Quảng cáo trên mạng tại Việt Nam - Pdf 26

Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
I
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
.......................................................................................................................
1
Chơng I: Cơ sở hình thành và lợi ích của quảng cáo trên mạng
.......................................................................................................................
3
1. Khái niệm quảng cáo
3
2. Khái niệm quảng cáo trên mạng
4
3. Cơ sở cho sự phát triển của quảng cáo trên Internet
8
4. Lợi ích của quảng cáo trên mạng.......................................................11
5. Đối tợng tham gia ngành quảng cáo trên Internet................................19
Chơng II: Kỹ thuật quảng cáo trên mạng Internet......................................23
1. Các hình thức quảng cáo..................................................................23
2. Nhắm chọn đối tợng........................................................................38
3. Tổ chức một chơng trình quảng cáo trên mạng...................................42
4. Quảng cáo quốc tế trên mạng............................................................65
5. Những vấn đề pháp luật cần biết đối với nhà quảng cáo trên mạng.74
Chơng III: Quảng cáo trên mạng tại Việt Nam...........................................79
1. Lý do để phát triển quảng cáo trên mạng tại Việt Nam.................79

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này.
Cùng với sự xuất hiện và phát triển của thơng mại điện tử, quảng cáo trên Internet cũng
bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam đang bắt đầu khám phá những
sức mạnh của quảng cáo trên mạng và nó đã chứng minh những hiệu quả tuyệt vời của mình,
đặc biệt trong việc giúp các doanh nghiệp Việt Nam có đợc sự hiện diện của mình trên thị tr-
ờng thế giới. Tuy nhiên, cũng nh thơng mại điện tử, việc quảng cáo trên Internet mới chỉ hạn
chế trong một bộ phận nhỏ các doanh nghiệp. Một phần là do cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông tin
của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, một phần khác quan trọng hơn là các doanh nghiệp cha
nhận thức đợc các lợi ích của quảng cáo trên mạng và cách thức để biến phơng tiện truyền
C
1
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
thông này phục vụ cho hoạt động kinh doanh và quảng cáo của mình.
Vì vậy, mục đích của khoá luận này nhằm cung cấp một bức tranh khái quát về sự hình
thành và phát triển của quảng cáo trên mạng, cách tiến hành quảng cáo trên Internet và một cái
nhìn khái quát về tình hình ứng dụng Internet vào hoạt động quảng cáo ở Việt Nam. Khoá
luận gồm ba phần chính:
Chơng I: Cơ sở hình thành và lợi ích của quảng cáo trên Internet
Chơng II: Kỹ thuật quảng cáo trên mạng Internet
Chơng III: Quảng cáo trên mạng ở Việt Nam
Trong chơng thứ nhất, chúng ta sẽ tìm hiểu vì sao ngời ta lại coi Internet là phơng tiện
truyền thông quảng cáo tốt nhất hiện nay. Chơng thứ hai sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về
các hình thức quảng cáo hết sức đa dạng và phong phú hiện nay trên thế giới và cách thức để
thực hiện việc quảng cáo trên mạng. Chơng hai cũng là phần chính của khoá luận này. Trong
chơng cuối cùng, chúng ta sẽ nghiên cứu tình hình phát triển của quảng cáo trên mạng tại Việt
Nam, những khó khăn mà ngành quảng cáo trên mạng của Việt Nam đang gặp phải và phơng
hớng phát triển trong thời gian tới.
Do còn hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, khoá luận này khó tránh khỏi những thiếu

