Luận văn: Quan niệm văn chương của Xuân Diệu trước 1945 - Pdf 15

Đại học thái nguyên
trNG Đại học s phạm Phạm thị th

Quan niệm văn chNG của
Xuân Diệu TRC 1945

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

Ngi hng dẫn khoa học:
PGS.TS. Vũ Tuấn Anh Thái nguyên, 2008
Đại học thái nguyên
trNG Đại học S phạm Phạm thị TH
Quan niệm văn chNG của
Xuân Diệu TRC 1945


chương và vấn đề Mở rộng văn chương.
1.3. Vấn đề thanh niên với quốc văn.
1.4. Tư tưởng văn chương và quan niệm về thơ của Xuân Diệu
qua phê bình.
Chương II: Quan niệm của Xuân Diệu về văn chương và thi ca
2.1. Quan niệm về văn chương và người nghệ sĩ
2.1.1 Người nghệ sĩ phải có tâm hồn thành thật và một trái tim
đa cảm.
2.1.2. Người nghệ sĩ phải là kẻ hiến dâng.

3
6
12
12
13

15

15 20
20

25

28
31

38


49
49
51
54
59

67
67
70
72
73
75
77
77
78

80
81
84
89 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4

Phấn thông vàng và Trường ca của Xuân Diệu khi xuất hiện trên văn đàn
đã được giới nghiên cứu phê bình văn học đánh giá cao, thể hiện một xu
hướng sáng tạo mang vẻ đẹp riêng với tính chất độc đáo, đặc sắc của một
kiểu mô hình văn xuôi mới. Điều này được Huy Cận đưa ra nhận xét như
sau: “Phấn thông vàng đã gây xôn xao, một sự xôn xao thú vị trong giới văn
học thời đó, xôn xao bởi vì đây là một sư sáng tạo: Truyện mà gần như không
có truyện, không phải truyện đời mà là truyện tâm hồn, còn văn là những bài
thơ văn xuôi dạt dào cảm xúc, cực kì gợi cảm” [2,442]
Song song với mảng văn xuôi trữ tình, ông còn viết nhiều bài phê bình
- tiểu luận thể hiện rõ những tư tưởng đặc sắc của ông về văn chương và quốc
văn.Đây cũng là một cách bộc bạch con người Xuân Diệu trong cuộc đối
thoại với chính mình, với văn chương và thời đại. Những bài phê bình - tiểu
luận đó chủ yếu được đăng báo Phong hoá, Ngày nay trong những năm 1937-
1939.
Có thể nói Xuân Diệu xứng đáng được xem là một tài năng đa dạng,
một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn.
Xuân Diệu với tư cách là một nhà thơ đã được nghiên cứu nhiều và
càng ngày người ta càng nhận ra những giá trị mới, những vẻ đẹp mới của thơ
Xuân Diệu. Về văn xuôi Xuân Diệu, đã có nhiều nhà nghiên cứu phê bình
khảo sát và phân tích giá trị của nó, nhưng có thể nói cho đến nay, mảng văn
xuôi trữ tình của Xuân Diệu với vẻ đẹp của ý tưởng nghệ thuật riêng, mang
đậm phong cách Xuân Diệu đã được phân tích khá nhiều tuy vẫn cần được
tiếp tục có những nghiên cứu phân tích. Đồng thời mảng phê bình, tiểu luận
của Xuân Diệu - một phương diện rất đáng được chú ý trong hoạt động văn
chương của người thi sĩ trẻ khi ấy còn ít được nghiên cứu. Một vài bài trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

phẩm của ông được giảng dạy trong nhà trường.
Vì vậy, với đề tài Quan niệm văn chương của Xuân Diệu trước
1945, luận văn mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu những đặc
sắc nội dung và nghệ thuật của văn xuôi, phê bình tiểu luận của Xuân Diệu
một cách đầy đủ hơn. Đồng thời về mặt chuyên môn, luận văn cũng hi vọng
góp phần thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy những sáng tác của Xuân
Diệu ở trong nhà trường phổ thông.

