Báo cáo tốt nghiệp: Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh Thăng Long doc - Pdf 15



Báo cáo tốt nghiệp

Phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh
Thăng Long MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I :
KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1.1. Khái niệm NHTM 9
1.1.2. Chức năng của NHTM 9
1.1.2.1. Trung gian tài chính 9
1.1.2.2. Trung gian thanh toán 10
1.1.2.3. Tạo phương tiện thanh toán 11
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của NHTM 12
1.2. DỊCH VỤ THẺ CỦA NHTM 13
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thẻ ngân hàng 13
1.2.2. Phân loại thẻ ngân hàng 13
1.2.2.1. Theo đặc tính kỹ thuật 14
1.2.2.2. Theo tính chất thanh toán 14
1.2.2.3. Theo phạm vi lãnh thổ 15

Long 28
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của NHNT Chi nhánh Thăng Long 29
2.1.2.1. Mô hình tổ chức các phòng ban 29
2.1.2.2. Về nhân sự 30
2.1.3. Tình hình hoạt động của NHNT Chi nhánh Thăng Long trong
những năm gần đây 31
2.1.3.1. Hoạt động huy động vốn 31
2.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn 32
2.1.3.3. Các hoạt động khác 33
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN
THẺ TẠI NHNT CHI NHÁNH THĂNG LONG 35
2.2.1. Quy trình nghiệp vụ thẻ của NHNT Chi nhánh Thăng Long 35
2.2.1.1. Quy trình nghiệp vụ phát hành thẻ 35
2.2.1.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán thẻ 37
2.2.1.3. Các loại thẻ do NHNT Việt Nam phát hành và thanh toán 38
2.2.2. Thực trạng dịch vụ thẻ của NHNT Chi nhánh Thăng Long 39
2.2.2.1. Quy mô các loại thẻ được phát hành tại NHNTTL 39
2.2.2.2. Quy mô các loại thẻ được phát hành tại NHNTTL 46
2.2.2.3. Hoạt động thanh toán thẻ tại NHNTTL 53
2.3. ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ THẺ TẠI NHNT CHI NHÁNH THĂNG
LONG 55
2.3.1. Kết quả đạt được 55
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 58
2.3.2.1. Hạn chế 58
2.3.2.2. Nguyên nhân 59

CHƯƠNG III:

phạm về thẻ 75
3.4.2.5. Hoàn thiện trung tâm chuyển mạch và thanh toán liên ngân hàng 75
3.4.3. Kiến nghị với NHNT Việt Nam. 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐVCNT – Đơn vị chấp nhận thẻ
NHNT – Ngân hàng ngoại thương
NHNTTL – Ngân hàng ngoại thương Chi nhánh Thăng Long
NHNTVN – Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
NHPH – Ngân hàng phát hành
NHTM – Ngân hàng thương mại
NHTT – Ngân hàng thanh toán
NHĐL – Ngân hàng đại lý
PS – Phát sinh
TL – Tích luỹ
TCTQT - Tổ chức thẻ quốc tế
TDQT – Tín dụng quốc tế
HĐKD - Hoạt động kinh doanh

LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển và hội nhập của Việt Nam trong những năm gần đây
không chỉ được nhận thấy ở tốc độ phát triển kinh tế mà còn có thể nhận thấy
được trong phong cách phong cách tiêu dùng, thanh toán của người dân Việt
Nam. Đó là việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng các phương tiện
thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là thẻ. Thẻ xuất hiện ngày càng
nhiều và đa dạng, không chỉ ở thành thị mà còn cả ở nông thôn.
Dịch vụ thẻ là một dịch vụ ngân hàng độc đáo, hiện đại, ra đời và phát
triển dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Với những tính
năng ưu việt, cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng, dịch vụ thẻ đã nhanh
chóng trở thành dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến và được ưa
chuộng hàng đầu trên thế giới. Và nay, thẻ cũng đang dần khẳng định vị trí
của mình trong hoạt động thanh toán tại Việt Nam.
Từ năm 1995, thẻ ngân hàng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với những
sản phẩm thẻ đầu tiên do Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phát hành. Đến
nay, tại Việt Nam đã có hơn 20 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán, với mức
tăng trưởng bình quân 300%/năm và các sản phẩm ngày càng phong phú, đa
dạng hơn. Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO, nền kinh tế ngày càng phát triển và hội nhập tạo tiền đề thuận lợi cho
lĩnh vực thẻ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn.
Tuy nhiên, một số vấn đề đặt ra là: Liệu sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị
trường thẻ trong những năm qua có quá “nóng” không? Thực chất sự phát
triển ấy có đạt được cân bằng giữa số lượng và chất lượng không? Và hình
thức thanh toán này trong thời gian qua đã đóng góp vào sự phát triển của nền
kinh tế như thế nào? Đã thực sự góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu thông

