BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
"Một số giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện hoạt động của công tác
thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo & PTNT Bắc Hà Nội"
Mục lục
Lời mở đầu 4
Chương I: Lý luận về thanh toán và các hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt 4
1.1. Sự cần thiết và vai trò của công tác thanh toán không dùng tiền mặt 4
1.1.1. Tính tất yếu khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt 5
1.1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. 5
1.2. Khái niệm và nguyên tắc chung về thanh toán không dùng tiền mặt. 7
1.3. Các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng. 8
1.3.1. Thể thức thanh toán bằng Séc. 8
1.3.2. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi – chuyển tiền (UNC-CT). 11
1.3.3. Thể thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (UNT). 13
1.3.4. Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) 14
1.3.5. Thanh toán bằng thẻ thanh toán. 16
Chương II: Thực trạng công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại NHNo
& PTNT Bắc Hà Nội. 17
2.1. Khái quát chung về NHNo&PTNT Bắc Hà Nội. 17
2.1.1. Sự ra đời và phát triển. 17
Kết luận 39
Tài liệu tham khảo 40
Lời mở đầu
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sự phát triển của hệ thống ngân
hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ, tự động hoá…ngày càng mạnh
mẽ, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã và đang được sử dụng
phổ biến. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay
thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong giao
dịch thương mại, dịch vụ nữa, đặc biệt là giao dịch có giá trị lớn.
Các hệ thống giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hoá ngày nay diễn ra
mọi lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ,
khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt, nhất
là trong thanh toán các khoản có giá trị lớn có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi
ro như: chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của
Chính phủ cho việc in tiền, chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của
hoạt động Ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn
kém.
Nhận thức được vai trò của TTKDTM cũng như tầm quan trọng của việc
phát triển TTKDTM, em đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm mở rộng
và hoàn thiện hoạt động của công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại
NHNo & PTNT Bắc Hà Nội" làm đề tài luận văn. Với những hiểu biết còn hạn
chế của một sinh viên cũng như thời gian xâm nhập thực tế chưa nhiều, bài viết
của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các
quý thầy, cô và các bạn đọc để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Kết cấu Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về công tác thanh toán không dùng tiền mặt
Chương II: Thực trạng công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
Chương III: Giải pháp nhằm mở rộng và hoàn thiện hoạt động công tác thanh
1.1.2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt đáp ứng được đòi hỏi tất yếu của sản
xuất, lưu thông hàng hoá và những yêu cầu của nền kinh tế hiện đại, làm cho
Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Thanh toán không
dùng TM góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, kìm chế lạm phát, tăng
nhanh quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho sản xuất
phát triển, nâng cao năng suất lao động. Vì vậy, thanh toán không dùng TM
đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền KT Quốc gia. Vai
trò của thanh toán không dùng TM được thể hiện ở một số điểm sau:
Đối với ngân hàng:
Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần tạo ra và tăng nhanh nguồn vốn
của ngân hàng, mở rộng nghiệp vụ kinh doanh. Việc các doanh nghiệp mở rộng
tài khoản tại Ngân hàng mang lại cho Ngân hàng một nguồn vốn tương đối lớn
để cho vay và phát triển kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của nghiệp vụ tín dụng.
Đồng thời, do nắm được đặc điểm, tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm
soát được một phần lượng tiền trong nền kinh tế, khả năng tài chính cho nên
Ngân hàng có cơ sở để tiến hành cung ứng lượng tiền thích hợp cho nền kinh tế.
Ngoài ra, nó còn giúp cho Ngân hàng có được những quyết định đúng đắn trong
hoạt động tín dụng, từ đó sẽ hạn chế được rủi ro trong kinh doanh tín dụng.
Đối với doanh nghiệp:
Thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ
chu chuyển vốn và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất trong hoạt động kinh doanh.
