Báo cáo tốt nghiệp: ”Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp “. pot - Pdf 15


Báo cáo tốt nghiệp

”Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Kỹ thương – Techcombank : Thực trạng và giải pháp “.

Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN 6
QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
Bảng 1.1 7
Kỳ phiếu 12
Thư tín dụng ( L/C ) 13
Hình 1.1 Trình tự tiến hành nghiệp vụ 15
Hình 1.2 Trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn 17
Hình 1.3 Trình tự nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ 19
Đối với người xuất khẩu: 21
Đối với người nhập khẩu: 22
Đối với ngân hàng: 22
Đối với người xuất khẩu: 23
Đối với người nhập khẩu: 23
Đối với ngân hàng: 23

3.4.2.1 Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho các giao dịch thanh toán
xuất nhập khẩu 55
3.4.2.2 Hoàn thiện chính sách thương mại nhằm đẩy mạnh hoạt động
xuất nhập khẩu 56
3.4.3 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu 58
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
I. Sách, giáo trình, báo cáo… 61
II. Báo, tạp chí 61
III. Các nguồn khác 61 LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển như vũ bão hiện
nay, hội nhập kinh tế quốc gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới đang là


Trong phạm vi của bài viết , em chủ yếu tìm hiểu tình hình thực tế,
những vấn đề còn tồn tại trong công tác thanh toán quốc tế với ba phương
thức thanh toán chủ yếu là Tín dụng chứng từ, Chuyển tiền và thanh toán
nhờ thu tại Techcombank, trong đó phương thức thanh toán bằng chứng từ
được tập trung hơn cả. Qua đó em xin đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Techcombank.
Bố cục của bài viết ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm 3 chương:
Chương I : Lý luận chung về thanh toán quốc tế tại các ngân hàng
Thương mại.
Chương II ; Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương – Techcombank.
Chương III : Phương hướng và một số giải pháp nhằm phát triển
hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Techcombank.

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN
QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM THANH TOÁN QUỐC TẾ
Thanh toán quốc tế ( TTQT) là sự chi trả bằng tiền ( ngoại tệ ) liên
quan tới hoạt động mua bán hay cung ứng hàng hoá giữa các tổ chức hay cá
nhân nước này với các tổ chức hay cá nhân nước khác; hay giữa một quốc
gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các Ngân hàng của các
nước liên quan. TTQT chính là khâu cuối cùng để kết thúc một chu trình
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế thông qua nhiều hình thức
thanh toán khác nhau.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được chia thành hai loại :
quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch.Do đó, thanh toán quốc tế cũng
bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch.
+ Thanh toán mậu dịch : Phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và
các dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế. Thông thường, thanh toán mậu


Phương th
ức thanh
toán
Chi phí thanh toán

Tin cậy nhiều
Chuyển tiền
Chi phí thấp
Tin cậy vừa phải
Nh
ờ thu

Chi phí vừa
Tin cậy ít
Tín dụng chứng từ
Chi phí cao

Ngày nay khi hội nhập kinh tế và giao lưu quốc tế ngày càng trở
thành một xu thế chủ yếu thì thanh toán quốc tế cũng ngày càng phát huy
vai trò của mình.
1.2 VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi
chúng ta đang tiến hành xây dựng đất nước. Thông qua hoạt động TTQT,
chúng ta có thể tận dụng được vốn , công nghệ nước ngoài để thực hiện

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và
đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao

lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của
người này trả cho người cầm hối phiếu.
Hối phiếu có những đặc điểm như sau:
 Tính trừu tượng của hối phiếu:
Trên hối phiếu không cần phải ghi nội dung quan hệ tín dụng, tức là
nguyên nhân gây ra việc lập hối phiếu, mà chỉ cần ghi rõ số tiền phải trả và
nội dung có liên quan đến việc trả tiền. Hiệu lực pháp lý của hối phiếu cũng
không bị ràng buộc do nguyên nhân gì sinh ra hối phiếu. Một khi tách ra
khỏi hợp đồng đến tay người thứ ba thì hồi phiếu trở thành một trái vụ độc
lập, chứ không phải trái vụ sinh ra từ hợp đồng. Hay nói một cách khác,
nghĩa vụ trả tiền của hối phiếu là trừu tượng.
 Tính bắt buộc trả tiền của hối phiếu:
Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên tờ
phiếu. Người trả tiền không thể viện những lý do riêng của mình với người
ký phát phiếu, người ký hậu mà từ chối trả tiền, trừ trường hợp hối phiếu
được lập ra trái với đạo luật chi phối nó.
 Tính lưu thông của hối phiếu.
Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần trong thời
hạn cuả nó. Sở dĩ có được đặc điểm này, bởi vì hối phiếu là lệnh đòi tiền
của người này đối với người khác, hối phiếu có một trị giá tiền nhất định,
có một thời hạn nhất định, thời hạn này thường là ngắn hạn và được người
trả tiền chấp nhận. Tóm lại nhờ vào tính trừu tượng và tính bắt buộc trả tiền
của hối phiếu, mà hối phiếu có được tính lưu thông.
1.3.1.2 Phân loại hối phiếu.
 Căn cứ vào thời hạn trả tiền của hối phiếu, người ta chia hối phiều
làm ba loại:

+ Hối phiếu trả tiền ngay: người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này
do người cầm phiếu xuất trình thì phải trả tiền ngay cho họ.
+ Hối phiếu trả tiền sau một số ngày nhất định, thường từ 5-7 ngày:

trả theo lệnh của ông X một số tiền là ”. Hối phiếu theo lệnh có thể được
chuyển nhượng bằng thủ tục ký hậu theo luật định. Đây là loại hối phiếu
được sử dụng rộng rãi trong thanh toàn quốc tế.
+ Hối phiếu trả cho người cầm phiếu( to bearer bill).
 Căn cứ vào người ký phát hối phiếu, người ta chia hối phiếu làm
hai loại:
+ Hối phiếu thương mại là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát đòi
tiền người nhập khẩu trong nghiệp vụ về thanh toán hàng hoá xuất khẩu
hoặc dịch vụ cung ứng.
+ Hối phiếu ngân hàng là hối phiếu do ngân hàng phát ra lệnh cho
đại lý của mình thanh toán một số tiền nhất định cho người hưởng lợi chỉ
định trên hối phiếu.
1.3.2 Séc trong thanh toán quốc tế
1.3.2.1 Khái niệm
Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện của người chủ tài
khoản, ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người
có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm
séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.
Đối với người có tiền mở tại ngân hàng một tài khoản, ngân hàng sẽ
cấp cho người gửi tiền một quyển séc. Mỗi lần muốn rút tiền ra thì viết một
tờ séc đưa đến ngân hàng để lĩnh tiền.
1.3.2.2 Phân loại séc trong thanh toán quốc tế
- Séc vô danh (cheque to bearer): Là loại séc không ghi tên người
hưởng lợi, chỉ ghi câu “Trả cho người cầm séc” (Pay to the bearer). Đối với
loại séc này, ai cầm được séc đều có thể lĩnh được tiền.

- Séc đích danh (nominal cheque): Loại séc chỉ định rõ tên người
được hưởng và chỉ có người này mới được lĩnh tiền.
- Séc theo lệnh (cheque to order): Loại séc ghi “trả theo lệnh” của
người hưởng lợi. Séc này được chuyển nhượng bằng hình thức ký hậu, vì

thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.
Hối phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính.
Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của kỳ phiếu.
Khác với hối phiếu thường có hai bản : số 1 và số 2, kỳ phiếu chỉ có
một bản chính do con nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi kỳ phiếu
đó.
Thư tín dụng ( L/C )
Thư tín dụng là một văn bản pháp lý trong đó ngân hàng mở L/C
cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với nội dung của L/C.