thông tin nh báo, tạp chí, truyền hình, đài phát thanh, bảng quảng cáo, th trực tiếp, và Internet.
Các nhà quảng cáo sử dụng các phơng tiện truyền thông để truyền đạt các thông điệp thơng
mại của mình đến các khách hàng mục tiêu, và các phơng tiện truyền thông cũng phụ thuộc rất
nhiều vào doanh thu từ hoạt động quảng cáo để duy trì hoạt động của mình. Các phơng tiện
truyền thông thờng đợc phân thành các phơng tiện thông tin đại chúng (mass media) và các
phơng tiện thông tin mang tính cá nhân (niche media). Báo, tạp chí, tivi và đài đợc coi là các
3
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
phơng tiện thông tin đại chúng bởi chúng có thể truyền các thông điệp đến một số lợng lớn
khán giả trên diện rộng. Khả năng truyền tin rộng rãi của các phơng tiện thông tin đại chúng đã
giúp cho chúng trở thành những phơng tiện quảng cáo lý tởng cho các nhà quảng cáo muốn
tiếp cận một số lợng lớn khán giả mục tiêu.
Các phơng tiện quảng cáo khác nh truyền hình cáp và th trực tiếp thờng đợc coi là các
phơng tiện truyền thông cá nhân bởi chúng tiếp cận tới một số ít khán giả xác định trớc với
những đặc điểm nhân khẩu học riêng biệt hoặc các sở thích đặc biệt. Th trực tiếp có thể sử dụng
để tiếp cận tới hầu hết các khán giả với các thông điệp đã đợc cá nhân hóa.
Internet trở thành một phơng tiện tiếp thị và quảng cáo từ năm 1994. Internet khác với
các phơng tiện truyền thông khác trên nhiều phơng diện. Internet vừa là phơng tiện thông tin cá
nhân lại vừa là phơng tiện thông tin đại chúng. Với các đặc tính u việt của mình, Internet đã trở
thành một phơng tiện quảng cáo cao cấp và hiệu quả nhất hiện nay.
2.
Khái niệm quảng cáo trên mạng
2.1. Khái niệm quảng cáo trên mạng
Khái niệm về quảng cáo trên Internet đã đợc phát triển và thay đổi liên tục trong suốt
quá trình hình thành và phát triển của nó. Ban đầu ngời ta định nghĩa nó là sự tổng hợp của tất
cả các ngành. Quảng cáo trên mạng kết hợp hiệu quả cả các yếu tố in ấn, hình ảnh của báo chí
cũng nh âm thanh chuyển động của truyền hình. Ngời ta đã tranh cãi rất nhiều về việc liệu
quảng cáo trên mạng giống hình thức quảng cáo truyền thống nhằm gây sự chú ý hay giống


5
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
Nhóm quảng cáo của hãng American Online đã hoàn thiện hơn nữa khái niệm về quảng
cáo trên mạng:
Quảng cáo trên mạng là sự kết hợp vừa cung cấp nhãn hiệu, cung cấp thông tin và
trao đổi buôn bán ở cùng một nơi .
2.2. Sơ lợc quá trình lịch sử của quảng cáo trên mạng
Lịch sử của quảng cáo trên mạng diễn ra trong thời gian rất ngắn bắt nguồn từ sự ra đời
của hãng Prodigy dịch vụ thơng mại trên mạng, trải qua thời kỳ bùng nổ dịch vụ và th điện tử,
tới khi ra đời hãng HotWired, ban đầu là công ty con trên mạng của tạp chí Wired.
2.2.1. Giai đoạn đầu
Vào giữa thập kỷ 80, những dịch vụ trực tuyến dựa trên thuê bao nh Computer Serve,
Genie hay Delphi đã có hàng nghìn ngời sử dụng. Những dịch vụ này dựa trên các mô hình
trả phí sử dụng gồm có lệ phí truy cập hàng tháng và giá nối mạng tính theo giờ. Các dịch vụ
này không có quảng cáo, chỉ có những chơng trình mua hàng trực tuyến đầu tiên và đây chính
là bớc đệm mở đờng cho thơng mại điện tử trên Internet. Công ty đầu tiên phát
triển mô hình
sử dụng quảng cáo nh nguồn doanh thu chính là một công ty đợc thành lập bởi ba công ty
CBS, IBM
và Sear vào năm 1984. Công ty này ban đầu có tên là TRINTEX sau đổi thành
Prodigy. Năm 1986, Prodigy giới thiệu dịch vụ đầu tiên cho phép sử dụng không hạn chế với
số lệ phí hàng tháng không tính phụ trội (giá cố định) và công ty này tin tởng rằng phí quảng
cáo và giao dịch đóng vai trò quan trọng trong mô hình doanh thu này.
6
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet

Canter and Siegel đã nhận đợc một th mục đầy ắp những email phản đối ý tởng của họ
(một hành động đợc coi là quá khích) và họ cũng nhận đợc sự phản đối của những ngời
tham gia Internet không muốn mạng bị ảnh hởng bởi những vấn đề mang tính thơng mại. Chỉ
trong 18 giờ đồng hồ, nhà cung cấp dịch vụ Internet của họ đã nhận đợc 30.000 th phản đối
làm ngừng trệ account của họ. Tiếp đó, Canter and Siegel lập account với hai nhà cung cấp
dịch vụ Internet khác, khẳng định rằng họ sẽ đa ra nhiều quảng cáo hơn nữa. Nhng lần này họ
nhận đợc tờ bìa ghi tên vào sổ đen của cộng đồng Internet. Hai nhà cung cấp dịch vụ Internet
đã phải từ chối cung cấp account cho hãng này để tránh các email chỉ trích khác.
2.2.3. Giai đoạn tiếp nhận quảng cáo
Sau khi quảng cáo của Canter and Siegel thất bại, tạp chí Wired đã khai trơng
HotWired, một tổ chức bán mẫu quảng cáo trên mạng. Nhng vì sợ phản đối, hãng này đã
giảm diện tích trên màn hình cho hình thức quảng cáo ban đầu dạng biểu ngữ của mình.
HotWired đã ký hợp đồng quảng cáo đầu tiên với hãng AT&T vào tháng 4/1994 và thiết lập
site của mình vào tháng 10/1994. Điều thú vị là HotWired không bị phản đối về Website đang
đợc thiết lập trên mạng của mình và cũng không ai chỉ trích các quảng cáo đó.
8
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
Vào cuối năm 1996, đối với các nhà sản xuất trên mạng, quảng cáo là một thành tố
quan trọng trong các mô hình kinh doanh. Dòng doanh thu duy nhất lớn đối với phần lớn các
Website là từ quảng cáo. Vào năm 1997, quảng cáo trên Internet đã rất phát triển, doanh thu từ
quảng cáo tăng từ 267 triệu đô la vào năm 1996 lên đến gần một tỷ đô la vào năm 1997. Năm
1998, doanh thu từ quảng cáo trên mạng đã tăng gấp đôi. Tỷ lệ tăng trởng bình quân của
quảng cáo trên mạng mỗi năm hơn 100%, lợi nhuận thu đợc tăng nhanh chóng từ 2 tỷ năm
1998 lên đến bình quân 8 tỷ USD/ năm hiện nay. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, 33 tỷ USD
sẽ đợc chi cho quảng cáo trên mạng đến năm 2004. Khu vực Châu á - Thái Bình Dơng sẽ chi
3,3 tỷ USD cho quảng cáo trên mạng, chiếm 5,9% ngân sách quảng cáo của khu vực năm
2004
(1)

Ngày càng có nhiều ngời xem truyền hình chuyển sang sử dụng thời gian rảnh rỗi của
mình bên chiếc máy tính để truy cập vào mạng thay vì ngồi bên chiếc tivi nh trớc kia. Một
nghiên cứu thực hiện vào mùa thu năm 1996 đã chỉ ra rằng 3/4 số ngời sử dụng máy tính cá
nhân sẵn sàng từ bỏ tivi để dành nhiều thời gian hơn bên chiếc máy vi tính của mình. Công ty t
vấn Forrester Research đã thăm dò ý kiến của 17.000 ngời ở Anh, Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển và
Pháp thì 80% số ngời rất quan tâm và thích thú trớc sự tiến triển của kỹ nghệ truyền thông.
Theo kết quả một cuộc thăm dò do Lois Harris tiến hành trên tờ Tuần báo kinh doanh
(Business Week) của Mỹ năm 1998, thì 48% ngời sử dụng Internet dành ít thời gian hơn cho
việc xem tivi, 26% dành ít thời gian hơn cho việc đọc sách báo. Thời gian ngời ta dành cho
Internet cũng đang tăng lên nhanh chóng. Chẳng hạn nh ở Mỹ là nớc có tỷ lệ ngời sử dụng
Internet nhiều nhất thế giới, năm 1998 trung bình một ngời sử dụng Internet 5,4 giờ/tuần, 23%
trong số đó sử dụng hơn 11 giờ/tuần và 83% số này truy cập mạng hàng ngày. Ngày nay số
(2)
www.thuong maidientu.com).
10
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
thời gian mà ngời ta dành cho Internet đã tăng lên gần gấp đôi. Năm 2000 là 9,4 giờ/tuần và
năm 2001 là 9,8 giờ/tuần
(3)
.
Việc sử dụng Internet đã thu hút một số lợng ngời lớn hơn bất cứ hoạt động nào liên
quan tới máy vi tính. Trong khi các trò chơi thu hút hầu hết những ngời trẻ tuổi hơn và những
phần mềm hữu ích thu hút phần lớn giới lớn tuổi hơn thì Internet đợc mọi ngời ở mọi lứa tuổi,
từ trẻ con đến ngời già yêu thích. Sở dĩ nh vậy là vì Internet có thể đem lại cho họ rất nhiều tiện
ích mà các phơng tiện truyền thông khác không thể làm đợc. Ngời ta sử dụng Internet để tìm
kiếm thông tin, nghiên cứu tài liệu, mở th điện tử, mua cổ phiếu, đầu t, tìm kiếm việc làm, lập
ra cửa hàng trên trang Web, tham gia đấu thầu, mua tặng phẩm và vé máy bay đi nghỉ phép hay
du lịch. Internet hiện là phơng tiện rất hữu hiệu trong quan hệ đối tác. Internet cũng chính là

