Nội đã có được những thành công, nhưng cũng không ít những vấn đề
không thành công trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
* Những thành công đạt được trong thu hút FDI ở thành phố Hà Nội.
Trong thời gian qua vốn FDI ở Hà Nội chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp,
hay nói cách khác, các khu công nghiệp ở Hà Nội là nơi thu hút nhiều nhất vốn FDI. Do
vậy những thành công trong thu hút FDI đều từ các khu công nghiệp trên địa bàn thành
phố mang lại.
Các khu công nghiệp tập trung của Hà Nội là tiền đề để thu hút các nguồn vốn đầu
tư nước ngoài vào Hà Nội. Trong tổng số hơn 61 dự án đăng ký thuê đất trong các khu
công nghiệp thì chỉ có 6 dự án 100% vốn đầu tư trong nước, còn lại là các dự án có vốn
đầu tư nước ngoài. Đồng thời các khu công nghiệp cũng tạo điều kiện cho việc chuyển
dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm ra ngoại thành, giúp các doanh nghiệp
thiếu mặt bằng sản xuất trong nội thành tìm kiếm được mặt bằng để mở rộng sản xuất
Như vậy rõ ràng kinh nghiệm đầu tiên trong thu hút FDI ở thành phố Hà Nội mà các
địa phương khác nên học tập là xây dựng các khu công nghiệp tập trung, bởi lẽ các dự án
đầu tư trong khu công nghiệp chiếm tới 90% là các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Bên
cạnh đó sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã giải quyết được nhu cầu bức
bách về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp thực sự yên tâm đầu tư phát triển sản
xuất bởi thời gian cho thuê đất trong các khu công nghiệp khá dài (thường là 50 năm),
đồng thời các khu công nghiệp đều được quy hoạch nên các doanh nghiệp không còn
phấp phỏng lo âu bị Nhà nước thu hồi đất hay giải phóng mặt bằng. Việc xây dựng và
phát triển các khu công nghiệp còn phát huy được nội lực, tạo điều kiện cho các thành
phần kinh tế khác cùng phát triển. Các địa phương cũng nên chú trọng vào việc phát triển
cơ sở hạ tầng hiện đại để từng bước thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cũng như đầu tư trong
nước.
* Những vấn đề chưa đạt được trong thu hút FDI ở Hà Nội.
Bên cạnh những thuận lợi cho thu hút FDI, ở Hà Nội còn tồn tại không ít những khó
khăn. Mà vấn đề đầu tiên bao giờ cũng là vấn đề về khung pháp lý. Một dự án đầu tư
muốn được phê duyệt thì đảm bảo phải tuân thủ luật pháp của nước chủ nhà. Do vậy
khung pháp lý mà thông thoáng, cụ thể thì sẽ giúp thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn.
Tuy nhiên ở Hà Nội một số văn bản pháp lý liên quan đến kinh tế còn chưa thống nhất,
thiếu đồng bộ và không rõ ràng dẫn đến việc hiểu và vận dụng không thống nhất giữa các
cơ quan quản lý. đây là một trong những nguyên nhân gây ra cách xử lý tuỳ tiện của các
cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều khi làm xuất hiện nhiều khiếu kiện không cần thiết,
gây cản trở và làm xấu môi trường đầu tư trên địa bàn nói riêng và đối với cả nước nói
chung. Bên cạnh đó cơ chế phân cấp uỷ quyền còn chưa đủ điều kiện để thực hiện cơ chế
một cửa tại chỗ. Cũng như nhiều lĩnh vực khác, nguyên tắc phân cấp trong quản lý đầu tư
chủ yếu dựa vào quy mô chứ không phải dựa vào tính chất của dự án. Nhiều dự án đầu
tư nước ngoài chủ yếu chỉ sản xuất hàng dân dụng, không tác động đến tổng thể nền kinh
tế nhưng vẫn phải có đầy đủ các thủ tục, tiến hành đầy đủ các bước gây tốn kém về thời
gian và chi phí cho các nhà đầu tư. Điều đó làm hạn chế dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.
Trên thực tế, quyền hạn của chính quyền địa phương trong việc chủ động đưa ra các biện
pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài (thuế, giá đất ) bị giới hạn trong phạm vi nhỏ bé
làm hạn chế tính chủ động của địa phương trong việc hoạch định chính sách.
Tồn tại thứ hai trong thu hút FDI ở Hà Nội là về cơ sở hạ tầng và đất đai: trên thực
tế khung giá đất ở Hà Nội còn cao khó thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước.