Ngay ở khâu đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đã phải
dùng tiền để mua nguyên vật liệu, vật tư hàng hoá, thuê nhân công, để phục vụ
qúa trình sản xuất kinh doanh của mình. Khi đó, nếu công tác thanh toán của
đơn vị với bạn hàng được thực hiện nhanh chóng, chính xác sẽ tạo uy tín với bạn
hàng. Khi sản phẩm hàng hoá của đơn vị được tiêu thụ, nhờ việc tổ chức thanh
toán của Ngân hàng thực hiện tốt, vốn tiền tệ được thu hồi nhanh chóng để tiếp
tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo.Mặt khác, thanh toán không dùng tiền
mặt sử dụng phương pháp ghi chuyển từ tài khoản này sang tài khoản khác chứ
vị, cá nhân thanh toán qua Ngân hàng, kho bạc Nhà nước được áp dụng các thể
thức thanh toán mà Nhà nước đã ban hành phải thực hiện các nguyên tắc sau:
- Khách hàng được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch
và thực hiện thanh toán tại một Ngân hàng có cung cấp dịch vụ thanh toán.
- Việc mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước và thực
hiện thanh toán qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp mở và
thanh toán bằng ngoại tệ phải được thực hiện theo cơ chế quản lý ngoại hối của
Chính phủ Việt Nam ban hành.
- Để đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các chủ tài khoản (Bên trả tiền)
phải có đủ tiền trên tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán vượt quá số dư tài
khoản tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước là vi phạm pháp luật và bị xử
lý theo pháp luật.
- Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải có trách nhiệm:
+) Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản đảm bảo chính
xác, an toàn và thuận tiện. Các Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm
chi trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tiền gửi theo yêu
cầu của chủ tài khoản.
+) Nếu do thiếu sót trong quá trình thanh toán gây thiệt hại cho khách
hàng thì Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo
mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo pháp luật.
- Ngân hàng và kho bạc chỉ cung cấp số liệu trên tài khoản khách hàng
cho các cơ quan ngoài Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước khi có các văn bản của
các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân hàng được
thu phí theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.3. Các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
Theo Nghị định số 30/CP ngày 09/05/1996 của Thủ tướng Chính phủ và
Thông tư số 07/TT-NH1 ngày 27/12/1996. Thông tư hướng dẫn quy chế phát
hành và sử dụng Séc mới của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thay
thế Séc đã sử dụng trước đây.
Dùng các tờ séc làm chứng từ ghi nợ tài khoản bên trả tiền.
Các liên bảng kê séc dùng để lập chứng từ thanh toán bù trừ và chuyển
cho Ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng để ghi có cho bên thụ hưởng.
Kế toán ghi:
Nợ: Tài khoản bên trả tiền
Có: Tài khoản -5012. Thanh toán bù trừ của Ngân hàng thành viên.
- Tại Ngân hàng (Kho bạc) phục vụ bên thụ hưởng: Tiếp nhận các bảng kê
(Thông qua thanh toán bù trừ) và thanh toán cho bên thụ hưởng.
+ Một liên bảng kê séc làm chứng từ ghi có tài khoản bên thụ hưởng.
+ Một liên bảng kê séc làm báo có cho bên thụ thưởng.
Kế toán ghi:
Nợ: TK 5012 thanh toán bù trừ của Ngân hàng thành viên.
Có: TK tiền gửi người thụ hưởng.
Nếu bên thụ hưởng nộp séc vào Ngân hàng nơi mình mở tài khoản thì sau
khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ séc, ngân hàng trực tiếp chuyển các séc
và bảng kê cho Ngân hàng phục vụ bên trả tiền, để xử lý theo thủ tục nói trên.
- Trường hợp bên trả tiền và bên thụ hưởng đều mở tài khoản tại cùng một
Ngân hàng thì thanh toán xử lý theo quy định hiện hành.
- Đối với séc phát hành quá số dư tiền gửi, Ngân hàng sẽ tính tiền phạt để
trả cho người thụ hưởng.
+ Tiền phạt chậm trả = Số tiền trên tờ séc x số ngày chậm trả x tỷ lệ phạt
chậm trả.
+ Tiền phạt quá số dư = (Số tiền trên séc – Số dư TK tiền gửi) x 30%.
b. Séc bảo chi:
Séc bảo chi là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được NH đảm
bảo chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản của bên trả
tiền đưa vào một TK riêng (TK tiền ký gửi đảm bảo thanh toán séc) được ngân
hàng làm thủ tục bảo chi và đóng dấu bảo chi séc trước khi giao séc cho KH.