mạng
Quảng cáo trên mạng là một ứng dụng của thơng mại điện tử và chính sự phát triển của
TMĐT, đặc biệt là các hoạt động mua bán trên mạng, đã thúc đẩy nhu cầu quảng cáo trên
mạng của các doanh nghiệp. Trên thực tế, ngay cả khi các doanh nghiệp cha có điều kiện để
tham gia vào hoạt động kinh doanh trực tuyến, các doanh nghiệp cũng vẫn thờng tiến hành
quảng cáo trên mạng nh một bớc chuẩn bị ban đầu cho việc chính thức gia nhập vào đội ngũ
kinh doanh trên mạng của mình.
Vào năm 1996, 15 Website đợc nhiều ngời truy cập nhất đều là Website giáo dục, trong
danh sách này không có Website thơng mại nào. Đến năm 1998- 1999, cả 15 Website đợc
nhiều ngời truy cập nhất đều là các Website cung cấp nội dung và thơng mại. Việc chuyển đổi
lên nền kinh tế mạng đang diễn ra nhanh hơn ngời ta có thể dự tính. Số ngời tiêu dùng trực
tuyến đã tăng từ 70 triệu ngời năm 1998 lên đến 225 triệu ngời năm 2002. Số trang Web đang
tăng lên nhanh chóng từ 1 tỷ lên tới 7,5 tỷ. Doanh số thơng mại điện tử tăng lên với tốc độ rất
cao, năm 1996 là 1,3 tỷ USD, năm 1998 là 15 tỷ USD. Đến năm 2001, các giao dịch thơng
mại điện tử trên toàn cầu đã tạo ra thu nhập trên 615 tỷ USD. Doanh số kinh doanh điện tử
trung bình cho mỗi khách hàng tăng từ 1.200 USD lên 3.300 USD, giá trị kinh doanh thơng
mại B2B tăng từ 50 tỷ USD năm 1998 lên 800 tỷ năm 2002. Trong năm 2001, một nửa trong
tổng số những ngời truy cập Internet (250 triệu ngời) đã thực hiện mua bán trực tuyến trên
mạng
(4)
.
(4) Theo báo tin học và đời sống số5/2002
12
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
3.3. Sự phát triển các tiêu chuẩn của các mục, kích thớc và việc nghiên cứu các quảng
cáo trên Internet
Sở dĩ trớc đây các nhà quảng cáo thờ ơ với quảng cáo trên mạng là vì họ cha quen với
hình thức quảng cáo mới và vì nó thiếu những tiêu chuẩn về khả năng ớc lợng và tính toán. Sự

