Doanh số quảng cáo thực tế tại Việt Nam - Pdf 15

Doanh số quảng cáo thực tế tại Việt Nam
Trong năm nay, doanh số quảng cáo thực tế tại Việt Nam đã tăng vượt
xa mức dự đoán.
Lúc kinh tế khó khăn doanh nghiệp càng phải tăng chi quảng cáo để quảng
bá thương hiệu, tăng thị phần. Quan điểm này có lẽ phù hợp với thị trường
quảng cáo ở Việt Nam trong ba quí đầu năm 2009.

Tại cuộc tọa đàm về hoạt động quảng cáo do TBKTSG tổ chức hồi tháng 12-
2008, các chuyên gia đã dự báo rằng: nếu lạc quan nhất thì doanh số quảng
cáo cũng chỉ tăng trưởng 8% cho năm 2009 với điều kiện kinh tế khu vực
châu Á - Thái Bình Dương không rơi vào suy thoái nghiêm trọng như ở châu
Âu hay Mỹ.
Thế nhưng số liệu khảo sát chín tháng đầu năm nay của Công ty TNS Media
Việt Nam cho thấy thực tế khả quan hơn nhiều với tổng chi phí quảng cáo
trên các phương tiện truyền thông đại chúng đạt gần 450 triệu đô la Mỹ, tăng
26% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong sự tăng trưởng của chín tháng đầu năm nay, quảng cáo qua kênh
truyền hình tăng cao nhất: 36%, tạp chí, tuần báo tăng 5%; radio tăng không
đáng kể, ngoại trừ Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM (VOH) tăng trưởng
15%. Riêng quảng cáo qua kênh báo ngày, báo cách nhật bị giảm 4%.
Bà Trần Thị Thanh Mai, Tổng giám đốc TNS Media Việt Nam, cho biết số
liệu đo lường của TNS Media dựa trên việc đếm số lượng quảng cáo và giá
quảng cáo công bố của các chủ phương tiện truyền thông, chưa tính đến các
chính sách giảm giá (thông thường là vào khoảng 20-25% cho khách hàng
quảng cáo nhiều kỳ) hoặc các hình thức ưu đãi đặc biệt khác.
Cho nên có thể những con số trên không đúng với thực tế. Mặc dù vậy, tại
một hội nghị khách hàng của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) vừa mới
diễn ra ở Huế, một đại diện của VTV đã chính thức công bố doanh số quảng
cáo của đài tăng trưởng 30%!
Theo khảo sát của TNS Media, những ngành tăng chi quảng cáo nhiều nhất
gồm: thức uống tăng 107%; các sản phẩm gia dụng tiêu dùng nhanh tăng

chín tháng cho thấy cũng đã tăng chi 76%.
Sự phân hóa còn diễn ra ngay trong cùng ngành hàng. Theo ông Dũng, có
một số nhãn hàng nhân cơ hội các đối thủ đang chi tiêu dè dặt đã “tranh thủ”
đẩy mạnh chi quảng cáo nhằm khuếch trương thương hiệu và tăng thị phần.
Trong đó, một số doanh nghiệp trong nước đã nổi lên như Tân Hiệp Phát,
Vinamilk, Masan Food
Ông Dũng cho rằng trong khi các doanh nghiệp nước ngoài hay liên doanh
còn thận trọng trong việc điều chỉnh chiến lược và phụ thuộc cơ chế trình
duyệt ra tận “tổng hành dinh” ở nước ngoài thì các đối thủ trong nước có cơ
chế ra quyết định nhanh lẹ hơn.
Trường hợp Tân Hiệp Phát có thể xem là ví dụ tiêu biểu với mức chi phí
quảng cáo tăng gấp nhiều lần cho các nhãn hàng cũ như “Number 1” hay
“Trà xanh 0 độ”. Theo một thông tin chưa thể kiểm chứng, một sản phẩm
hoàn toàn mới trong năm nay của công ty này là “Trà Dr.Thanh” ngay thời
điểm chuẩn bị tung hàng đã dành một ngân sách quảng cáo lên đến gần 2
triệu đô la Mỹ. Ước tính mức chi quảng cáo dưới mọi hình thức cho riêng
nhãn hàng này đến nay đã lên đến con số 10 triệu đô la. Cũng theo nguồn tin
này, tổng chi phí quảng cáo chín tháng đầu năm 2009 của các nhãn hàng
thuộc Tân Hiệp Phát đã xấp xỉ 42 triệu đô la Mỹ!

Ông Dũng cho rằng chính việc tăng chi quảng cáo của một số doanh nghiệp,
một số nhãn hàng đã làm cho mức tăng trưởng doanh số ngành quảng cáo
năm nay vượt xa các dự báo.
Phân tích một số nguyên nhân khác góp phần vào sự tăng trưởng của quảng
cáo trong giai đoạn khó khăn, ông Kính cho rằng thị trường quảng cáo trong
nước có yếu tố thuận lợi là từ trước tới nay, những nhà quảng cáo hàng đầu
vẫn thuộc các ngành hàng FMCG. Điều này khác với thị trường quảng cáo ở
nhiều nước khác thường có những khách hàng lớn nhất hoạt động trong lĩnh
vực tài chính và bất động sản.
Ngoài ra, theo ông Dũng, các doanh nghiệp FMCG có khuynh hướng tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status