2. Lịch sử vấn đề.
2.1 Thời kì trước 1945.
Ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn, Xuân Diệu đã gây được sự chú ý
của giới nghiên cứu phê bình văn học, đã lọt vào “mắt xanh” của những cây
bút có tên tuổi và uy tín trong giới văn nghệ. Có nhiều ý kiến đánh giá khác
nhau, khen có, chê có. Nhưng tựu trung lại, các bài viết đều thống nhất đánh
giá cao đóng góp của Xuân Diệu ở cả hai thể loại thơ và văn xuôi. Ngay khi
Xuân Diệu xuất hiện với những bài thơ đầu tiên, Thế Lữ đã hào hứng giới
thiệu nhà thơ trẻ này với bài Một nhà thi sĩ mới - Xuân Diệu trên báo Ngày
nay Khi Thơ thơ- tập thơ đầu của Xuân Diệu được xuất bản (1937), Thế Lữ
viết Lời tựa với những tình cảm ưu ái và hào hứng đón chào nhà thơ mới.
Người ta thường đánh giá bài viết này là "chiếu nhường ngôi " của nhà thi sĩ
lãng mạn Thế Lữ nổi tiếng nhất đương thời dành cho Xuân Diệu. Báo chí
cũng đăng tải nhiều bài khen ngợi. Xuân Diệu được đánh giá là "nhà thơ mới
nhất trong các nhà Thơ mới” (Hoài Thanh), hay “Một thi sĩ rất giàu lòng yêu
dấu” (Vũ Ngọc Phan). Về văn xuôi Xuân Diệu, dư luận cũng đã chú ý nhiều
đến phong cách viết độc đáo, đầy chất trữ tình trong văn ông. Ra đời sau tập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Thơ thơ một năm, tập văn xuôi Phấn thông vàng của Xuân Diệu được công
chúng đón nhận nồng nhiệt và đánh giá cao ngay từ khi mới ta đời.

[2,442]. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh trong nghiên cứu về lối viết văn
xuôi của Xuân Diệu, khẳng định ngay rằng cái điều tưởng như “chơi vơi”,
tưởng như “trẻ con học nói, hay người ngoại quốc võ vẽ tiếng Nam, câu văn
tuồng bỡ ngỡ” lại chính là chỗ “Xuân Diệu hơn người”. Sở dĩ theo Hoài
Thanh, đó là do “dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những điều sẵn
có, ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn cũng phải lung lay” [32,116].
Tóm lại Hoài Thanh, Huy Cận, Vũ Ngọc Phan vừa là những nhà phê
bình văn học, vừa là những người cùng thời với Xuân Diệu, đều đánh giá rất
cao về những vấn đề nội dung, ý tưởng, phong cách trong sáng tác của văn
xuôi trữ tình Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945.
Tuy vậy, hình như những bài phê bình - tiểu luận của ông ít được dư
luận chú ý vì đây chỉ là những bài báo lẻ, không in thành sách. Tập Thanh
niên với quốc văn được in trước Cách mạng tháng Tám vài tháng nên cũng
chưa kịp được nhắc đến nhiều trên báo chí trong một hoàn cảnh đặc biệt của
một không khí sôi sục trước Cách mạng.

2.2. Thời kì sau 1945.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chính Xuân Diệu đã tự kiểm điểm về
các sáng tác thời kì lãng mạn của mình và tự ăn năn, hối lỗi: “Những tác
phẩm của tôi, trong thời Pháp thuộc đã tuyên truyền cho một tình yêu mê
muội, đắm đuối, một trò ích kỉ của cá nhân, cho một lòng thương ngậm ngùi,
buồn tủi, cho sự hưởng lạc trong cảm xúc, sắc dục, cho sự bị động buông
xuôi, tiêu cực. Đứng trên lập trường mà xét, tiểu thuyết đó hoàn toàn vô giá
trị. Những thơ văn ấy đều đầu độc một số người thành thị nhất là thanh niên
học sinh”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Từ năm 1975 đến nay, sự nhìn nhận đánh giá của xã hội đối với Thơ
Mới không còn khắt khe như trước nữa. Các tác phẩm của Xuân Diệu cũng

