Đề tài : Bố cục hình ảnh, văn bản trên giao diện người – máy có một số loại chính nào ? - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LỚP : DH TINK3
Bài Thảo Luận Môn
Truyền thông đa phương tiện
Giáo viên hướng dẫn : Thạc sĩ.Trần Bích Thảo
Đề tài : Bố cục hình ảnh, văn bản trên giao diện người – máy có một số loại
chính nào?
Sinh viên thực hiện :
1 . Nguyễn Xuân Thắng
2 .Nguyễn Văn Nhân
Nội dung chính :
I . Giới thiệu chung .
II . Bố cục văn bản trên giao diện người - máy .
III . Bố cục hình ảnh trên giao diện người - máy .
Bài làm :
I . Giới thiệu chung .
- Đa phương tiện (Multimedia): thông tin kết hợp từ nhiều dạng và được thể hiện một cách đồng
thời.những thong tin đó bao gồm các phương tiện:
+ văn bản
+ hình ảnh
+ âm thanh
+ hình động
- Các sản phẩm thể hiện thông tin đa phương tiện được gọi là sản phẩm đa phương tiện . Ta thường
hiểu sản phẩm đa phương tiện là sản phẩm được tạo bằng máy tính và phần mềm máy tính.
- Một số ví dụ về đa phương tiện
+ Khi thầy cô giảng bài: vừa nói (dạng thông tin âm thanh), vừa viết (dạng thông tin văn bản)
+ Quyển truyện tranh :(thông tin dạng văn bản , hình ảnh)
+ Biển quảng cáo: (thông tin dạng văn bản , hình ảnh)
+ Trang web: (thông tin dạng văn bản , hình ảnh , ảnh động , ….)
+ phần mềm trò chơi : (thông tin dạng văn bản , hình ảnh)

- Mã ISO: Do tổ chức IOS (The International Organization for Standardization) xuất; Sử dụng 32
bit để mã hóa các ký hiệu, nâng tổng số ký hiệu được mã hóa lên 4.294.967.296 (232), đủ để mã
hóa mọi ký hiệu của các ngôn ngữ trên thế giới.
- Chữ số (Numbers): Cũng được mã hóa như dạng văn bản. Tuy nhiên, bộ ASCII không sử dụng
các mã cho các chữ số mà một số sẽ được biến đổi sang số nhị phân. Đây là lý do để đơn giản
trong việc tính toán số học trên các chữ số.
* Bố cục chuẩn của một văn bản soạn thảo :
1. Xác định phạm vi và đối tượng áp dụng
- Được áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế và đơn vị vũ trang nhân dân (gọi chung là cơ quan, tổ chức).
2. Thể thức văn bản
- Thể thức văn bản là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản, bao gồm những thành phần
chung áp dụng đối với các loại văn bản và các thành phần bổ sung trong những trường hợp
cụ thể hoặc đối với một số loại văn bản
- Ví dụ : trình bày 1 thông tư liên tịch của chính phủ
a. Quốc hiệu
Quốc hiệu ghi trên văn bản bao gồm 2 dòng chữ:
“Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.
b. Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản
Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và
tên của cơ quan, tổ chức chủ quản cấp trên trực tiếp (nếu có). Tên của cơ quan, tổ chức ban
hành văn bản phải được ghi đầy đủ theo tên gọi chính thức căn cứ văn bản thành lập .
c. Số, ký hiệu của văn bản
- Số, ký hiệu của văn bản
Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hành .
- Ký hiệu của văn bản bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản theo Bảng chữ
d. Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản
- Địa danh ghi trên văn bản là tên gọi chính thức của đơn vị hành chính (tên riêng của tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị

văn bản (trừ trường hợp đối với luật và pháp lệnh); trong các lần viện dẫn tiếp theo, có thể ghi
tên loại và số, ký hiệu của văn bản đó.
g. Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền
- Chức vụ của người ký
h. Dấu của cơ quan, tổ chức
i. Nơi nhận
- Nơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản với mục đích và
trách nhiệm cụ thể như để kiểm tra, giám sát; để xem xét, giải quyết; để thi hành; để trao đổi
công việc; để biết và để lưu.
J. Dấu chỉ mức độ khẩn, mật
- Dấu độ khẩn phải được khắc sẵn theo hướng dẫn tại điểm k khoản 2 Mục III của Thông tư
này. Mực dùng để đóng dấu độ khẩn dùng mực màu đỏ tươi.
k. Các thành phần thể thức khác
Các thành phần thể thức khác của văn bản bao gồm:
- Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ E-Mail; địa chỉ trên mạng (Website); số điện thoại, số Telex,
số Fax đối với công văn, công điện, giấy giới thiệu, giấy mời, phiếu gửi, phiếu chuyển để tạo
điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ;
3. Kỹ thuật trình bày văn bản
- được áp dụng đối với văn bản được soạn thảo trên máy vi tính sử dụng chương trình soạn thảo
văn bản (như Microsoft Word for Windows) và in ra giấy .
a. Khổ giấy : ví dụ
+ Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính được trình bày trên giấy khổ A4 (210
mm x 297 mm).
+ Các loại văn bản như giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển có thể
được trình bày trên giấy khổ A5 (148 mm x 210 mm) hoặc trên giấy mẫu in sẵn.
b. Kiểu trình bày : ví dụ
+ Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính được trình bày theo chiều dài của trang
giấy khổ A4 (định hướng bản in theo chiều dài).
+ Trường hợp nội dung văn bản có các bảng, biểu nhưng không được làm thành các phụ lục
riêng thì văn bản có thể được trình bày theo chiều rộng của trang giấy (định hướng bản in

giữa, kết quả phải được trả lên màn hình ngay lập tức. Khi xoá, các ký tự, dòng chữ bị xoá phải
biến mất ngay, đồng thời phần văn bản còn lại phải được sắp xếp lại cho nhất quán. Trong các
hệ thống dòng lệnh, để xem lại văn bản sau khi xoá, ta phải thực hiện một lệnh.
+ Đáp lại và hiển thị nhanh chóng: hầu hết các hệ soạn thảo đều làm việc ở tốc độ cao; hiển thị
toàn trang chỉ tính bằng phần nhỏ của giây. Khả năng đáp ứng và hiển thị ở tốc độ cao tạo ra
cảm giác mạnh mẽ và thoả mãn. Con trỏ có thể di chuyển nhanh chóng, toàn bộ văn bản có thể
được rà soát, hiệu ứng các tác động gây ra được hiển thị gần như tức thì, những đáp ứng nhanh
như vậy giảm những thao tác phụ không cần thiết và bởi vậy đơn giản hoá việc thiết kế và học.
+ Dễ dàng quay lui: Khi người sử dụng nhập một dòng văn bản, họ có thể sửa chữa những ký
tự nhầm lẫn bằng cách xoá hoặc viết đè. Quan điểm thiết kế tạo ra những hành động ngược hoặc
lệnh Undo, cho phép huỷ bỏ những hiệu ứng của hành động vừa thực hiện, giảm sự căng thẳng
của người sử dụng trước mỗi thao tác.
III .Bố cục hình ảnh trên giao diện người – máy :
- Hình ảnh (Images)
Một hình ảnh được phân chia thành ma trận các điểm ảnh (các phần tử ảnh), mỗi một điểm ảnh
là một pixel. Kích thước của điểm ảnh phụ thuộc vào độ phân giải. Mỗi điểm ảnh được mã hóa
bởi một nhóm các bit, số lượng bit dùng để mã hóa điểm ảnh phụ thuộc hình ảnh.
Đối với ảnh trắng đen: Nếu một ảnh được tạo bởi các điểm ảnh trắng và đen thì ta chỉ cần dùng 1
bit để mã hóa điểm ảnh là đủ (bit 1: điểm trắng, bit 0: điểm đen). Trong trường hợp ta dùng 2 bit
để mã hóa một điểm ảnh, thì cặp giá trị 00 đại diện cho điểm đen, 11 đại diện điểm trắng, 01 đại
diện cho điểm xám đậm và 10 đại diện cho điểm xám sáng.
Ảnh đen trắng: chỉ bao gồm 2 màu đen và trắng. Người ta phân biệt sự biến đổi đó thành L mức:
Nếu L=2: Nghĩa là chỉ có 2 mức, mức 1 ứng với màu tối. Ta gọi đây là ảnh nhị phân.
Nếu L>2: Ta gọi đây là ảnh đa cấp xám (ảnh xám).
Thông thường, mỗi pixel mang thông tin của 256 mức xám. Trong hầu hết quá trình xử lý ảnh,
chúng ta chủ yếu chỉ quan tâm đến cấu trúc của ảnh và bỏ qua ảnh hưởng của yếu tố màu sắc.
Do đó, bước chuyển từ ảnh màu sang ảnh xám là một công đoạn phổ biến trong các quá trình xử
lý ảnh, vì nó làm tăng tốc độ xử lý, giảm độ phức tạp của các thuật toán trên ảnh.
Đối với ảnh màu: mỗi một điểm ảnh màu được phân tích dựa trên 03 màu cơ bản là đỏ (Red),
xanh lá cây (Green) và xanh lam (Blue) gọi tắt là RGB. Khi cường độ của mỗi màu được thống

