Nợ công và vấn đề tái cơ cấu kinh tế
Một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong kế hoạch tái cấu
trúc nền kinh tế quốc dân của nước ta chính là thực hiện với hiệu quả
tối ưu việc sung dụng các nguồn lực chủ yếu, bao gồm nguồn nhân lực,
đồng vốn, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…, huy động được từ trong
nước lẫn ngoài nước.
Ai cũng có thể thấy rằng, trong điều kiện các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
đặc biệt là nguồn năng lượng hóa thạch, đang ngày càng trở nên hiếm hoi,
cạn kiệt, mỗi quốc gia trên hành tinh xanh trong nỗ lực phấn đấu để trở nên
giàu mạnh hơn cần có chiến lược đúng đắn sử dụng các nguồn lực hợp lý
hơn, tiết kiệm hơn và trên hết, hiệu quả hơn.
Hiệu quả hơn có nghĩa là vừa phải tiết kiệm nguồn lực, vừa đạt được kết quả
năng suất tối ưu, chất lượng tốt nhất. Tiết kiệm nguồn lực không những
mang ý nghĩa là sử dụng chúng một cách dè sẻn cả về số lượng và không
lãng phí thời gian mà còn phải bảo vệ, tái tạo được chúng trong một môi
trường sống tốt hơn cho một tương lai lâu dài. Đây không chỉ là quyền lợi
mà còn là trách nhiệm của mỗi quốc gia đối với cộng đồng dân tộc của chính
mình và đối với nhân loại. Đặc biệt, đồng vốn mà mỗi quốc gia huy động để
đầu tư cho việc phát triển lực lượng sản xuất kinh doanh trong nước và tăng
trưởng kinh tế dù là đồng tiền được thu từ thuế, vay từ trong nước hay vay từ
nước ngoài cũng rất cần được sử dụng đúng đắn, không lãng phí, có hiệu
quả cao và bảo toàn được nguồn vốn vì về bản chất đó cũng là những đồng
tiền đã và sẽ phải tiết kiệm của người dân.
Như vậy, trong bối cảnh chúng ta đang tích cực thực hiện kế hoạch tái cấu
trúc nền kinh tế quốc dân, vấn đề nợ công - nguồn vốn được huy động cho
đầu tư công - cần được đặt ra và giải quyết một cách sáng suốt và thỏa đáng,
vì tương lai phát triển của nền kinh tế quốc dân và của đất nước. Phân tích
tình hình ngân sách của Việt Nam trong nhiều năm, chúng ta có thể thấy
rằng Việt Nam đã và đang theo đuổi một cách bền bỉ chính sách khiếm hụt
ngân sách với mục tiêu được cho là nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Phải
còn cao hơn (65% GDP). Tuy nhiên, điều đáng quan ngại chính là ở chỗ
hiệu quả của đầu tư công, đầu ra của các khoản nợ công, đã giảm thấp một
cách khó tưởng tượng so với khu vực kinh tế dân doanh và khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài.
Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh Việt Nam của Viện Cạnh tranh châu Á,
hệ số ICOR của Việt Nam, chỉ số đo lường số đơn vị vốn cần tăng thêm để
tạo thêm ra một đơn vị sản lượng, trong giai đoạn 2000-2006 và 2006-2008
lần lượt là 4,8 và 5,4. Con số này cao hơn rất nhiều so với con số tương ứng
của các nước công nghiệp mới (NICs) trong thời kỳ đầu của tăng trưởng
kinh tế 1961-1980. Ví dụ, trong giai đoạn này hệ số ICOR của Đài Loan là
2,7 và của Hàn Quốc là 3. Hệ số ICOR của Thái Lan trong giai đoạn cất
cánh 1981-1995 là 4,1. Điều đáng lưu ý là khi tính toán hệ số ICOR của từng
khu vực kinh tế, người ta nhận thấy rằng hệ số này của khu vực kinh tế nhà
nước ước tính cao gấp 1,5 lần con số trung bình của toàn nền kinh tế và gấp
đôi hệ số ICOR của khu vực kinh tế dân doanh. Đáng lo ngại hơn, hiệu quả
đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước lại có xu thế càng ngày càng giảm thấp.
Trong những năm 2011 và 2012, ước tính hệ số ICOR của đầu tư công đã
lên đến con số đáng lo ngại là 7,5 có nghĩa là để tạo ra một đồng sản phẩm,
khu vực kinh tế nhà nước phải sử dụng đến 7,5 đồng vốn đầu tư. Sự kém
hiệu quả của đầu tư công, đặc biệt là đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, đã
kéo mức độ hiệu quả của đầu tư toàn xã hội xuống thấp. Theo một tính toán
mới đây, hệ số ICOR của đầu tư tại Việt Nam lên đến con số 6, cao hơn
nhiều so với các nền kinh tế lớn nhỏ trong khu vực, khiến cho năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam giảm mạnh. Bên cạnh hiệu quả đầu tư thấp,
thể hiện qua chỉ số ICOR cao, khu vực kinh tế nhà nước, trong khi sử dụng
nhiều đồng vốn hơn, lại tạo ra được ít việc làm hơn so với khu vực dân
doanh. Thống kê cho thấy đầu tư công chiếm xấp xỉ 40% tổng đầu tư toàn
nền kinh tế nhưng khu vực nhà nước chỉ tạo ra khoảng 10% số công ăn việc
làm cho toàn xã hội. Trong khi đó, khu vực kinh tế tư doanh chiếm 35%
tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng lại tạo ra tới 87% công ăn việc làm cho
Nhiều phân tích cho thấy chỉ cần giảm 1/3 đầu tư công từ ngân sách nhà
nước, chúng ta đã có thể đạt đến mức cân đối ngân sách. Điều này có nghĩa
là, nếu chỉ tập trung đầu tư công cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của nền
kinh tế, giảm bớt đầu tư công cho các doanh nghiệp nhà nước, tập trung các
nguồn lực quốc gia cho các khu vực kinh tế có hiệu quả cao là khu vực dân
doanh và khu vực đầu tư nước ngoài, chúng ta có thể đạt một công đôi ba
việc: tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ tăng, chất lượng tăng trưởng tốt hơn, lạm
phát giảm và nền kinh tế có cơ may tiến đến thăng bằng toàn dụng. Đây
chính là thành quả đang được mọi người mong đợi từ kế hoạch tái cấu trúc
nền kinh tế quốc dân.