CHƯƠNG I :
KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ
trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc
vai trò mà chúng thể hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yêu tố trên
đang không ngừng thay đổi. Cách tiếp cận thận trong nhất là xem xét ngân
hàng dựa trên những phương tiện mà chúng cung cấp. Trên phương diện đó
có thể định nghĩa ngân hàng như sau: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kì tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
có ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.”.
1.1.2. Chức năng của NHTM
Hệ thống NHTM ngày nay tiếp tục phát triển không ngừng. Theo đó,
các sản phẩm của NHTM cũng ngày càng đa dạng hơn, phức tạp hơn nhằm
phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, NHTM vẫn mang những
chức năng chính, thể hiện rõ nhất đặc trưng của nó:
1.1.2.1. Trung gian tài chính


có nền kinh tế phát triển, NHTM là kênh thanh toán phổ biến nhất, lớn nhất
và thuận tiện nhất, đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán của toàn xã hội.
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán chính là việc NHTM
thực hiện các nghiệp vụ chi trả tiền, hàng hoá, dịch vụ cho các cá nhân và tổ
chức thông qua các công cụ thanh toán như séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi,
các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Không chỉ thực hiện nghiệp vụ thanh toán
cho khách hàng, ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân
hàng Trung ương hoặc các trung tâm thanh toán.
Việc NHTM thực hiện vai trò trung gian thanh toán có ý nghĩa rất lớn
đối với nền kinh tế. Hoạt động này thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá,
dịch vụ, tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt, hạn chế vốn ứ đọng trong khâu
thanh toán, tạo cơ sở cho NHTM tạo tiền thông qua con đường tín dụng đối
với các doanh nghiệp dưới hình thức cho vay bằng chuyển khoản (bút tệ) thúc
đẩy việc luân chuyển tiền tệ một cách nhanh chóng. Đối với hoạt động của hệ
thống ngân hàng của quốc gia và quốc tế, công nghệ thanh toán hiện đại, quy
mô rộng lớn, thống nhất giữa các thành viên sẽ làm tăng tính hiệu quả, biến
ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng, phục vụ đắc lực cho nền
kinh tế toàn cầu.
1.1.2.3. Tạo phương tiện thanh toán
Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận: tiền
giấy trong lưu thông, số dư trong TKTG giao dịch của khách hàng tại các
ngân hàng, và tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ
hạn.
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tìa khoản tiền gửi của khách hàng
tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thẻ ngân hàng
Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do các tổ chức tài
chính, tín dụng phát hành cho khách hàng . Khách hàng có thể dùng thẻ để
thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của
mình ở tài khoản tiền gửi (TKTG) hoặc hạn mức tín dụng (HMTD) được cấp
theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành (NHPH) thẻ và chủ thẻ. Hoá
đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với đơn vị chấp nhận
thẻ (ĐVCNT). ĐVCNT và đơn vị cung ứng hàng hoá , dịch vụ đòi tiền chủ
thẻ thông qua NHPH và NHTT thẻ.
Thẻ dù do bất cứ tổ chức tài chính hoặc phi tài chính phát hành đều
được làm bằng Plastic theo kích cỡ chuẩn quốc tế là 8,5cm×5,5cm×0,07cm,
và ít nhất phải có đủ các yếu tố sau:
- Mặt trước thẻ gồm:
+ Nhãn hiệu thương mại của thẻ.
+ Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ.
+ Số thẻ và tên của chủ thẻ được in nổi.
- Mặt sau thẻ gồm:
+ Dải băng từ chứa các thông tin được mã hoá theo một tiêu chuẩn thống nhất
như: Số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
+ Ô chữ ký dành cho chủ thẻ.
Ngoài ra thẻ còn có thêm một số yếu tố khác tuỳ theo quy định của Tổ
chức thẻ quốc tế hoặc các hiệp hội phát hành thẻ…
1.2.2. Phân loại thẻ ngân hàng
Thị trường thẻ thế giới hiện nay đang lưu hành rất nhiều loại thẻ. Theo từng tiêu thức khác nhau thẻ được chia thành nhiều loại. Tuy nhiên việc phân
loại chỉ mang tính tương đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích. Có
thể phân loại thẻ dựa trên một số tiêu thức sau:
1.2.2.1. Theo đặc tính kỹ thuật