kinh điển về người khổng lồ, tí hon. Tay máy khi đứng trước bối cảnh hoành tráng hay vật
thể quá lớn, anh ta dễ bị ngợp tới mức quên mất là cần một vật thể so sánh. Kết quả là bức
ảnh sẽ còn cảm xúc mà anh ta đã trải nghiệm, mọi thứ sẽ chỉ giống như cảnh trên bàn hay
những món đồ chơi của trẻ con.
+Tạo sức hút cho điểm nhấn của bức ảnh
Vùng trọng tâm hay điểm nhấn của bức ảnh được thể hiện bằng kỹ thuật tạo độ tương phản,
hay đường dẫn hướng. Theo nguyên lý thị giác thì điểm tương phản nhất trong khuôn hình sẽ
thu hút thị giác, vùng xẫm sẽ nặng và hút mắt hơn khoảng nhạt trắng. Mặt khác, ánh mắt
người xem cũng sẽ di chuyển theo hướng chiếu của tia sáng trong khuôn hình, tức là đi từ chỗ
nhạt nhất đến chỗ đậm nhất. Những đường cong, nét chéo kết thúc tại điểm nhấn sẽ dẫn ánh
mắt người xem đến đó. Tuy nhiên, chúng cũng có thể gây hậu quả phân tán và khó hiểu nếu
chỉ lệch hướng tới chủ đề chính.
Bố cục đường dẫn.
Trong bố cục cổ điển, điểm mạnh của bức ảnh thường được đặt ở toạ độ giao nhau của đường
1/3 dọc và 1/3 ngang bức ảnh (gần 4 góc khuôn hình). Cách sắp xếp này đặc biệt phù hợp với
cỡ phim 35 mm. Nhiếp ảnh hiện đại không bị lệ thuộc vào những công thức cổ điển. Thậm
chí, những tay máy cách tân còn cố tính đặt chủ đề vào những vị trí oái oăm và điều đó lại
gây sự chú ý và ấn tượng về bức ảnh. Thực ra, những tay máy này phải rất hiểu về Tỷ Lệ
Vàng để có thể làm điều ngược lại và tạo nên hiệu quả thú vị. Giá trị cao nhất mà nhiếp ảnh
hiện đại nhắm tới không hoàn toàn là cái đẹp, mà là cảm xúc và ấn tượng.
+ Đặc tính về cân bằng và trạng thái
Sự cân bằng trong bức ảnh sẽ quyết định trạng thái tĩnh hoặc động của nó. Nếu thủ pháp sử
dụng đường chân trời nằm ngang chính giữa bức ảnh nhằm tạo nên cảm xúc tĩnh lặng, thì khi
đặt nghiêng, đưa lên cao hay hạ xuống thấp sẽ cho hiệu quả động. Bức ảnh nhiều trời ít đất
thì tạo cảm xúc nhẹ nhõm thanh cao. Còn khi đảo tỷ lệ này, những hiệu quả sẽ ngược lại. Mắt
người xem có một đặc tính là bị thu hút theo hướng chuyển động của chủ đề. Do vậy, trong
bố cục cổ điển các chuyển động phải hướng vào trong bức ảnh. Nhưng các nhiếp ảnh gia hiện
đại lại không muốn người xem thấy ngay mọi thứ, họ đòi hỏi sự quan sát và suy ngẫm về
thông điệp của bức ảnh, nên họ có thể không tuân thủ quy tắc này.
Tận dụng nét lượn chữ S.

một bối cảnh mờ nhoà. Nhiều khi một bức ảnh nét suốt từ cận cảnh tới vô cự không tạo cảm
giác sâu bằng bức macro nét cạn, chính phần vật thể bị mờ lại tạo cảm giác về hình khối và
chiều sâu không gian. Một bức ảnh bố cục tốt có thể bao gồm nhiều lớn không gian với các
tone màu và cường độ chiếu sáng khác nhau. Kỹ thuật phổ biến là sử dụng cận cảnh làm
khuôn hình, nhưng nếu không tìm được những mẫu khung đặc biệt thú vị thì bức ảnh khó mà
thoát ra khỏi sự nhàm chán.
- Tìm hiểu một số định dạng ảnh cụ thể :