tình của cái tôi chủ quan, bộc lộ những quan niệm sâu xa, mới mẻ của ông về
nghệ thuật và cuộc sống. Hơn nữa, ông còn đưa ra ý kiến “không muốn tách
biệt văn với thơ” và đặc biệt nhấn mạnh đến khả năng chuyển tải tư tưởng và
cảm xúc của văn xuôi Xuân Diệu: “Văn vẫn có nhiều khả năng thuật tả
chuyện đời cặn kẽ hơn thơ. Cho nên cái phần gắn bó với đời của Xuân Diệu
được thể hiện đầy đủ hơn, đậm nét hơn trong văn xuôi”; "Về mặt giọng điệu,
Xuân Diệu năm 1939 cũng là Xuân Diệu những năm về sau, tự nhiên, nhẹ
nhàng mà không kém phần duyên dáng. Văn ông không sa vào biền ngẫu
nhưng lại tạo được âm hưởng riêng. Câu văn như lời trò chuyện dung dị,
thỉnh thoảng lại có cái đột ngột của một thứ đối thoại tâm tình. Đọc những bài
viết ra từ năm 1939 này, người ta vẫn nhận ra nét bút riêng của con người sau
này sẽ viết nên Tiếng thơ, Dao có mài mới sắc, Và cây đời mãi mãi xanh
tươi " [19,100].
Các quan điểm về văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đã
được các nhà nghiên cứu chú ý. Trong bài Xuân Diệu và một quan niệm cởi
mở về tính dân tộc của Vương Trí Nhàn { 33;257} đã sưu tầm giới thiệu bài
Mở rộng văn chương của Xuân Diệu, trong đó nhấn mạnh đến tinh thần cới
mở của nhà thơ về tính dân tộc. Ông viết: " Chúng ta sẽ gặp ở đây một cách
hiểu khá rộng rãi của Xuân Diệu: ông không nghĩ tính dân tộc là một cái gì
nhất thành bất biến. Ngược lại, từ kinh nghiệm riêng của một người làm việc,
ông bảo chúng ta phải mở cửa, phải biết tiếp nhận. Có những cách nói ban
đầu khó nghe rồi dần dần sẽ quen. Chừng nào còn là người Việt, những cái
chúng ta viết sẽ là văn chương Việt Nam. Không phải chỉ có một lối giản dị,
"chân quê" mới là dân tộc như có người đã nghĩ!"

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Lê Quang Hưng cũng là một nhà nghiên cứu có nhiều bài viết đề cập
đến các vấn đề về lý tưởng thẩm mỹ, cái tôi trữ tình của Xuân Diệu. Trong bài
Tinh thần phục hưng trong lý tưởng thẩm mỹ của Xuân Diệu trước 1945, nhà

bàn bạc về những vấn đề về thơ với nhiều ý kiến mới mẻ so với quan niệm
thơ ca đương thời.
Những bài viết, công trình trên dù đề cập trực tiếp hay không trực tiếp
đến đề tài luận văn cũng là những gợi ý quý báu để chúng tôi thực hiện luận
văn Quan niệm văn chương của Xuân Diệu trước 1945.
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy toàn bộ những ý kiến trên đều khá
thống nhất trong việc khẳng định giá trị tư tưởng, nghệ thuật của văn xuôi
Xuân Diệu:
1. Tác phẩm văn xuôi của ông đều thấm đẫm chất trữ tình, rất gần với
thơ, ở đó thế giới cảm xúc phong phú của chủ thể trữ tình được phơi bày đậm
nét.
2. Tư tưởng và quan niệm về văn chương của Xuân Diệu khá phong
phú. Nó được thể hiện trong cả những áng văn xuôi trữ tình như Phấn thông
vàng, Người lệ ngọc, Chú lái khờ , đồng thời cũng được thể hiện một cách
trực tiếp qua các bài phê bình - tiểu luận như Thơ của người, Tuy Lý Vương -
thi sĩ Tàu, Tính cách An nam trong văn chương, Mở rộng văn chương, Thanh
niên với quốc văn
Nhìn một cách tổng quát, ta thấy các sáng tác của Xuân Diệu đã thu hút
được nhiều nhà nghiên cứu phê bình với các công trình nghiên cứu công phu,
đa dạng và phong phú. Tuy vậy, hầu hết các công trình đều tập trung khẳng
định những đóng góp và vị trí của Xuân Diệu trong phong trào Thơ Mới mà
chưa tập trung nhiều vào vị trí của văn xuôi Xuân Diệu và nhất là phần tiểu
luận phê bình còn hầu như ít được đề cập. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
3. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
1. Về tiểu luận phê bình: các bài Tuy Lý Vương - thi sĩ Tàu, Công của thi