cần trả cho ngân hàng một số tiền sẽ được ngân hàng cấp cho một tấm thẻ với
mệnh giá tương đương. Đặc tính của loại thẻ này giống như mọi thẻ bình
thường khác, tuy nhiên thẻ chỉ được chi tiêu trong giới hạn số tiền có trong
thẻ và một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo ngân hàng phát hành, tức là
hạn mức của loại thẻ này không có tính tuần hoàn.
- Thẻ tín dụng (Credit Card)- thẻ loại C: Đây là loại thẻ được sử dụng phổ
biến nhất hiện nay. Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ được cấp một hạn mức tín
dụng nhất định để chi tiêu tại những ĐVCNT. Hạn mức tín dụng do ngân
hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng.
Khả năng đảm bảo được xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi
tiêu, tài khoản đảm bảo, địa vị xã hội… của khách hàng. Đây là một phương
thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho người sư dụng có thể chi tiêu
trước, trả tiền sau. Định kì, chủ thẻ sẽ nhân được sao kê từ ngân hàng. Chủ thẻ
phải thanh toán số tiền đã chi tiêu mà không phải trả lãi. Tuy nhiên nếu thanh
toán không đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chị phí suất chậm trả và các loại phí
khác. Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục HMTD
cho chủ thẻ. Điều này tạo nên tính tuần hoàn, là đặc tính ưu việt của thẻ tín
dụng.
1.2.2.3. Theo phạm vi lãnh thổ
- Thẻ trong nước: có 2 loại
Local use only card: là loại thẻ do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng
trong nước phát hành, chỉ dùng được trong nội bộ tổ chức đó mà thôi. Domestic use only card: thẻ thanh toán mang thương hiệu của TCTQT
được phát hành để sử dụng trong nước.
- Thẻ quốc tế (International Card): là loại thẻ không chỉ dùng được tại
quốc gia nó được phát hành mà còn sử dụng được trên phạm vi quốc tế.
1.2.3. Các chủ thể tham gia dịch vụ thẻ của NHTM
1.2.3.1. Ngân hàng phát hành

Ngân hàng thanh toán là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một
phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các
điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ trên địa bàn với các điều khoản cam kết cơ
bản như sau:
- Chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng.
- Cung cấp các thiết bị đọc thẻ tự động (POS) cho các đơn vị này kèm theo
những hướng dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên về nghiệp vụ
thanh toán qua máy cho khách hàng.
- Quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn vị này.
- Thông thường các ngân hàng thanh toán sẽ thu phí chiết khấu từ các đơn vị
chấp nhận thẻ cho việc họ thực hiện các giao dịch qua thẻ tại đây. Mức phí
này tuỳ thuộc vào từng ngân hàng.
Có rất nhiều ngân hàng vừa là ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng
thanh toán, khách hàng của họ có thể vừa là chủ thẻ, vừa là các đơn vị cung
ứng hàng hoá dịch vụ có ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ. Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam vừa là ngân hàng ngân hàng đại lý phát hành thẻ thanh toán
quốc tế như Visa Card, Master Card… vừa là ngân hàng thanh toán cho khách hàng sử dụng những loại thẻ đó mà không do ngân hàng NHNT Việt Nam
phát hành.
1.2.3.4. Đơn vị chấp nhận thẻ
Các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ
như một phương tiện thanh toán được gọi là được gọi là một đơn vị chấp nhận
thẻ. Các ĐVCNT có thể là nhà hàng, khách sạn, siêu thị, các trung tâm
thương mại, các đại lý bán vé máy bay…
Điều kiện để trở thành một ĐVCNT, các đơn vị này phải có tiềm lực về
tài chính, có năng lực kinh doanh. Số lượng giao dịch hàng hoá, dịch vụ
tương đối lớn. Đổi lại khi trở thành một ĐVCNT của ngân hàng, nó sẽ được
ngân hàng cung cấp các thiết bị, máy đọc thẻ POS, ngoài ra các nhân viên sẽ