1.1 ĐỊNH DẠNG ẢNH BMP
1.1.1 Giới thiệu và lịch sử phát triển
Định dạng tập tin BMP, còn được biết đến với tên gọi tập tin ảnh Bitmap hoặc định dạng tập tin
Bitmap độc lập với thiết bị (DIB), là một định dạng tập tin ảnh đồ họa Raster được dùng để lưu trữ
các hình ảnh số, độc lập với thiết bị hiển thị.
1.1.2 Cấu trúc tập tin
1.1.1.1 Cấu trúc chung
Tập tin ảnh bitmap bao gồm phần tiêu đề là một cấu trúc có kích thước cố định miêu tả các đặc điểm
của tập tin ảnh. Các phiên bản BMP khác nhau có thể có phần tiêu đề này khác nhau.
1.1.1.2 Lưu DIB trong bộ nhớ
Một tập tin ảnh Bitmap khi nạp vào bộ nhớ sẽ trở thành một cấu trúc dữ liệu DIB - một thành phần
quan trọng của Windows GDI API. Các cấu trúc dữ liệu DIB trong bộ nhớ gần như giống với định
dạng tập tin BMP, nhưng nó không chứa 14 byte Tiêu đề tập tin bitmap và bắt đầu với các Tiêu đề
DIB.
1.1.1.3 Tiêu đề tập tin bitmap
Các byte này là phần bắt đầu của tập tin và được sử dụng để xác định các tập tin. Một ứng dụng sẽ
đọc phần bắt đầu này để đảm bảo rằng tập tin thực sự là một tập tin BMP và không bị lỗi. Hai byte
đầu tiên của định dạng tập tin BMP là ký tự ‘B’, sau đó là ký tự ‘M’ trong bảng mã 1-byte ASCII.
1.1.1.4 Tiêu đề DIB (Tiêu đề Thông tin bitmap)
Các byte này báo cho các ứng dụng thông tin chi tiết về hình ảnh sẽ được sử dụng để hiển thị trên màn
hình.
1.1.1.5 Bảng màu

Interchange Format) và là một định dạng tập tin hình ảnh không yêu cầu bản quyền. PNG hỗ trợ hình
ảnh dựa trên bảng màu (24 bit RGB hoặc 32 bit RGBA), ảnh xám (có hoặc không có kênh alpha), và
ảnh RGB (có hoặc không có kênh alpha).
1.2.2 Cấu trúc tập tin
1.2.2.1 Tiêu đề tập tin
Mỗi tập tin PNG được khởi đầu bằng 8 byte ký hiệu, mang các giá trị theo hệ Hexa là 89 50 4E 47
0D 0A 1A 0A (hệ Decimal là 137 80 78 71 13 10 26 10)
1.2.2.2 Các khối trong tập tin
Ngay sau phần tiêu đề tập tin là đến một loạt các khối, mỗi khối này chứa một số thông tin về hình
ảnh. Mỗi khối sẽ xác định đó là quan trọng hay phụ trợ, và khi chương trình xử lý gặp một khối phụ
trợ thì có thể bỏ qua nó. Các khối được lưu trữ dựa trên cơ sở lớp cấu trúc, được thiết kế cho phépđịnh
dạng tập tin PNG có thể mở rộng trong khi vẫn duy trì khả năng tương thích với các phiên bản cũ.
Một khối bao gồm: mô tả chiều dài (4 byte), loại hoặc tên khối (4 byte), dữ liệu chính (một chuỗi
byte), và mã kiểm tra CRC (4 byte). Phần loại hoặc tên khối chứa 4 byte tương đương 4 ký tự chữ cái
trong bảng mã ASCII. Các chữ cái này sẽ cung cấp thông tin về bản chất của khối.
1.2.2.3 Độ sâu của màu
Hình ảnh PNG có thể sử dụng bảng màu lập chỉ mục hoặc được tạo thành từ một hoặc nhiều kênh (số
các giá trị trực tiếp đại diện cho số lượng các điểm ảnh). Khi có nhiều hơn một kênh trong một hình
ảnh tất cả các kênh sẽ có cùng một số bit được phân bổ cho mỗi điểm ảnh (được gọi là độ sâu bit của
kênh).
1.2.2.4 Độ trong suốt của hình ảnh
PNG cung cấp các lựa chọn trong suốt. Với hình ảnh màu thực và màu xám, giá trị mỗi điểm ảnh có
thể được xác định là trong suốt hoặc một kênh alpha có thể được thêm vào (cho phép bất kỳ tỷ lệ phần
trăm của độ trong suốt được sử dụng).
1.2.3 Ứng dụng
PNG được sử dụng rộng rãi trên mạng internet do nó hỗ trợ tính trong suốt, và nó sử dụng một thuật
toán nén không mất dữ liệu.
1.3 ĐỊNH DẠNG ẢNH JPG
1.3.1 Giới thiệu và lịch sử phát triển
JPEG là một phương pháp nén mất dữ liệu thường được sử dụng cho nhiếp ảnh kỹ thuật số. Mức độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status