Trong quá trình phân tích chúng tôi sẽ so sánh, đối chiếu sự tương giao
giữa văn xuôi và thơ Xuân Diệu cũng như trong mối tương quan với một số
tác giả khác để thấy được nét đặc trưng trong cảm quan sáng tác cũng như
phong cách phê bình - tiểu luận của Xuân Diệu so với các tác giả cùng thời
như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Thạch Lam

5 .Cấu trúc luận văn
I. Phần Mở đầu
II. Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương I: Tư tưởng của Xuân Diệu về xây dựng nền Quốc văn
mới
Chương II: Quan niệm của Xuân Diệu về văn chương và thi ca.
Chương III: Một phong cách văn xuôi trữ tình và phê bình - tiểu
luận độc đáo.
III. Phần Kết luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16

vượt lên: biết bao nhiêu vấn đề đang đặt ra cho sự phát triển của cả nền thơ
khi đó. Báo Ngày nay với mục Tin thơ do Thế Lữ chủ trì vừa đăng thơ vừa
bình thơ, vừa có mục đích khuyến khích sáng tác thơ và có thể nói, "gánh
vác" cả nhiệm vụ dạy người đọc làm thơ thông qua những bài phê bình giới
thiệu, nhiều khi làm cả công việc sửa chữ, uốn vần cho nhiều bài thơ. Hàng
loạt bài phê bình lý luận Thơ mới được đăng tải trên báo chí cho thấy Thơ
mới tiếp tục củng cố những bước đi và thành tựu của nó trên con đường phát
triển. Không còn là chuyện cần đấu tranh với sự trì trệ, sáo mòn của Thơ cũ
nữa mà vấn đề là Thơ mới cần khắc phục những công thức mới của chính nó,
tiếp tục mở rộng con đường sáng tạo thơ ca.
Đồng thời, nhìn rộng hơn ra nền văn học Việt Nam đương thời, công
việc xây dựng nền quốc văn mới được khởi sự từ những năm đầu thế kỷ vẫn
được tiếp tục đặt ra ngày càng cấp bách, đặc biệt trong yêu cầu hiện đại hóa.
Làm sao để xây dựng nền quốc văn mới, vừa có sự tiếp thu những thành tựu
hiện đại của văn học Tây phương, vừa giữ vững bản sắc và tinh thần Việt
Nam.
Luồng gió văn hóa Tây phương đã ùa vào Việt Nam, đem đến biết bao
sự mới mẻ, hấp dẫn và chính nó đã tạo một lực đẩy to lớn cho văn hóa và văn
học Việt Nam trên đường hiện đại hóa. Nhưng đồng thời, người ta đã có thể
nhìn thấy và lo lắng về một cuộc "xâm lăng văn hóa" từ phương Tây. Vấn đề
xây dựng một nền quốc văn mới, thực sự Việt Nam đang trở thành một thách
thức trước những người trí thức và những nhà văn nghệ đương thời. Liệu có
thể tạo nên một sự phục hưng văn hoá, đưa văn hoá dân tộc hoà đồng vào thế
giới hiện đại? Khát vọng ấy đòi hỏi một sự tăng tốc mạnh mẽ và mở rộng
cánh cửa văn hoá ra thế giới. Nhưng tình thế ấy lại đặt văn hoá dân tộc trong
một tư thế chênh vênh: liệu một nền văn hoá “ nhỏ” có thể chống lại ảnh
hưởng áp đặt của những nền văn hoá “ lớn” và có thể chống lại sự cưỡng bức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18

