1
Báo cáo tốt nghiệp
“Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Bắc Hà Nội “
2
mục lục
Chương I: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn tại NHTM.
Chương II: Thực trạng huy động vốn tại chinh nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam –Băc’ Ha` Nội
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường huy động vốn tại chi
nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Bắc Hà Nội trong thời gian tới.
3
Lời mở đầu
Sau khi mới giành lại độc lập , thống nhất đất nước, với cơ sở vật chất hết sức tồi
tàn cộng với một nền kinh tế hầu như kiệt quệ sau chiến tranh , Việt Nam lúc đó là một
Chương I
Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của NHTM
I- Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại ( NHTM)
1- Khái niệm và đặc điểm hoạt động NHTM
1.1- Khái niệm
5
Khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định, lưu thông
hàng hoá và lưu thông tiền tệ đã được mở rộng thì trong nền kinh tế cũng đồng thời
xuất hiện những người nắm giữ một khoản tiền tạm thời không dùng đến và những
truyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc
biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của
người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi
tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho
hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng
như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác
nhau trên thế gới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những
đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu
quả trong nền kinh tế thị trường.
2- Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Hoạt động và vai trò của NHTM không phải là bất biến, mà liên tục phát triển
theo điều kiện kinh tế xã hội. Ngày nay, hoạt động của NHTM rất phong phú và đa
dạng, tuỳ điều kiện kinh tế và mức độ phát triển kỹ thuật của mỗi quốc gia mà các
nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ.
Nếu căn cứ vào bảng tổng kết tài sản của NHTM thì hoạt động của NHTM bao
gồm: Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản và Các hoạt động ngoài bảng tổng kết
tài sản.
Bảng tổng kết tài sản của NHTM
Tài sản
( Tính lỏng giảm dần)
Nguồn vốn
- Dự trữ
- Các chứng khoán
- Cho vay
- Tài sản khác
- Tiền gửi
- Tiền vay
- Vốn của ngân hàng
- Nguồn vốn khác
vụ phải chi trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự tham thoả thuận về thời gian rút tiền
giữa khách hàng và ngân hàng. Trong thời gian này ngân hàng có quyền chủ động sử
8
dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trước hạn phải được sự
đồng ý của ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đây là một bộ phận thu thập bằng tiền của các cá nhân tạm
thời nhàn rỗi được gửi vào NHTM dưới nhiều hình thức: Tiết kiệm không kỳ hạn, tiết
kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm mua nhà, Với mục đích chủ yếu là tiết kiệm và sinh lời.
* Nguồn vay mượn:
Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay vốn
của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng, các
NHTM có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở Ngân hàng trung ương, ở các NHTM khác,
vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài, Vốn đi vay thông thường chiếm
tỷ trọng không lớn trong kết cấu nguồn vốn. Tuy nhiên, nó rất cần thiết và có vị trí
quan trọng để đảm bảo cho Ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường.
* Huy động từ các nguồn khác: Ngoài một số nguồn cơ bản trên thì NHTM có
thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ, uy tín
của NHTM là cơ sở quan trọng để mở rộng nguồn vốn này.
2.1.2 Sử dụng vốn:
Huy động được vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc để hiệu quả hoá những
nguồn vốn huy động được. Với mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lời, hoạt động sử
dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: Dự trữ, Cho vay và Đầu tư.
* Dự trữ:
Sự trữ là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp ứng
nhu cầu chi trả cho khách hàng. NHTM phải duy trì một bộ phận vốn ( bằng tiền mặt)
để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào qui mô hoạt
động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi
để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt động trung
gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu nhập khá quan
trọng. Điều cần lưu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM phát triển toàn diện. ở
các nước phát triển, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng con đường “ phi giá”, tức là
luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ Ngân hàng
càng phát triển thể hiện xã hội công bằng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển.
Lợi nhuận của NHTM không chỉ ở đầu tư, cho vay, mà gần phần nửa ở các dịch vụ,
nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro.