Séc bảo chi được dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản
cùng một Ngân hàng hoặc khác Ngân hàng nhưng cùng hệ thống, nếu khác hệ
mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình chuyển vào tài khoản
được hưởng, để thanh toán tiền mua bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nộp thuế,
thanh toán nợ. UNC được áp dụng để thanh toán cho người được hưởng có tài
khoản ở cùng Ngân hàng, khác hệ thống ngân hàng, khác tỉnh.
Qui trình thanh toán uỷ nhiệm chi (UNC):
- Tại Ngân hàng bên mua:
(1): Đơn vị bán giao hàng hoá, dịch vụ cho đơn vị mua.
(2): Đơn vị mua 4 liên UNC gửi Ngân hàng để thanh toán
(3a): Ngân hàng bên mua ghi nợ tài khoản và báo nợ bên mua
Đơn vị mua Đơn vị bán
Ngân hàng
bên mua
Ngân hàng
bên bán
(
4
)
(
1
(
3b
(
2
séc chuyển tiền.
(2): Ngân hàng chuyển tiền phát hành séc chuyển tiền và giao séc cho
người đại diện đơn vị chuyển tiền.
Ngân hàng
chuyển tiền
(
1
Đơn vị
chuyển tiền
Ngân hàng
chi trả
(
2
(
3
(
4
(3): Người đại diện đem séc chuyển tiền đến ngân hàng địa phương khác,
nơi cần giao dịch thanh toán.
(4): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng trả tiền cho người cầm séc, lập
giấy báo nợ liên hàng gửi ngân hàng chuyển tiền.
Qui trình thanh toán:
Muốn được cấp séc chuyển tiền đơn vị phải lập UNC 3 liên, ghi nội dung
mục đích, họ tên số chứng minh thư người cầm séc nộp vào Ngân hàng phục vụ
mình.
Ngân hàng chuyển tiền yêu cầu người cầm séc ký tên vào mặt sau cuống
séc rồi giao cả 2 liên séc chuyển tiền (Bản chính và bản điệp cho người cầm
séc).
- Hạch toán khi cấp séc.
Một liên: UNC ghi nợ TKTG đơn vị chuyển tiền.
(1): Người bán giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua.
(2): Bên bán nộp UNT kèm hoá đơn giao hàng có chữ ký nhận ngày.
(3): NH bên bán chuyển UNT và bản sao hoá đơn giao hàng cho NH bên
mua.
(4a): NH bên mua ghi nợ TK người mua và báo nợ cho người mua
(4b): Ngân hàng bên mua thanh toán cho Ngân hàng bên bán.
(5): Ngân hàng bên bán báo có và ghi có cho người mua.
1.3.4. Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
Thư tín dụng (TTD) là lệnh của Ngân hàng bên mua đối với Ngân hàng
bên bán khác địa phương yêu cầu trả tiền theo chứng từ của người bán đã giao
hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo đúng điều kiện của người mua.
Theo thể thức thanh toán này, khi bên bán sẵn sàng giao hàng, bên mua
phải ký quỹ vào Ngân hàng một số tiền đủ để mở TTD thanh toán mua hàng.
Thư TD dùng để thanh toán trong điều kiện đòi hỏi phải có đủ tiền để chi
trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã giao trong hợp đồng. Mỗi TTD chỉ
thanh toán cho một người bán hàng (Về nguyên tắc chỉ thanh toán 1 lần). Ngoài
Đơn vị mua Đơn vị bán
Ngân hàng
bên mua
Ngân hàng
bên bán
(
4a
)
(
1
(
mua.
(8): Ngân hàng bên mua lưu ký, gửi 1 liên L/C báo nợ cho bên mua.
Hiện nay, chính thức TTTTD chủ yếu được sử dụng trong thanh toán
quốc tế đối với các đơn vị xuất nhập khẩu vì khi đó bên mua và bên bán không
quen biết nhau và do đó khó có thể biết được khả năng tài chính của nhau. Do
vậy thanh toán bằng L/C đối với các doanh nghiệp trong nước là rất ít.