đại đến đỉnh cao. Thơ Mới ra đời và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ với
công lao to lớn của những nhà thơ như: Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư,
Văn học giai đoạn 1930-1945, song song với sự thức tỉnh ý thức xã hội
và ý thức cá nhân mạnh mẽ đã mở ra nhiều hướng, nhiều dòng hay có thể nói
nhiều loại hình văn xuôi khác nhau: văn xuôi trào phúng, văn xuôi tả thực,
văn xuôi tâm lý, văn xuôi phong tục Mỗi loại hình mang những nét thẩm
mỹ riêng, chức năng riêng, cấu trúc loại hình riêng, tạo nên sự đa dạng phong
phú cho mầu sắc của văn xuôi nghệ thuật.
Bên cạnh những loại hình văn xuôi nói trên, trong đời sống văn học
Việt Nam những năm 1930-1945 người ta đã có thể nhận ra một dòng văn
xuôi khác, đó là văn xuôi mang đậm tính trữ tình, được khởi nguồn từ Thạch
Lam, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Ngọc Giao, Đỗ Tốn, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
Văn xuôi nghệ thuật là một thể loại mới và trẻ, đang trên đường tìm kiếm phát
triển và hoàn thiện về cấu trúc và chức năng thể loại. Các tác giả văn xuôi vẫn
đang tiếp tục đào sâu, mở rộng tầm nhìn tiếp cận xã hội bằng nhiều cách khác
nhau.
Khác hẳn với các thể loại văn xuôi kể trên, văn xuôi trữ tình là một loại
hình phức hợp. Nó vân dụng nhiều phương pháp, kết hợp nhiều yếu tố thể loại
khác nhau tạo nên sự đan cài, khó phân định những tiêu chí thể loại và thẩm
mỹ rạch ròi. Là văn xuôi song lại có rất nhiều yếu tố thơ, khiến cho văn xuôi
đôi khi trở thành những bài văn xuôi đầy sức hấp dẫn, lắng đọng sâu xa. Đồng
thời trong văn xuôi trữ tình lại có sự hài hoà giữa chất hiện thực và chất lãng
mạn, giữa tính thời sự và tính trữ tình, tạo thành đặc điểm và công năng thẩm
mỹ riêng; ở đây có sự tiếp thu, kế thừa truyền thống và ưu thế văn học dân
tộc, đó là thơ ca. Vì thế ta thấy văn xuôi trữ tình du nhập khá mạnh các yếu tố
thơ vào văn xuôi, làm cho nó trở nên thân quen, nồng ấm, tác động mạnh mẽ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
vào cảm xúc con người thời đại. Loại hình văn xuôi này về cơ bản vẫn mang

sánh với những nhà thơ đương thời, người ta có thể đưa ra một nhận xét: ông
là một nhà thơ viết nhiều nhất cũng như đề cập đến nhiều vấn đề trong văn
chương và quốc văn rộng rãi hơn cả những nhà Thơ Mới thời kỳ này.
Trong một số truyện ngắnT, thực chất là những áng văn xuôi trữ tình,
Xuân Diệu đã gửi gắm nhiều quan niệm của ông về văn chương và người
nghệ sĩ. Đồng thời, qua những bài phê bình tiểu - luận của Xuân Diệu, ta có
dịp nhìn lại những tư tưởng của ông để có một chân dung đầy đặn về ông, qua
đó, có thể lý giải những động lực tư tưởng và cảm xúc làm nên cái mới và sức
trẻ trong thơ ông. Cũng qua đó, người ta có thể hiểu thêm những yêu cầu cấp
thiết đặt ra trong sự phát triển của Thơ Mới cũng như của văn chương đương
thời được lên tiếng thông qua một đại diện xuất sắc - nhà thơ trẻ Xuân Diệu.
Những bài tiểu luận, phê bình này cũng còn là một cách bộc bạch con người
Xuân Diệu - tư tưởng và cảm xúc của con người nghệ sĩ trong cuộc đối thoại
với chính mình, với văn chương và thời đại.