1.4 CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức trả
tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và
người nhập khẩu. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng
và phát triển, các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng
và phong phú, nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về thanh toán cho khách
hàng. Mỗi phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau.
Việc nghiên cứu các phương thức thanh toán nhằm mục đích:
- Hiểu rõ bản chất cũng như nguyên tắc của các phương thức.
- Thấy được vai trò quan trọng của từng phương thức trong thanh
toán quốc tế.
- Nhận ra được những mặt hạn chế của các phương thức thanh toán
đang áp dụng tại TechcomBank và đề xuất giải pháp hoàn thiện, phát triển
các phương thức đó.
1.4.1 Phương thức chuyển tiền
1.4.1.1 Khái niệm
Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế mà khách hàng
( người trả tiền ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất
định cho người khác ( người hưởng lợi ) ở một địa điểm, trong một

và gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu.
Ngân hàng
chuyển tiền
Ngân hàng
đại lý

Người nhập khẩu

Người xuất khẩu
(4)
(1)

(5)

(2)

(3)(4) : Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở
nước ngoài chuyển tiền cho người xuất khẩu.
(5) : Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
1.4.2 Phương thức nhờ thu
1.4.2.1 Khái niệm
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người
bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho
khách hàng, uỷ thác cho ngân hàng mình thu hộ một số tiền ở người mua
trên cơ sở hối phiếu lập ra.
Phương thức nhờ thu được thực hiện trên cơ sỏ những quy định của
nguyên tắc thống nhất nhờ thu số 522 của phòng thương mại quốc tế sửa

(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình
yêu cầu mở một L/C cho người xuất khẩu hưởng.
(2) Ngân hàng mở L/C căn cứ vào đơn xin mở L/C sẽ lập một L/C và
thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông
báo việc mở L/C.
(3) Ngân hàng thông báo L/C cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung
L/C
(4) Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C sẽ giao hàng cho người nhập
khẩu, nếu không thì yêu cầu sửa đổi bổ sung cho phù hợp.
(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu
của L/C và xuất trình tới ngân hàng thông báo để qua đó xin ngân
hàng mở L/C thanh toán.

Ngân hàng thu hộ

Ngân hàng đại lý

Người xuất khẩu

Người nhập khẩu
(4)

(5)

(7)

(2)

- Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định
đoạt hàng hoá của người mua, chứ chưa khống chế được việc trả tiền của
người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận
chứng từ hoặc có thể không trả tiền trong trường hợp bất lợi cho họ.
- Việc trả tiền còn quá chậm chạp, từ lúc giao hàng đến lúc nhận
được tiền có khi kéo dài vài tháng hoặc nửa năm.
- Trong phương thức này, ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung
gian thu tiền hộ, còn không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.
Hình 1.3 Trình tự nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ Ngân hàng thu hộ Ngân hàng đại lý
Người xuất khẩu Người nhập khẩu
(7)

(3)

(1)

(2)

(8)

(4)

(5)


trong trường hợp hàng được thanh toán theo phương thức tín dụng chuyển
sang nhờ thu.

1.4.3 Phương thức tín dụng chứng từ
1.4.3.1 Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ ( TDCT ) là một sự thoả thuận trong
đó ngân hàng phát hành ( ngân hàng mở thư tín dụng ) theo yêu cầu của
người mở thư tín dụng sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác ( người
hưởng lợi ) hoặc chấp nhận hôí phiếu do người này ký phát trong phạm vi
số tiền đó khi người này xuất trình bộ hồ sơ thanh toán phù hợp với những
quy định trong thư tín dụng. Trong đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và
người yêu cầu mở thư tín dụng về thực chất là một sự uỷ nhịêm. Thư tín
dụng thực chất là một chứng thư ( điện hoặc ấn chỉ) trong đó ngân hàng mở
L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ phù
hợp với nội dụng L/C.
Phương thức TDCT ra đời vào năm 1993, đáp ứng nhu cầu nâng cao
hiệu quả thanh toán quốc tế và từ đó đến nay nó trở thành phương thức
thanh toán quốc tế thông dụng nhất trong ngoại thương.
1.4.3.2 Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ
Thực chất đây là một hình thức đảm bảo thanh toán của ngân hàng
tạo nên sự tin cậy giữa các bên trong quan hệ thương mại quốc tế.
Tín dụng chứng từ chỉ là căn cứ để thanh toán giữa các bên chứ
không phải là thực tế hàng hoá. Sự tồn tại của bộ chứng từ cũng như sự phù
hợp của nó với L/C tạo nên cơ sở nền tảng của tín dụng chứng từ, chứ
không gắn liền với thực tế hàng hoá được giao giữa các bên theo như hợp
đồng.
Vai trò của các ngân hàng không còn là trung gian đơn thuần mà là
người quản lý tổ chức trả tiền. Do vậy, khi sử dụng phương thức này các
bên phải điều tra vị thế và khả năng của ngân hàng.
1.4.3.3 Ưu nhược điểm của phương thức TDCT trong thanh toán quốc tế