số lợng lớn các khách hàng tiềm năng. Những nhà kinh doanh nhạy cảm đã nhận thấy Internet
không chỉ là một mạng thông thờng. Nó là một thị trờng toàn cầu. Với một trang Web, cả thế
giới đều có thể truy cập vào gian hàng trên mạng của công ty. Nhờ vậy mà các quảng cáo trên
mạng có thể tiếp cận với hàng trăm triệu ngời sử dụng Internet từ khắp nơi trên thế giới.
Thứ hai, mạng là sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà quảng cáo. Một doanh nghiệp
nhỏ có thể có một trang chủ cho hoạt động thơng mại của mình hiệu quả nh trang chủ của
một công ty lớn. Chi phí cho việc truy cập và xây dựng các quảng cáo trên mạng tơng đối thấp
đã giúp cho điều này trở thành hiện thực.
Thứ ba, Internet chứa đựng khả năng của một phơng tiện tryền thông mang tính đa ph-
ơng tiện. Nó giúp cho các quảng cáo trên mạng đợc trình bày hiệu quả và ấn tợng hơn hẳn so
với các phơng tiện truyền thông khác. Một trang chủ trên mạng cho phép ta có thể trình bày
một cách phức tạp và tinh vi một sản phẩm của công ty. Tất cả các thông tin có thể viết và trình
bày theo thể thức của phơng tiện in ấn nh báo chí, tạp chí, tờ rơi cũng có trong quảng cáo
Internet. Công nghệ hình ảnh và âm thanh chuyển động kết hợp với máy móc và các kênh
phát mới, tốc độ cao hơn giúp cho việc đa ra âm thanh, nhạc, hình ảnh thuận tiện nh trên tivi
và ngày càng dễ truy cập hơn. Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể dễ dàng di chuột và nhấn
chuột để kết nối tới các thông tin khác. Những kết nối này có thể bao gồm các thông tin nh
bảng giá, catalogue, các hớng dẫn, hình ảnh trng bày về sản phẩm và một mẫu đơn đặt hàng
điện tử.
14
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
Thứ t, Internet vừa mang các đặc điểm của phơng tiện truyền thông đại chúng lại vừa
mang đặc điểm của phơng tiện thông tin cá nhân. Internet kết hợp khả năng chuyển tải các
thông điệp tới một số lợng lớn độc giả của các phơng tiện truyền thông đại chúng với khả
năng phản hồi và tơng tác của các phơng tiện thông tin các nhân. Nhờ có bản chất tơng tác
của Internet, ngời sử dụng có thể đóng một vai trò tích cực hơn trong quá trình thông tin so với
các phơng tiện truyền thông khác. Đây là một đặc trng mà các phơng tiện thông tin đại chúng
khác không thể có đợc. Trong khi đặc trng việc cung cấp thông tin của các phơng tiện truyền

Quảng cáo trên Internet có tất cả các đặc điểm của các hình thức quảng cáo trên các ph-
ơng tiện truyền thông khác, bên cạnh đó nó còn có những đặc tính và khả năng mà các hình
thức quảng cáo khác không có đợc.
Khả năng nhắm chọn. Nhà quảng cáo trên mạng có rất nhiều khả năng nhắm
chọn mới. Họ có thể nhắm chọn vào các công ty, các quốc gia hay khu vực địa lý, cũng nh
họ có thể sử dụng cơ cở dữ liệu để làm cơ sở cho tiếp thị trực tiếp. Họ cũng có thể dựa vào
sở thích cá nhân và hành vi của ngời tiêu dùng để nhắm vào đối tợng thích hợp.
Khả năng theo dõi. Các nhà tiếp thị trên mạng cũng có thể theo dõi hành vi của
ngời sử dụng đối với nhãn hiệu của họ và tìm hiểu sở thích cũng nh mối quan tâm của
những khách hàng triển vọng. Ví dụ, một hãng sản xuất xe hơi có thể theo dõi hành vi của
ngời sử dụng qua site của họ và xác định xem có nhiều ngời quan tâm đến quảng cáo của
họ không.

Khả năng cảm nhận về nội dung. Quảng cáo trên mạng dựa trên các nội dung
có liên quan tới những thông tin mà khách hàng tìm kiếm. Điều này làm tăng khả năng
16
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
chọn lựa và lợi ích cho khách hàng đồng thời làm cho các quảng cáo trên Internet hiệu quả
và sinh lợi hơn các phơng tiện khác.
Tính tơng tác. Quảng cáo trên mạng mang tính tơng tác của mạng Internet.
Chúng cho phép sự trao đổi thông tin hai chiều và cung cấp nhiều tầng thông tin cũng nh
tạo ra mối liên hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng. Quảng cáo trên Internet cung
cấp các thông tin theo yêu cầu của ngời sử dụng và cho phép ngời sử dụng xem các quảng
đó theo tốc độ của họ hoặc cho phép họ vừa nghỉ ngơi vừa xem chúng. Nhờ đó mà quảng
cáo trên Internet lôi cuốn ngời xem hơn các loại hình quảng cáo khác. Ngời sử dụng có thể
bắt đầu việc mua bán của mình bằng cách truy cập vào một trang Web và nhấn chuột vào
các liên kết siêu văn bản để lấy thông tin. Khách hàng có thể cung cấp thông tin phản hồi
lại cho các quảng cáo, có thể yêu cầu đợc tiếp nhận thêm thông tin hoặc yêu cầu không

