1Luận văn
Phương hướng và biện pháp thúc đẩy
xuất khẩu của Việt Nam trong tiến trình
hội nhập AFTA 2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian hiện nay, tình hình kinh tế chính trị thế giới diễn biến
khá phức tạp và nhanh chóng. Sự phát triển của phân công lao động quốc tế
cùng với những thành tựu mới của cách mạng khoa học-công nghệ đưa tới sự
biến đổi sâu sắc về kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế, khoa học - công nghệ với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày
càng mạnh mẽ thì không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển được
trong sự co cụm khép kín đối với thế giới bên ngoài mà phải có liên kết kinh
tế.
Theo xu hướng này thì trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều các
hình thức liên kết kinh tế quốc tế ở các cấp độ khác nhau. Chính vì vậy mà
ngày 28/7/1995 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của hiệp hội
các quốc gia Đông Nam A (Asean) và ngày 1/1/1996 Việt Nam trở thành
thành viên của khu vực mậu dịch tự do Asean(ATFA). Có thể nói việc tham
gia AFTA là bước đầu tiên khởi động đối với quá trình hội nhập kinh tế khu
vực và toàn cầu của nền kinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp
Việt Nam nói riêng .
Tuy nhiên Việt Nam mới chỉ đang trong quá trình hội nhập vào AFTA
cho nên những cơ hội mới, những lợi ích đạt được cũng như những thách
hàng hoá cơ bản, các xí nghiệp công nghiệp lớn, các thoả thuận thương mại
ưu đãi và các quan hệ kinh tế đối ngoại. Tuy đã có nhiều nỗ lực để thúc đẩy
hợp tác kinh tế trong ASEAN nhưng kết quả của những nỗ lực đó không đạt
được các mục tiêu mong đợi. Chỉ đến năm 1992, khi các nước thành viên
ASEAN ký kết một hiệp định về khu vực mậu dich tự do AFTA hợp tác kinh
tế giưã các nước ASEAN mới thực sự được đưa lên một tầm mức mới.
Trước khi AFTA ra đời, hợp tác kinh tế ASEAN đã trải qua nhiều kế
hoạch hợp tác kinh tế khác nhau đó là.
Thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA)
Các dự án công nghiệp ASEAN (AIP) 4
Kế hoạch kết hợp công nghiệp ASEAN (AIC) và kế hoạch kết hợp
từng lĩnh vực (BBC)
Liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV)
Các kế hoạch hợp tác kinh tế trên tuy đã thể hện cố gắng nhưng chỉ tác
động đến một phần nhỏ trong thương mại nội bộ khối ASEAN và không đủ
khả năng ảnh hưởng đến đầu tư trong khối. Có nhiều lý do khác nhau dẫn
đến sự không thành công này. Đó là sự yếu kém trong hoạch định kế hoạch,
quản lý kém hiệu quả, trong nhiều trường hợp hoạt động của chính tổ chức
phụ thuộc vào ý trí của Chính phủ chứ không phải vào nhu cầu khách quan
của thị trường.
Tuy nhiên các hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN đã có khuynh
hướng tiến đến hiệu quả hơn từ AIP đến AIJV. Khu vực tư nhân đã được chú
trọng hơn, quy luật thị trường dần được tuân thủ, các thủ tục liên quan được
đơn giản hoá và một số trường hợp các thủ tục rườm rà đã được loại bỏ, mức
ưu đãi (MOP) được tăng cường. Tuy không đạt được kết quản mong đợi
nhưng các kế hoạch hợp tác kinh tế này thực sự là những bài học quý báu
cho việc hợp tác kinh tế giữa các nước đang phát triển. AFTA đã ra đời trên
trong nội bộ ASEAN đòi hỏi các thành viên phải xác định được 4 loại danh
mục:
3.1 Danh mục cắt giảm thuế quan I.L (Inclusion List) bao gồm các
hàng hoá sẽ cắt giảm thuế quan xuống 0-5% trong khoảng thời gian 10 năm.
Các hàng rào cản phi thuế quan khác đối với danh mục này sẽ được bãi bỏ
sau khi các quốc gia thành viên hoàn thành việc cắt giảm danh mục. I.L được
chia làm hai lộ trình
Lộ trình cắt giảm bình thường (Normal track): cắt giảm thuế quan
đối với hàng hoá có mức thuế thấp hơn 20% xuống còn từ 0-5%
vào ngày 1/1/2001. Còn mặt hàng có mức thuế lớn hơn 20% sẽ cắt
giảm xuống nhỏ hơn 20% vào ngày 1/1/2001 và giảm xuống còn từ
0-5% vào ngày 1/1/2003. Lộ trình này được quy định cho ASEAN6
Lộ trình cắt giảm nhanh (Fast track): đối với những mặt hàng có
mức thuế nhỏ hơn 20% giảm xuống còn từ 0-5% vào ngày
1/1/1998 và đối với mặt hàng mức thuế lớn hơn 20% giảm xuống
nhỏ hơn 20 vào ngày 1/1/2000 và giảm xuống còn từ 0-5% vào
năm 2002.