Bên mua Bên bán
Ngân hàng
bên mua
Ngân hàng
bên bán
(1
(
8
(
4
(
2
(
7
(
3
(
5
(
6
1.3.5. Thanh toán bằng thẻ thanh toán.
Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán hiện đại dựa trên sự phát triển
kỹ thuật tin hoc ứng dụng trong Ngân hàng.
Thẻ thanh toán có khả năng chi trả được nhiều loại tiền, nó sẽ dần thay thế
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội được thành lập theo quyết định số
324/QĐ/HĐQT của Chủ tịch HĐQT NHNo & PTNT Việt Nam vào ngày
5/9/2001. Ngày 6/11/2001 là ngày khai trương với tên gọi là Chi nhánh
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội có trụ sở chính tại 217 Đội Cấn.
Chi nhánh được thành lập với 28 cán bộ đầu tiên, với 5 phòng nghiệp vụ
là: Phòng kế hoạch kinh doanh, Phòng thanh toán quốc tế, Phòng kế toán ngân
quỹ, Phòng kiểm tra, kiểm toán Nội bộ, Phòng tổ chức nhân sự.
Cán bộ chủ yếu điều động ở các địa phương, từ trung tâm điều hành
về(không có tuyển mới). Việc thành lập Chi nhánh Bắc Hà Nội đã làm cho số
lượng thành viên của NHNo&PTNT Việt Nam lên tới 1600 Chi nhánh trên
phạm vi toàn quốc. NHNo&PTNT cũng là ngân hàng có số lượng chi nhánh lớn
nhất, hoạt động rộng nhất từ trung ương đến các tỉnh thành, thị xã, quận
huyện.Với sự nỗ lực của Ban Giám Đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên
đến nay NHNo&PTNT Bắc Hà Nội đã thu hút được nhiều khách hàng, cá nhân
cũng như các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ.
Trước đây, NHNo&PTNT Bắc Hà Nội có hai chi nhánh cấp II là Chi
nhánh 99 Hoàng Quốc Việt, Chi nhánh 129-131 Kim Mã, 2 phòng giao dịch là
phòng giao dịch số 2 ở 61 Hàng Giấy, phòng giao dịch số Lô 6 dãy E khu D-74
Công Binh Ngọc Hà. Tuy nhiên, để bắt kịp với nhu cầu của xã hội đặc biệt với
việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế WTO NHNo&PTNT Bắc
Hà Nội đã có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức. Hiện nay, chi nhánh có 7 phòng
ban:
Phòng nguồn vốn và kế hoạch.
Phòng kế toán- ngân quỹ
Phòng thanh toán quốc tế.
Phòng hành chính sự nghiệp.
Phòng kiểm tra, kiểm soát Nội bộ.
Phòng tín dụng.
Phòng thẻ và phát triển sản phẩm dịch vụ.
Và 8 phòng giao dịch trực thuộc đó là các PGD số 1, PGD số 2, PGD số
2006 4.558 512 12.65
2007 5.409 851 18.67
Qua bảng số liệu, ta thấy tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng
dần qua các năm, tăng cả về số tuyệt đối và tương đối. Cụ thể, năm 2006 tổng
nguồn vốn huy động là 4558 tỷ đồng tăng 512 tỷ đồng (tăng 12.7%) so với năm
2005. Đến năm 2007, nguồn vốn huy động tiếp tục tăng. Số vốn huy động được
là 5.409 tỷ đồng tăng 851 tỷ đồng, tương đương tăng 8.7% so với năm 2006.