báo chí, chỉ có thể thay đổi quảng cáo khi có đợt xuất bản mới, hay quảng cáo tivi với mức
chi phí rất cao cho việc thay đổi quảng cáo thờng xuyên. Mỗi khi công ty cần thay đổi hoặc
cập nhật các tài liệu in ấn, các sách giới thiệu về sản phẩm và công ty, các ca-ta-lô, công ty
cần phải in lại tất cả và phải trả một khoản chi phí lớn. Trong khi đó các trang Web có thể
dễ dàng nhanh chóng cập nhật những thông tin mới nhất về sản phẩm và công ty của bạn
với một mức chi phí hết sức nhỏ bé so với những gì phải bỏ ra trớc đây.
Bảng 1: So sánh Internet với các phơng tiện quảng cáo khác.
Loại phơng
tiện truyền
thông
Khả năng tiếp
cận khách
hàng
Khả năng
nhắm chọn
Khả năng tạo
phản hồi từ
khách hàng
Khả năng cung
cấp thông tin
Chi phí
Khả năng đánh
giá hiệu quả
quảng cáo
Báo chí cao trung bình thấp trung bình cao thấp
Tạp chí trung bình cao thấp trung bình cao trung bình
Tivi rất cao thấp rất thấp thấp thấp thấp
Đài cao thấp rất thấp rất thấp thấp rất thấp
Internet thấp cao rất cao rất cao rất thấp rất cao
Nguồn: />4.3. Khả năng tạo nhãn hiệu của quảng cáo trên mạng

2. Tạp chí 29%
3. Banner 14%
Tăng mối quan tâm của khách hàng
đến sản phẩm
1. Tivi 46%
2. Banner 44%
3. Tạp chí 44%
Nguồn: Internet Advertising effectiveness report, Morgan Stanley Dean Witter, 2/2001.
Sau lần xuất hiện đầu tiên, quảng cáo trực tuyến dờng nh đợc chú ý nhiều hơn so với
quảng cáo trên tivi và tạp chí. Tivi và tạp chí là các phơng tiện truyền thông thụ động không đòi
hỏi sự quan tâm, chú ý của ngời xem. Với phơng tiện trực tuyến, ngời xem chú ý và tham gia
một cách tích cực.
Quảng cáo trực tuyến cũng cung cấp khả năng to lớn để cải thiện cảm nhận của khách
hàng về nhãn hiệu hàng hoá. Trong một nghiên cứu về hiệu quả của quảng cáo trên mạng vào
năm 1997 do MBinteractive thực hiện cho IBA đã cho thấy sau khi một quảng cáo dạng biểu
ngữ của Volvo xuất hiện một số ngời nghĩ rằng Volvo là một loại ô tô tốt tăng lên 55%, số ngời
đánh giá xe Volvo cao hơn các loại ô tô khác tăng lên 44%, số ngời nghĩ rằng Volvo có điểm
khác các loại ô tô khác tăng lên 5%.
Tuy nhiên, xét hiệu quả về mặt chi phí, quảng cáo banner không hiệu quả bằng tivi, tạp
19
Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
chí và báo chí trong việc tăng nhận thức của khách hàng về nhãn hiệu, tăng khả năng nhớ của
khách hàng đối với nhãn hiệu và tăng mối quan tâm của khách hàng đối với sản phẩm. Tuy
nhiên, và quan trọng hơn cả, quảng cáo banner hiệu quả hơn quảng cáo trên tạp chí và tivi 40-
80% đối với việc tăng khả năng nhớ nhãn hiệu và tăng mối quan tâm của khách hàng đối với
sản phẩm, mặc dù vẫn kém hiệu quả hơn so với tạp chí trong việc tăng nhận thức nhãn hiệu của
khách hàng khoảng 20%.
Bảng 3: So sánh hiệu quả về mặt chi phí trong việc tạo nhãn hiệu của các phơng tiện