10
Nghiệp vụ trung gian của NHTM rất đa dạng và phong phú như : Dịch vụ chuyển
tiền từ địa phương này sang địa phương khác, Dịch vụ chuyển khoản, Dịch vụ khấu trừ
tự động, Thu chi hộ, Qua đó NHTM sẽ thu được một khoản phí dịch vụ.
2.2- Các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản:
Ngoài các giao dịch được phản ánh trong nội bảng ( huy động vốn, sử dụng vốn,
môi giới trung gian), các NHTM còn tham gia vào hoạt động chưa được thừa nhận là
tài sản nợ hoặc tài sản có. Các hoạt động này hiện đang được theo dõi ở các tài khoản
ngoại bảng. Một số hoạt động ngoại bảng chủ yếu như: Bảo lãnh công nợ, các hợp
đồng có liên quan đến lãi suất, các giao dịch về hối đoái như giao dịch Swaps,
Options, Futrues, các chứng từ có giá, Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại
bảng không làm thay đổi kết cấu, cân số của bảng tổng kết tài sản, nhưng vì nó cũng là
một hiện tượng kinh tế phát sinh trong quá tình kinh doanh nên độ rủi ro của nó cũng
tác động mạnh mẽ đến độ an toàn của NHTM.
Do đó, khi phân tích hoạt động của NHTM, bên cạnh việc nghiên cứu các hoạt
động bảng tổng kết tài sản, các nhà quản trị cần phải quan tâm đến mức độ và diễn
biến các hoạt động ngoại bảng vì độ rủi ro của các hoạt động này cũng làm ảnh hưởng
không ít đến kết quả kinh doanh chung của NHTM.
Tóm lại, hoạt động của NHTM luôn gắn liền với nền kinh tế, nền kinh tế càng
phát triển cao, hoạt động của NHTM càng đa dạng và phong phú. Hơn nữa, các hoạt
điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào quy mô và phạm vi
hoạt động của ngân hàng đó ( vốn điều lệ bao hàm cả vốn pháp định).
Ngoài ra vốn tự có củaNHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng ( đây là các quỹ
buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng) như: Quỹ bảo
toàn vốn, Quỹ phúc lợi, Quỹ khấu hao tài sản cố định,
Nguồn vốn tự có của NHTM thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
của một ngân hàng, nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng, vì nó cho thấy thực lực,
quy mô của ngân hàng, nó là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo
uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa nguồn vốn này có tính ổn định cao,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định của NHTM, tài
trợ cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng mạng lới, hay để chống rủi ro, ; Qua
đó nhằm hướng tới mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng.
12
Theo đà phát triển, nguồn vốn này sẽ được gia tăng về số lượng tuyệt đối thông
qua các nghiệp vụ của mỗi NHTM có thể áp dụng như sau:
- Tăng cường và bổ sung thêm vốn điều lệ bằng cách huy động thêm vốn từ các
cổ đông, phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu, Các nghiệp vụ
huy động này thường được các NHTM cổ phần áp dụng. Tuy nhiên, việc phát hành
thêm cổ phiếu, trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu sẽ gây áp lực đối với các cổ
đông cũ của ngân hàng, việc tăng thêm cổ phần sẽ kéo theo sự suy giảm tương đối về
cổ tức đối với các cổ đông.
- Đối với NHTM quốc doanh hay NHTM liên doanh thì có thể tăng thêm vốn tự
có thông qua sự cấp thêm vốn của Chính phủ hay đóng góp thêm vốn của các bên liên
doanh.
- Ngoài ra, nguồn vốn tự có của NHTM còn được bổ sung thêm từ kết quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng thông qua việc trích lập các quỹ dự trữ và một số quỹ
khác.