Nhiều cơn sốt đất đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế của Hà Nội. Giá đất và phí
quản lý ở các khu công nghiệp Hà Nội hiện nay là cao nhất cả nước, làm giảm đáng kể
sức hấp dẫn của các khu công nghiệp thủ đô. Tận dụng lợi thế cơ sở hạ tầng của Hà Nội,
các tỉnh giáp ranh đã xây dựng những khu công nghiệp ở ngay gần ranh giới với giá đất
và phí quản lý thấp hơn nên nhiều nhà đầu tư đã chuyển các dự án đến những khu công
nghiệp này thay vì đầu tư vào các khu công nghiệp ở Hà Nội. Về cơ sở hạ tầng, việc cung
Tỉnh Hải Dương không ngừng nâng cấp hạ tầng cơ sở để tạo môi trường thuận lợi
cho các nhà đầu tư, với các biện pháp cụ thể như: tăng tỷ trọng chi cho hạ tầng cơ sở, đầu
tư cho giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc, đầu tư xây dựng khu dân cư, nâng cấp hệ
thống khách sạn, du lịch.…Đa dạng hoá các hình thức đầu tư như BOT, BT, BTO, đổi
đất lấy cơ sở hạ tầng, đầu tư và chuyển giao công nghệ
Trên cơ sở chuẩn bị trước và kỹ lưỡng về cơ sở hạ tầng như vậy các nhà đầu tư có
thể triển khai nhanh và thuận lợi dự án của mình. Do đó Hải Dương rất thu hút các nhà
đầu tư về mặt cơ sở hạ tầng.
Về cơ chế chính sách: Hải Dương tiến hành cải tiến quy trình tiếp nhận dự án, tiếp
tục duy trì và hoàn thiện cơ chế "một cửa" đối với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xúc tiến, vận động đầu tư trên tất cả các phương tiện
thông tin đại chúng tại địa phương do tỉnh quản lý nhằm nâng cao sự hiểu biết và nhận
thức của mọi người về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề FDI.
Trước tình hình Internet toàn cầu tỉnh Hải Dương cũng xây dựng trang Web của mình và
đẩy mạnh hoạt động giới thiệu trên Internet nhằm hỗ trợ công tác xúc tiến vận động đầu
tư, chủ động hơn trong việc tìm các đối tác đầu tư. Công tác xúc tiến đầu tư còn được Hải
Dương tích cực đẩy mạnh ở chỗ: cử người tham gia học hỏi kinh nghiệm cùng các đoàn
xúc tiến, vận động đầu tư của chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; lập đoàn xúc tiến và
vận động đầu tư tới các cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện thương mại của các nước tại
thủ đô Hà Nội nhằm thiết lập mối quan hệ, giới thiệu tiềm năng cơ hội đầu tư, các chính
sách ưu đãi của Hải Dương đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài để thông qua đó các cơ
quan đại diện giới thiệu các nhà đầu tư của họ vào Hải Dương, liên tục tổ chức các cuộc
gặp gỡ hàng năm của các doanh nghiệp, có tuyên dương, khen thưởng đối với những
doanh nghiệp hoạt động tốt, đồng thời có hình thức xử phạt nghiêm minh đối với những
doanh nghiệp vi phạm pháp luật Bên cạnh đó tỉnh Hải Dương còn có thưởng cho tổ
chức cá nhân có công giới thiệu dự án đầu tư vào Hải Dương; ngân sách của tỉnh được bố
trí một phần cho công tác xúc tiến, vận động đầu tư vào địa phương
Có thể nói công tác xúc tiến đầu tư là vô cùng quan trọng không chỉ đối với một
nước nói chung trong thu hút FDI mà còn vô cùng quan trọng đối với các địa phương,
Có thể nói, với các biện pháp thu hút vốn đầu tư thuận lợi như trên, tỉnh Hải Dương
là một trong những địa phương thu hút đầu tư lớn của cả nước. Tính đến nay trên địa bàn
tỉnh đã có hơn 40 dự án đầu tư được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 513 triệu USD.
Hiện nay Hải Dương vẫn không ngừng áp dụng các biện pháp hiệu quả nhằm đạt được
những thành công trong thu hút FDI. Những thành công này là những kinh nghiệm quý
báu để các địa phương khác noi theo.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, tình hình thu hút và sử dụng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương còn bộc lộ một số hạn chế, đó là do những mặt
chưa được của Hải Dương trong quá trình thu hút FDI.
So với cả nước, Hải Dương là một địa điểm đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước
ngoài từ rất sớm, tuy nhiên so với các tỉnh phía Nam, Hải Dương nói riêng và các tỉnh
phía Bắc nói chung vẫn còn thua kém ở các mặt như sau:
Thứ nhất là về cơ chế quản lý: Các cơ quan quản lý Nhà nước ở miền Nam linh
hoạt hơn, áp dụng các quy chế một cách mềm dẻo theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, hỗ
trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Như đã nói ở trên, ở Hải Dương thủ tục cấp giấy
phép cho các nhà đầu tư nước ngoài đã được đơn giản hoá rất nhiều, tuy nhiên các nhà
đầu tư vẫn còn gặp nhiều phiền phức trong khâu giải phóng mặt bằng, trong việc kiểm
tra, giám sát của quá nhiều cơ quan chức năng.
Thứ hai là sức mua của thị trường miền Nam lớn hơn so với miền Bắc. Người dân
miền nam nhạy cảm với kinh doanh hơn, dễ hoà nhập hơn với hoạt động của cộng đồng,