Đỗ Thị Kim Yến
A4- K37
Quảng cáo trên mạng Internet
chiến dịch quảng cáo của mình. Chi phí để cung cấp thông tin cho khách hàng trên phạm vi
toàn cầu một cách nhanh chóng ít hơn rất nhiều so với chi phí in ấn và quảng cáo trên đài và
tivi. Qua Internet nhà doanh nghiệp có thể gửi danh thiếp đến hàng nghìn, hàng triệu khách
hàng, giới thiệu những gì mình cung cấp và khi ai đó có nhu cầu thì liên hệ với anh ta ở
đâu.Việc đa sản phẩm hoặc dịch vụ lên mạng sẽ giúp cho khách hàng có thể nhanh chóng tiếp
cận đợc những thông tin chi tiết về công ty mà công ty không cần phải tốn công tiếp xúc với
họ. Thử nghĩ xem một công ty đã bỏ ra bao nhiêu tiền cho các quảng cáo dới dạng các tờ rơi,
các sách giới thiệu về sản phẩm và công ty, các catalogue, đấy là còn cha kể đến phí bu điện.
Với con số hơn 500 triệu ngời truy cập vào mạng Internet hiện nay, chỉ cần 20% số khách hàng
tiềm năng đó viếng thăm Website của công ty thì cũng đã tiết kiệm đợc 20% chi phí in ấn và b-
u phí. Khoản tiết kiệm này sẽ tiếp tục nhân lên nếu trong tơng lai công ty còn tiếp tục quảng
cáo trên mạng.
Bên cạnh đó, quảng cáo trên mạng có thể hoạt động 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày trong một
tuần và 365 ngày trong một năm và cho phép công ty tiếp cận đợc với các thị trờng mục tiêu
cụ thể. Bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều có thể xem trang Web của công ty và nhận
đợc những thông tin mà họ yêu cầu mà không cần quan tâm đó có phải là giờ làm việc của
công ty hay không. Ngoài ra các khách hàng cũng không bao giờ "ngủ". Khi một ngời sử dụng
Internet ở New York đi ngủ thì ở Nhật Bản một ngời khác lại thức dậy. Chỉ cần xem số lợng
ngời vô cùng lớn sẽ truy cập và tìm hiểu công việc của công ty vào bất cứ thời gian nào, ban
ngày cũng nh ban đêm thì có thể thấy rằng Internet là một phơng tiện cực kỳ tiết kiệm chi phí
để quảng cáo cho sản phẩm hay dịch vụ củamột công ty.
Internet còn giúp cho việc liên lạc hiệu quả và tiết kiệm đợc rất nhiều thời gian cho công
ty. Quảng cáo không chỉ và không bao giờ chỉ đơn thuần là việc cung cấp thông tin cho khách
hàng, nó là một bộ phận của cả chiến lợc marketing của công ty. Vì vậy việc liên lạc với khách
hàng để đáp ứng và trả lời các yêu cầu của họ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cả
chiến dịch quảng cáo, đặc biệt khi quảng cáo trên mạng còn có cả chức năng bán hàng. Internet
giúp công ty tiết kiệm đợc thời gian và tiền bạc bằng cách trả lời trớc rất nhiều câu hỏi cho

thống kê, năm 2001 một nửa những ngời truy cập Internet đã thực hiện mua bán trên mạng.
Bên cạnh đó, do dành nhiều thời gian cho Internet, những ngời này dành ít thời gian hơn cho
các phơng tiện truyền thông khác. Nếu muốn tiếp cận với một nhóm dân số mục tiêu này, một
nhà quảng cáo sẽ mất nhiều thời gian hơn để tiếp cận nếu thông qua tivi hay báo chí.
Quảng cáo trên mạng là giấc mơ của bất kỳ nhà quảng cáo nào: tiếp cận đơn giản và rẻ
(5) UNDP- Human Development Report 2001
22

Trích đoạn Cơ sở cho sự hình thành và những thuận lợi cho sự phát triển của Khái quát tình hình phát triển của quảng cáo trên mạng tại Việt Nam Các vấn đề pháp luật liên quan đến quảng cáo trên mạng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status