- Thực hiện thanh toán quốc tế đòi hỏi ngân hàng phải có cơ sở vật
chất nhất định, đội ngũ nhân viên có trình độ, mạng lưới ngân hàng rộng
khắp. qua đó, nâng cao chất lượng uy tín ngân hàng.
b/. Nhược điểm:
Đối với người xuất khẩu:
Do tính chặt chẽ của bộ chứng từ và người nhập khẩu không có thiện
chí với người xuất khẩu, họ có thể vì một lỗi nhỏ trên chứng từ để từ chối
thanh toán mặc dù hàng hoá được giao theo đúng hợp đồng.
Đối với người nhập khẩu:
Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, khâu thanh toán tách
rời hàng hoá nên người nhập khẩu vẫn có thể gặp rủi ro do giả mạo chứng
từ hoặc chứng từ không đúng với hợp đồng hàng hoá.
Đối với ngân hàng:
Gặp rủi ro về tỷ giá, rủi ro do người nhập khẩu mất khả năng thanh
toán, tính phức tạp và chính xác khi cung ứng dịch vụ.
Tuy nhiên, thanh toán theo phương thức TDCT vẫn là một phương
thức thanh toán phổ biến nhất hiện nay, chiếm 80 -90 % trong các phương
thức thanh toán, nó thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế và hoạt động
thương mại quốc tế.
1.4.3.4 Các bên tham gia trong phương thức TDCT
- Người xin mở thư tín dụng : là người mua, người nhập khẩu hàng
hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.
- Người hưởng lợi thư tín dụng : là người bán, người xuất khẩu hay
bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng mở thư tín dụng : là ngân hàng phục vụ người nhập
khẩu, cấp tín dụng cho người nhập khẩu đứng ra cam kết trả tiền cho người
hưởng lợi thư tín dụng khi người này xuất trình giấy tờ phù hợp với các
điều kiện, điều khoản của thư tín dụng.


ngay cả khi có bất kỳ một điều dẫn chiếu nào đến các hợp đồng đó được
ghi vào tín dụng chứng từ.
 Chức năng của thư tín dụng:
- Chức năng thanh toán: Trong thanh toán quốc tế ,việc đảm bảo khả
năng thanh toán là yếu tố quan trọng và không thể thiếu được. Tín dụng
chứng từ cũng có chức năng cơ bản đó.
- Chức năng đảm bảo tín dụng chứng từ : Được thể hiện qua cam kết
độc lập của ngân hàng mở thư tín dụng đảm bảo khả năng thanh toán cho
người xuất khẩu ngay cả khi người nhập khẩu không có khả năng thanh
toán. Quyền lợi của người nhập khẩu cũng được đảm bảo với việc ngân
hàng chỉ trả tiền cho người xuất khẩu khi họ đã trình bộ chứng từ phù hợp
với L/C.
- Chức năng tín dụng : Khi ngân hàng mở L/C nhận được đơn xin mở
L/C của người nhập khẩu, ngân hàng có thể yêu cầu người nhập khẩu ký
quỹ từ 0 – 100 %, tuỳ theo quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân
hàng có thể cho người nhập khẩu vay để ký quỹ hoặc trả tiền lãi cho số tiền
ký quỹ thuộc sở hữu của người nhập khẩu. Khi ngân hàng nhận được bộ
chứng từ và hối phiếu, ngân hàng trả tiền cho người nhập khẩu, nghĩa là
ngân hàng cấp tín dụng cho người nhập khẩu.
 Nội dung của thư tín dụng
Thông thường một thư tín dụng bao gồm các nội dung sau:
- Số hiệu : Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng của nó để
trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng.
- Địa điểm mở L/C : Là nơi ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền
cho người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn
luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp lý về L/C đó.
- Ngày mở L/C : Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở
L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và

Trích đoạn Hoàn thiện quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng Quản lý ngoại hối Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế Cần hoàn thiện môi trường pháp lý cho các giao dịch thanh toán Hoàn thiện chính sách thương mại nhằm đẩy mạnh hoạt động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status