1.2. Thiết tha xây dựng một nền quốc văn, một nền văn chương An Nam.
Xuân Diệu được coi là nhà thơ "mới nhất trong những nhà Thơ mới" vì
cảm xúc thi ca của ông trẻ trung mới mẻ, đồng thời cũng là một nhà thơ viết
những câu thơ được coi là “Tây quá" (Vũ Ngọc Phan) “có những lối dùng chữ
đặt câu quá Tây” (Hoài Thanh). Một nhà thơ trí thức Tây học, từng làm công
chức nhà nước bảo hộ (Bỗng dưng thi sĩ hóa Tây đoan) mà lên tiếng một cách
nồng nàn thiết tha về việc xây dựng nền quốc văn mới - điều ấy chứng tỏ tinh
thần dân tộc, lòng yêu văn hóa nước nhà của nhà thơ trẻ là sâu rễ bền gốc đến
ngần nào!
1.2.1. Đề cao tiếng mẹ đẻ, kêu gọi sáng tạo bằng quốc ngữ để xây
dưng nền quốc văn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Những tiếng nói thiết tha về quốc văn của Xuân Diệu là sự đáp ứng với

Có thể coi bài Tuy Lý Vương - một thi sĩ Tàu là một bài viết ít nhiều mang
tính "luận chiến” với cuốn khảo cứu mới xuất bản về nhà thơ này. Sau khi dẫn
hai câu ngự thi “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán - Thi đáo Tùng Tuy thất
Thịnh Đường” vốn như một niềm tự hào của văn chương nước nhà, Xuân
Diệu bày tỏ thái độ của mình:
"Tuy Lý Vương là nhà thi hào làm mất cả Thịnh Đường? Có lẽ, có lẽ
lắm. Nhưng dường như thời Thịnh Đường ở bên Tàu thì phải. Vậy thì ông
Tuy Lý Vương ấy có quan hệ gì đến tôi, người chỉ biết tiếng Việt Nam? Với
tôi, với văn chương Việt Nam, Tuy Lý Vương chỉ là: "thi sĩ củ khoai" mà
thôi!. Ông giỏi giang đến thế, ông giàu có đến thế, mà ông đành tâm vứt cài
tài của ông vào trong những bài thơ chữ Hán, những bài thơ mà người Việt
Nam và cả người Tàu nữa chẳng biết dùng để làm gì!".
Xuân Diệu phản đối cái mà người ta gọi Tuy Lý Vương là một “ bậc thi
hào” và ông cho rằng cái việc Tuy Lý Vương làm thơ chữ Hán giống như
hành động “gánh vàng đổ xuống sông Ngô”, “đem tài hoa của mình phụng sự
văn chương ngoại quốc”. Và ông trách: “Nếu ông đừng chê tiếng của mẹ ông
thì văn chương Việt Nam thì văn chương Việt Nam tự hào rằng có thể hay
hơn văn chương Tàu, vì trong thơ Việt Nam, làm bằng tiếng Việt Nam, cái thi
tứ lại dồi dào tao nhã hơn thơ Đường nhiều lắm”.
Phê phán giễu cợt Tuy Lý Vương làm thơ chữ Hán, Xuân Diệu không
hề có ý khinh thị văn chương truyền thống. Ông vẫn tỏ ra trân trọng chữ nôm,
văn thơ nôm dùng tiếng mẹ đẻ để ghi lại ý tình: "Trong đôi bài văn thơ chữ
nôm, Thần Siêu Thánh Quát đã tỏ cho ta thấy những đặc điểm rất hay".
Và trong bài này, còn không ít những câu phê phán nặng nề hơn nữa về
văn chương chữ Hán và cả việc cha ông ta đã sử dụng chữ Hán để sáng tác
văn chương, bộc lộ tư tưởng tình cảm của con người Việt Nam. Chắc không

Trích đoạn Quan niệm về Ái tình và Thơ tình. Tương quan giữa văn xuôi và thơ. Cách diễn đạt giàu hình tượng. Giọng tâm tình chia sẻ. Lối hành văn, diễn đạt mới mẻ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status