Bên cạnh nguồn vốn tự có, ở một số quốc gia mà cụ thể là ở Việt Nam, một số
rút tiền có thể thương lượng. NOW là tài khoản giao dịch được hưởng lãi, do đó nó
cho phép ngân hàng đòi hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút tiền. Do đòi
hỏi này ít được thực hiện nên NOW được sử dụng như một tài khoản phát séc để chi
trả cho việc mua bán hàng hoá và dịch vụ. Tuy nhiên loại tài khoản này chỉ có thể
được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Ngân hàng khi đó có nghiệp
vụ là chuyển vốn tự động và khách hàng uỷ quyền trước cho ngân hàng trong việc
chuyển vốn từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản phát séc để bù đắp thấu chi. Kết quả
cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương với lãi thu
được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
Hiện nay có hai loại tài khoản tiền gửi cạnh tranh nhau: Tài khoản tiền gửi trên thị
trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản “Supper NOW”. Hai loại tài khoản này được trả
lãi theo lãi suất trên thị trường tiền tệ và khách hàng có thể thực hiện thanh thoán cho
các giao dịch mua hàng hoá và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối phiếu uỷ quyền
trước.
2.2- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội
14
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh, quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội và được
các đơn vị này gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Khoản vốn này tạm thời
được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn nhưng chưa có nhu cầu sử dụng
trong ngắn hạn.
Đây là nguồn chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn cũng như là
trong cơ cấu vốn nói chung của NHTM. Bởi lẽ trong quá trình sản xuất kinh doanh của
mình, các doanh nghiệp ít khi có một lượng vốn nhàn rỗi trong một thời gian dài và
nếu có chỉ là một lượng nhỏ mà thôi. Các tổ chức kinh tế- xã hội có vử khả quan hơn
về mặt kỳ hạn nhưng lượng vốn họ có lại không đủ lớn. Tuy vậy nguồn vốn này vẫn
không thể thiếu trong cơ cấu tạo nên nguồn vốn của một ngân hàng. Cũng như tiền gửi
có kỳ hạn nói chung, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế- xã hội khi gửi tiền vào
Để thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong việc gửi tiết kiệm, các NHTM đã và
đang áp dụng nhiều hình thức huy động phong phú như: Tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm
đảm bảo giá trị theo vàng, tiết kiệm có thưởng, với nhiều kỳ hạn đa dạng và đảm bảo
nguyên tắc: Kỳ hạn càng dài thì lãi suất càn cao. Bên cạnh đó, NHTM cũng từng bước
nâng cao các tiện ích cho người gửi tiết kiệm như: Coi sổ tiết kiệm như là một chứng
từ đảm bảo tiền gửi, người có sổ có thể mang sổ tiết kiệm đến ngân hàng để cầm cố
hoặc xin chiết khấu để vay vốn khi cần thiết.
Tóm lại, nguồn vốn huy động từ tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc tài trợ
cho các hoạt động kinh doanh của NHTM. Thống thường nguồn vốn này phụ thuộc
vào ba thông số chính: Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp; Lãi suất của các loại
hình đầu tư khác như: Trái phiếu, cổ phiếu, Thu nhập của khách hàng. Trong đó
thông số đầu tiên được coi là quan trọng nhất. Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất
như thế nào, hình thức huy động ra sao để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi
là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng kĩ trị của các NHTM.
3- Vốn đi vay
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng khi dư vốn, đủ vốn, thiếu vốn là lẽ tất
nhiên, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Khi một NHTM thiếu vốn để đáp ứng nhu cầu
vốn của khách hàng hay cho mục đích đầu tư phát triển mà các nguồn khác chưa đủ
đáp ứng thì NHTM có thể đi vay. Nghiệp vụ vay vốn của NHTM có thể chia thành hai
loại chính: Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá và vay trực tiếp.