Mặt khác, để sở hữu thẻ, khách hàng phải luôn ký quỹ bằng số dư trên
tài khoản tiền gửi hoặc một khoản thế chấp nào đó (thường là sổ tiết kiệm gửi
tại ngân hàng). Trong thời gian sử dụng thẻ, khách hàng không được sử dụng
khoản ký quỹ này. Do vậy ngân hàng có thể sử dụng khoản ký quỹ như một
nguồn vốn huy động khác.
Hơn nữa, khi hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết sẽ gắn ngân hàng và chủ
thẻ trong một mối quan hệ giao dịch lâu dài, đồng thời quan hệ giữa ngân
hàng và ĐVCNT cũng được gắn kết tương tự. Chừng nào thẻ tín dụng và các
giao dịch của nó còn tồn tại thì giữa ngân hàng và ĐVCNT luôn tồn tại các
giao dịch kinh tế. Việc tạo lập được những quan hệ về tín dụng, thanh toán lâu
dài trong bối cảnh môi trường kinh doanh luôn biến động khó lường là một
thế mạnh vô cùng lớn mà dịch vụ thẻ mang lại.

c) Vai trò của thẻ đối với hoạt động thanh toán của NHTM
Chức năng thanh toán của tiền tệ đang phát triển với nhiều mô thức đa
dạng, hiện đại và ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, lưu thông
hàng hoá, dịch vụ. Biểu hiện rõ nhất ở thị trường thẻ đang ngày càng khởi sắc
khẳng định phương thức thanh toán bằng thẻ đang ngày càng thâm nhập thị
trường và sẽ trở thành phương thức thanh toán chủ đạo trong tương lai. Là
một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nên thuận tiện cho ngân
hàng khi thanh toán qua thẻ, bởi khi đó lượng khách hàng trực tiếp đến ngân
hàng giao dịch thanh toán sẽ giảm,làm giảm bớt lượng công việc của nhân
viên ngân hàng. Mặt khác thẻ là một sản phẩm công nghệ cao nên tạo cho
hoạt động thanh toán của ngân hàng có tính chuyên nghiệp cao hơn, hiệu quả
hơn, an toàn hơn.
d) Vai trò của thẻ đối với thu nhập của NHTM
Trước hết, ngân hàng sẽ có một khoản thu nhập rất lớn từ các khoản phí