b. Hoạt động tín dụng:
Tình hình dư nợ tại NHNo&PTNT Bắc Hà Nội theo thời hạn:
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Chỉ tiêu
2005 2006 2007
So sánh
2006/2005 tăng
giảm (+,-)
So sánh
2007/2006 tăng
giảm (+,-)
Dư nợ Số tiền (%) Số tiền (%)
Ngắn hạn 647
923
1150
276
42,66
227
Nợ xấu 1,868
34,8
23,6 Tỷ lệ nợ xấu so
với tổng dư nợ
0,16%
2,3%
1,15% Nhìn vào tình hình dư nợ của chi nhánh ta thấy tổng dư nợ không ngừng
tăng lên qua các năm. Năm 2006 tăng 28,14% so với 2005, năm 2007 tăng
37,63% so với 2006.Tuy nhiên, qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2005-
2007 thì tỷ lệ nợ xấu đang tăng lên cụ thể là: năm 2005 nợ xấu: 1868
triệu(chiếm 0,16% tổng dư nợ), năm 2006 nợ xấu: 34,8 tỷ(chiếm 2,3% tổng dư
nợ), từ năm 2005 đến 2006 tỷ lệ nợ xấu tăng lên khá nhanh. Nhưng đến năm
2007 nợ xấu: 23,6 tỷ(chiếm 1,15% tổng dư nợ) đã có xu hướng giảm, chứng tỏ
nhuận là 49.434 triệu đồng với tổng thu là 486.849 triệu đồng đạt 148.6% so với
kế hoạch, tăng 24.4% so với năm 2006. Đây là một năm kinh doanh khá là thành
công của chi nhánh, trên các lĩnh vực đều có những chuyển biến tốt. Tổng thu
nhập và tổng chi phí đều tăng qua các năm. Lợi nhuận qua các năm như sau:
Năm 2006 đạt 56.686 triệu đồng, tăng 12.3% so với năm 2005 nhưng năm 2007
chỉ đạt 49.434 triệu đồng, giảm 12.8% so với năm 2006, có điều này là do chi
phí hoạt động năm 2007 đã tăng 29.9% so với năm 2006, đây là hậu quả tất yếu
của việc giá cả tăng một cách mạnh mẽ trong năm 2007.
2.2. Tình hình thực hiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt.
2.2.1. Khái quát tình hình thanh toán tại NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
Tổ chức thanh toán không dùng TM là một nghiệp vụ quan trọng không
thể thiếu được của NH, nó tác động đến quá trình lưu thông vốn, tiền tệ trong
nền kinh tế. Nhận thức được điều này NH đã nhanh chóng đổi mới và phát triển
công tác thanh toán không dùng TM, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và mở
rộng ứng dụng thành tựu tin học, hiện đại hoá công nghệ NH nhất là trong lĩnh
vực thanh toán, quản lý và điều hành. Kết quả cho thấy, thanh toán không dùng
tiền mặt ngày càng tăng điều này thể hiện thông qua tình hình thực hiện công tác
thanh toán tại NH trong 2 năm 2006 - 2007.
Phương thức thanh toán
Năm 2006 Năm 2007
Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
Thanh toán bằng tiền mặt 7.659 14,1% 11.835 16,1%
T
2
không dùng TM 46.532 85,9% 61.694 83,9%
Tổng cộng 54.191 100% 73.529 100%
Nhìn vào bảng trên ta thấy, năm 2007 công tác thanh toán không dùng TM đạt
61.694 tỷ đồng tăng so với năm 2006 là 15.162 tỷ đồng tức là tăng 132,5%. Qua kết
quả trên có thể thấy công tác thanh toán không dùng TM chiếm tỷ trọng cao trong
thu
3848,2 8,27% 5392,1 8,74%
4. Thư tín dụng
1000,4 2,15% 1715,1 2,78%
5. Loại khác 9608,8 20,65% 10648,3 17,26%
Tổng doanh số
TTKDTM
46532 100% 61694 100%
Trong các thể thức được áp dụng tại NH thì Uỷ nhiệm chi là thể thức
chiếm tỷ lệ lớn nhất, chiếm 65,01% trong tổng doanh số thanh toán không dùng
TM năm 2007. Bên cạnh đó lại có thể thức thanh toán chiếm tỷ lệ nhỏ như Séc,
Uỷ nhiệm thu. Sở dĩ hình thành như vậy là do các quy định cụ thể của mỗi thể
thức thanh toán, mức độ tín nhiệm khác nhau của mỗi thể thức, mức độ tín
nhiệm của khách hàng, trình độ trang bị kỹ thuật của NH và thói quen sử dụng
các thể thức mang tính truyền thống của khách hàng.
a. Thể thức thanh toán bằng Séc.