16
3.1- Vay thông qua phát hành giấy tờ có giá:
Phát hành giấy tờ có giá là nghiệp vụ huy động vốn của NHTM dưới hình thức
phát hành các chứng từ như: Chứng chỉ tiền gửi ( kỳ phiếu), trái phiếu,
Trong nghiệp vụ này, NHTM chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng
việc phát hành các giấy tờ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh. Thông thường
việc phát hành được thực hiện sau khi đã tiến hành nên cân đối toàn hệ thống của
NHTM giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
+ CD chuyển tiếp liên tục: Đây là một Seri những CD thời hạn 6 tháng chuyển
tiếp liên tục trong vòng 2 năm hoặc lâu hơn. Người mua CD thiết lập một hợp đồng
mua chứng chỉ tiền gửi thời hạn 6 tháng liên tục cho đến khi hợp đồng hết hạn. CD
loại này có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi.
Ngoài ra các NHTM Mĩ còn phát hành nhiều loại CD khác như: CD có lãi điều
chỉnh, chứng chỉ tiền gửi Dollar Châu Âu, Thông qua nghiệp vụ phát hành CD, các
NHTM Mĩ có thể tạo dựng được điều kiện để cạnh tranh một cách có hiệu quả đối với
nguồn vốn ngắn và trung hạn.
- ở Việt Nam, các NHTM phát hành kỳ phiếu dựa trên quyết định số 220-
NH/QĐ ngày 27/11/1991 của Thống đốc NHNN về việc cho phép NHTM quốc doanh
phát hành kỳ phiếu Ngân hàng. Như vậy chỉ có NHTM quốc doanh mới được phép
phát hành loại chứng chỉ tiền gửi này.
Theo văn bản trên, kỳ phiếu là một loại giấy nhận nợ do NHTM quốc doanh phát
hành nhằm huy động vốn trong xã hội một cách linh hoạt. Căn cứ vào mục đích, nhu
cầu cụ thể mà ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu bằng VNĐ hay USD.
Nhu cầu phát hành kỳ phiếu thường phát sinh khi ngân hàng muốn có nguồn vốn
đủ điều kiện để tài trợ các dự án có quy mô, trọng điểm nhằm phục vụ kịp thời cho đầu
tư phát triển của đất nước hoặc vì mục đích kinh doanh của ngân hàng như: Đầu tư
chứng khoán, kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ mà các nguồn huy động khác chưa đáp
ứng được. Khi đó ngân hàng có thể xin phép phát hành bằng từ trình gửi NHNN.
Trong tờ trình “ Xin phép phát hành kỳ phiếu” phải trình bày đầy đủ các nội dung sau:
+ Lý do xin phát hành
+ Kế hoạch sử dụng và nhu cầu sử dụng vốn
+ Các loại kỳ phiếu xin phát hành ( về kỳ hạn, phương thức trả lãi)
18
+ Thời gian phát hành
+ Tỷ lệ lãi cho từng loại kỳ phiếu
+ Tính toán hiệu quả kinh tế cho từng loại kỳ phiếu.
thiểu là 50.000 VND. Các loại mệnh giá lớn hơn được xác định bằng bội số của mệnh
giá tối thiểu.
Lãi suất của trái phiếu do NHTM ấn định trên cơ sở quan hệ cung cầu về vốn
trên thị trường sao cho có thể khuyến khích, động viên được người gửi vốn, người vay
có thể chấp nhận được và NHTM đảm bảo hiệu quả kinh doanh. Phương thức trả lãi
cũng được các NHTM áp dụng một cách linh hoạt: Trả lãi trước, Trả lãi sau, Trả lãi
định kỳ
NHTM muốn được phép phát hành trái phiếu cần phải hội đủ các điều kiện sau:
+ Hoạt động ổn định ít nhất 2 năm và chứng minh được hoạt động kinh doanh
của đơn vị được quản lý có hiệu quả
+ Có phương án kinh doanh cụ thể
+ Cần phải có vốn điều lệ đủ lớn theo pháp định
+ Được phép bằng văn bản của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Sau khi đã hội đủ các điều kiện cần thiết, NHTM phải làm thủ tục xin phép
NHNN về việc phát hành trái phiéu theo quy định của pháp luật.
Nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ phát hành trái phiếu không chịu sự điều
chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc. Hơn nữa, nó là nguồn có tính ổn định cao, đáng
được quan tâm nếu muốn mở rộng nguồn vốn huy động trung và dài hạn tại một
NHTM. Bằng cộng cụ này, các NHTM có thể chủ động tạo được một khối lượng vốn
như mong muốn một cách nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách đầu tư cho
các công trình lớn của quốc gia.
3-2 - Vay vốn các tổ chức tín dụng
Khi cần vốn thì các NHTM có thể đi vay trực tiếp từ các tổ chức tín dụng khác,
Ngân hàng nước ngoài, từ công ty mẹ, Nhưng dù vay ở nguồn nào thì nhìn chung chi
phí cho các khoản vay trực tiếp thường cao hơn chi phí phải trả cho các hình thức huy
động vốn khác.
20
ở Việt Nam, nguồn vay vốn của NHTM cũng khá phong phú. Một NHTM có thể
Nguồn vay mượn này thường có chi phí cao, kỳ hạn trung hạn là chủ yếu, phụ
thuộc nhiều vào quan hệ cũng như uy tín của NHTM đi vay.
* Vay từ nước ngoài:
Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 thì các NHTM có thể
vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lại trong nước. Các NHTM Việt Nam
hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với các Ngân hàng trong khu vực
và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hành cũng khá thuận lợi. Lãi suất vay được áp
dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thế giới. Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM
Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tín dụng do nước ngoài quy định. Hạn mức này
phải được Chính phủ hoặc NHNN Việt Nam bảo lãnh. Theo Nghị định 90/CP, thì mức
bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một tổ chức tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của
tổ chức đó. Nhưng hạn mức trên phải trừ đi số nợ trước chưa trả đến thời điểm đến
thời điểm vay mới. Như vậy muốn tận dụng hạn mức tín dụng của nước ngoài, các
NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâu hoàn trả.
Các khoản vay từ Ngân hàng nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều do
NHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý. Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quan NHNN
xét duyệt. Các NHTM được quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nước ngoài,
qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngân hàng.
III- Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM.
* Nhân tố khách quan:
- Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế: Động thái của nền kinh tế chính là cơ
sở đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định nên gửi tiền vào Ngân hàng, tích trữ vàng,
USD hay mua sắm các tài sản khác. Trong điều kiện nền kinh tế bất ổn định, giá cả và
sức mua của đồng tiền biến động mạnh thì người dân có xu hướng tích trữ vàng, USD
hoặc các dạng tài sản khác thay vì đem số tiền đó gửi tại NHTM. Ngược lại, một nền
kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân sẽ có cái nhìn khả
quan hơn và xu hướng tiền gửi ở các NHTM tăng lên là một điều tất yếu.
- Nhân tố tiết kiệm trong nền kinh tế: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ “
Để tạo vốn cho đầu tư phát triển, giải pháp cơ bản và lâu dài là làm ăn có hiệu quả,
nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế. ở nước ta, thị trường chứng khoán mở ở dạng sơ
khai do đó việc đáp ứng nhu cầu tín dụng của nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM
vẫn chiếm vị trí quan trọng và cấp thiết.
- Cơ cấu dân cư và vị trí địa lý:
23
ở những địa điểm dân cư đông đúc, các thành phố lớn có nhiều doanh nghiệp
hoạt động và kinh tế phát triển thì NHTM có thể huy động được nhanh hơn và nhiều
hơn những nơi kém phát triển Đặc biệt ở những thị trường sôi động, có độ nhạy cảm
cao với lãi suất và tiện ích khách do nghiệp vụ huy động vốn của NHTM đem lại thì ở
đó việc mở rộng và bổ sung nguồn vốn của NHTM sẽ thuận lợi hơn các vùng nông
thôn hay miền núi.