người sử dụng, thanh toán thẻ đang là phương thức thanh toán phổ biến và rất
được ưa chuộng nên làm tăng tính hấp dẫn của ngân hàng. Chất lượng dịch vụ
thẻ càng cao thể hiện trình độ kỹ thuật, công nghệ càng hiện đại, khả năng đáp
ứng nhu cầu của khách hàng càng lớn, càng được khách hàng đánh giá cao,
thương hiệu của ngân hàng đó càng vững mạnh. Ngoài ra, trở thành thành
viên của các tổ chức thẻ quốc tế giúp cho mỗi ngân hàng trở nên bình đẳng về
khả năng thanh toán với các ngân hàng, tổ chức tài chính khác, mở rộng khả
năng hoạt động của ngân hàng trên toàn cầu.
1.2.4.2. Đối với chủ thẻ
Cũng như các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác, người
ta sẽ không sử dụng thẻ ngân hàng nếu nó không đem lại những lợi ích nhất định nào đó. Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ mang đến cho chủ
thẻ rất nhiều tiện ích khi sử dụng.
 An toàn:
Ngày nay, khi nhu cầu thanh toán của mỗi cá nhân , tổ chức ngày càng
tăng, việc mang tiền mặt bên mình gây ra nhiều bất tiện và nguy hiểm. Việc
sử dụng thẻ đã hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra do việc sử dụng tiền
mặt đem lại. Chủ thẻ có thể thanh toán tại bất kỳ nơi nào mà không cần mang
theo tiền mặt hay séc du lịch. Hơn nữa với quy trình và nghiệp vụ thanh toán
thẻ do ngân hàng cung cấp, chủ thẻ có thể hoàn toàn yên tâm trước những
nguy cơ mất, cướp thẻ. Trong trường hợp này, nếu chủ thẻ chưa kịp thông báo
cho ngân hàng , tài khoản của chủ thẻ sẽ được bảo vệ nhờ số PIN, ảnh và chữ
ký trên thẻ…
Ngoài ra, thẻ được chế tạo dựa trên kỹ thuật mã hoá từ tính và hiện đại
nhất là công nghệ sử dụng các vi mạch điện tử nên khó làm giả, độ an toàn
cao hơn nữa khi thẻ còn có chữ ký của chủ thẻ. Do đó khi mua sắm hàng hoá,
dịch vụ chủ thẻ phải ký vào hoá đơn thanh toán để người bán so sánh với chữ
ký mẫu, đồng thời với những thông tin đã được mã hoá trên thẻ tạo nên bức

được tiền mà không phải trả lại tiền thừa và nạp luôn vào tài khoản ngân
hàng. Tiết kiệm được rất nhiều thời gian, do đó giảm được chi phí nhân công
cho ĐVCNT…
 An toàn: tránh được rủi ro tiền giả và nguy cơ bị trộm, cướp tiền mặt hay
séc tại đơn vị cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
 Tăng vòng quay vốn: Khi dữ liệu về giao dịch thanh toán được truyền tới
NHTT, lập tức giá trị giao dịch đó sẽ được ghi Có ngay vào TKTG của đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ. Số tiền đó có thể dùng được ngay vào những
mục đích kinh doanh khác, nhanh hơn nhiều so với dùng séc vì không mất
thời gian chuyển đổi. Mặt khác khi sử dụng thẻ, khách hàng không phải mua
chịu mà thanh toán ngay nên cơ sở cung ứng hàng hoá, dịch vụ thu được tiền
ngay.
Do vậy, mặc dù phải trả cho ngân hàng thanh toán một tỷ lệ chiết khấu
theo số tiền trong mỗi giao dịch, các ĐVCNT có nhiều lợi thế khi áp dụng
hình thức thanh toán này. Hình thức này sẽ mang lại cho khách hàng sự tiện
lợi, nhanh chóng, và đặc biệt an toàn. Do đó sẽ giúp các đơn vị này thu hút
một lượng khách lớn, nâng cao số giao dịch được thực hiện, giảm chi phí
quản lý tiền mặt, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh.
1.2.4.4. Đối với nền kinh tế
Thanh toán bằng thẻ sẽ làm thay đổi thói quen tiêu dùng tiền mặt trong dân
cư, thông qua đó làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, hạn chế nguy
cơ lạm phát nền kinh tế. Bên cạnh đó Ngân hàng Nhà nước sẽ dẽ dàng kiểm
soát được lượng tiền cung ứng, tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước hoạch
định các chính sách kinh tế vĩ mô, hạn chế được các hoạt động kinh tế ngầm.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
THẺ CỦA NHTM
1.3.1. Nhân tố thuộc về ngân hàng
1.3.1.1. Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ

môi trường cạnh tranh…và dựa vào nội lực của chính mình.

Trích đoạn TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG THẺ CỦA NHNTTL Nhóm giải pháp tăng cường hoạt động Marketing và chăm sóc Kiến nghị với Chính phủ Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Kiến nghị với NHNT Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status