Thanh toán bằng Séc là hình thức thanh toán đơn giản và thuận tiện nên
đây là hình thức phổ biến. Séc được khách hàng sử dụng nhiều để chi trả tiền
hàng hoá, dịch vụ cho người bán. Năm 2006 số tiền chi trả bằng Séc là 2703,5 tỷ
đồng, năm 2007 tăng thêm 1127,7 tỷ lên 3831,2 tỷ đồng.
b. Thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi.
Qua bảng số liệu trên ta thấy uỷ nhiệm chi là thể thức thanh toán chiếm tỷ
trọng lớn nhất và có xu thế ngày càng tăng. Với ưu điểm nổi bật là thủ tục đơn
giản, thuận tiện, thời gian nhanh chóng. Tại NHNo&PTNT Bắc Hà Nội thể thức
uỷ nhiệm chi đã vượt trội hẳn so với các hình thức thanh toán khác. Trong năm
2006 thanh toán uỷ nhiệm chi đạt doanh số 29371,1 tỷ đồng chiếm 63,12% trong
tổng số thanh toán chung. Sang năm 2007 con số này tiếp tục tăng và đạt
40107,3 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 65,01% trong tổng số thanh toán chung.
Tại NH thường giải quyết khi: khách hàng trả nộp UNC sau khi kiểm soát xong.
thì sẽ thanh toán cho khách hàng, nếu không đủ điều kiện thì từ chối thanh toán
có nêu rõ lý do. Tờ séc sau khi kiểm tra sẽ xử lý tuỳ theo người phát hành và
người thụ hưởng mở tài khoản ở cùng hay khác NH.Thông dụng nhất là 2 loại
séc chuyển khoản và séc bảo chi.
a. Séc chuyển khoản
Nếu người phát hành và người thụ hưởng đều có TK tại NHNo Bắc Hà
Nội
NH kiểm tra số dư tài khoản người phát hành, nếu đủ số dư thì hạch toán:
Nợ TK: 4211"Tiền gửi Đơn vị phát hành"
Có TK: 4211"Tiền gửi Đơn vị thụ hưởng"
Nếu người phát hành có TK tại NHNo Bắc Hà Nội mà người thụ hưởng
có TK ở NH khác thì người thụ hưởng có thể nộp séc vào NH nơi họ mở TK
hoặc nộp vào NHNo Bắc Hà Nội. Nếu nộp vào ngân hàng bên thụ hưởng thì séc
được chuyển về NHNo Bắc Hà Nội. Sau khi kiểm tra đối chiếu các yếu tố, hạch
toán:
Nợ TK: 4211"Tiền gửi Đơn vị phát hành"
Có TK: 5012 "Thanh toán bù trừ"
Nếu người thụ hưởng có TK tại NHNo Bắc Hà Nội mà người phát hành
séc có TK ở NH khác. Khi NH bên phát hành ghi nợ TK khách hàng thì NHNo
Bắc Hà Nội hạch toán:
Nợ TK: 5012"Thanh toán bù trừ"
Có TK: 4211"Tiền gửi Đơn vị thụ hưởng"
b. Séc bảo chi
Nếu người phát hành và người thụ hưởng đều có TK tại NHBHN
Khi bảo chi séc
Nợ TK: 4211" Tiền gửi Đơn vị phát hành"
Có TK: 4271" Tiền gửi bảo đảm TT Séc" (người PH Séc)
Khi thanh toán séc
Nợ TK: 4271" Tiền gửi bảo đảm TT Séc"
Có TK: 4211" Tiền gửi Đơn vị thụ hưởng"
Nợ TK: 4211 " Tiền gửi của đơn vị trả tiền"
Có TK: 4211 " Tiền gửi của đơn vị thụ hưởng"
b. Nếu đơn vị thụ hưởng có tài khoản khác Chi nhânh, khác tỉnh,
thành phố.
Nợ TK: 4211 " Tiền gửi đơn vị trả tiền"