* Nhân tố chủ quan:
- Uy tín của NHTM: khi xa rời vốn liếng một thời gian dài để gửi vào NHTM,
người gửi thường lo sợ trước sự biến động thường xuyên của nền kinh tế. Do đó họ
thườg có sự cân nhắc và lựa chọn Ngân hàng nào được họ thừa nhận là an toàn và
thuận lợi nhất hay nói cách khác là có uy tín nhất đối với gười gửi tiền. Thông thường,
người gửi tiền đánh giá uy tín của NHTM qua các tiêu thức cơ bản như: Sự hoạt động
lâu năm, quy mô, trình độ quản lý, công nghệ, Do đó các NHTM cần nâng cao uy tín
thông qua các nghiệp vụ của mình, từng bước thoả mãn tối đa nhu cầu của người gửi
tiền. Khi đã tin tưởng vào một NHTM nào đó, tất yếu họ sẽ tạm xa rời vốn liếng của
mình để gửi vào Ngân hàng hưởng lãi. Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân ta có câu
tục ngữ “ Chọn mặt gửi vàng”, và trong hoạt động ngân hàng chữ “Tín” và “Lòng tin”
là rất quan trọng.
- Chính sách lãi suất cạnh tranh:
Bao gồm cả lãi suất huy động và cho vay. Đây là một chính sách quan trọng của
NHTM, nó đòi hỏi phải có sự linh hoạt, vừa hấp dẫn người gửi , đồng thời phải đảm
bảo hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Thông thường, quy mô của tiền gửi vào ngân
hàng biến động tỷ lệ thuận đặc biệt thì quy luật này bị phá vỡ. Chẳng hạn khi lãi suất
trò hết sức quan trọng đối với bất cứ NHTM nào. Thông qua cân đối vốn, NHTM sẽ
biết được thực trạng và có những dự đoán nhu cầu biến động vốn trong tương lai. Từ
đó có thể đưa ra chính sách huy động thích hợp về số lượng cũng như là về loại tiền
và kỳ hạn huy động. Qua đó sẽ nâng cao tính chủ động của NHTM trong công tác huy
động vốn.
- Chính sách quảng cáo:
Chính sách quảng cáo đóng vai trò quan trọng đối với tất cả các ngành trong thời
đại ngày nay, trong đó không loại trừ ngành Ngân hàng. Để tạo được hình ảnh đẹp
trong con mắt khách hàng thì NHTM cần phải thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố. Trong
đó không chỉ chú trọng đến các hình thức quảng cáo như: Quảng cáo trên tạp chí,
25
Panô, láp phích, Internet, mà còn cần có sự kết hợp với các chính sách như: Chính
sách khách hàng, chính sách sản phẩm, Việc tuyền truyền, quảng cáo để mọi tầng lớp
dân cư hiểu biết về các thông tin là rất cần thiết. Trên cơ sở hiểu biết công tác huy
động của Ngân hàng thì dân chúng mới có thể nhiệt tình hưởng ứng.
- Ngoài một số chính sách sơ bản trên, nghiệp vụ huy động vốn của NHTM còn
chịu sự tác động của một số chính sách như: Chính sách khách hàng, các dịch vụ ngân
hàng, Trong đó các dịch vụ huy động vốn như: Tư vấn, chiết khấu, kèm theo
nghiệp vụ huy động vốn có vai trò hỗ trợ quan trọng. Qua đó nhằm tạo ra những tiện
ích hấp dẫn khách hàng và có thể tăng sức cạnh tranh trong công tác huy động vốn n
của NHTM.
Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta, việc tạo lập và tập
trung mọi nguồn lực để phục vụ cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước là rất cấp bách
Với vai trò là “ cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, thông qua các nghiệp vụ
huy động vốn của mình, các NHTM đã góp phần quan trọng trong việc khơi thông
nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế đáp ứng cho nhu cầu tín dụng, góp phần đảm bảo
hiệu quả kinh doanh ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế- xã hội và thực hiện
Chính sách tiền tệ quốc gia.