3.2 Danh mục loại trừ tạm thời TEL (Temporary Exclution List) bao
gồm các mặt hàng chưa tham gia ngay vào cắt giảm thuế quan vì tính cạnh 7
tranh còn yếu, vì tầm quan trọng chiến lược hoặc là vì các mục tiêu khác của
quốc gia. Tuy nhiên các mặt hàng này sẽ được đưa vào lộ trình cắt giảm bình
thường thuộc danh mục I.L mỗi năm 20% và bắt đầu từ năm 1996. Đảm bảo
ngày 1/1/2000 tất cả các mặt hàng thuộc danh mục lưu trữ tạm thời sẽ được
chuyển vào danh mục thuế quan theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng
kinh tế ASEAN lần thứ 26 (AEM).
3.3 Danh mục loại trừ hoàn toàn PEL (Permanent Exclution List) gồm
các hàng hoá không tham gia vào lộ trình cắt giảm vì các lý do an ninh quốc
sẽ được lợi nhiều nhất từ AFTA. Những ảnh hưởng tới cấu trúc kinh tế, ảnh
hưởng tới tính hấp dẫn với các luồng đầu tư trực tiếp của nước ngoài và ảnh
hưởng tới khả năng tham gia vào thương mại quốc tế.
4.1. Về cấu trúc kinh tế.
Về nguyên tắc, mỗi nước thành viên đều phải tiến hành những sự điều
chỉnh cần thiết để đối phó với mức độ cạnh tranh cao hơn từ các nước thành
viên khác trong khu vực. Mỗi nước thành viên phải tận dụng triệt để các lợi
thế tương đối của mình. Có lẽ tất cả các nước thành viên đều sẽ phải tổ chức
lại nền kinh tế của mình. Họ sẽ buộc phải từ bỏ sản xuất một số mặt hàng
nào đó để đi vào chuyên môn hoá một số mặt hàng khác. Có thể dự báo các
dịch chuyển sau đây trong hoạt động công nghiệp của các nước ASEAN.
Đối với Indonesia, sẽ có sự tăng mạnh trong sản xuất các mặt hàng
cần nhiều lao động và cần nhiều tài nguyên như dệt, may mặc, đồ gỗ, giấy và
các sản phẩm giấy.
Đối với Malaisia, sản xuất trong các lĩnh vực cần tương đối nhiều lao
động như đồ gỗ, quần áo có thể tăng lên. Sẽ có sự giảm đáng kể các sản
phẩm cơ khí, chế tạo có hàm lượng vốn cao. Giảm mạnh nhất có thể xảy ra
trong các ngành thực phẩm, giấy và sản phẩm giấy, đồ thuỷ tinh, các sản
phẩm phi kim loại.
Đối với Philippines, sự tăng lên mạnh nhất thuộc về các ngành sản
xuất cần nhiều vốn như các sản phẩm chế tạo phi kim loại, các máy điện và
không điện. Sẽ giảm chút ít các sản phẩm gỗ và công nghiệp hoá học. Ảnh 9
hưởng đối với Philippines có thể nhỏ vì nước này không buôn bán nhiều với
các nước ASEAN khác.
Đối với Singapore, các sản phẩm cần nhiều vốn, kỹ thuật sẽ tăng lên
trong khi các ngành công nghiệp đòi hỏi sử dụng nhiều lao động sẽ giảm
đáng kể.
ASEAN6
%
43.675
98,26%
1245
0.55
377
0.85
150
0.34
44.447
100 I.L
TEL
PEL
SL
Campuchia
3115
3523
134
các vị trí khác nhau dựa vào sự gần gũi về địa lý và khác nhau về giá thành
sẽ là kết quả của sự phối hợp trong AFTA. Thương mại nội bộ một ngành
công nghiệp sẽ tăng lên. Đây sẽ là cơ hội cho một số ngành công nghiệp
công nghệ cao phát triển ở Việt Nam bất chấp một số dự báo bi quan dựa
trên cách nhìn tĩnh rằng các ngành công nghệ sẽ bị thiệt hại vì chúng phần
lớn cần nhiều vốn trong khi ta lại thiếu vốn và công nghệ tiên tiến. Tuy
nhiên, để tạo dựng thành công một mảng sản xuất nội bộ, các nước ASEAN
còn phải nỗ lực nhiều do trình độ quản lý còn yếu kém và còn thiếu kinh
nghiệm trong việc phối hợp giữa các quốc gia với nhau. 11
FDI có thể chia thành hai nhóm chính: đầu tư trên cơ sở tìm kiếm thị
trường và đầu tư trên cơ sở tận dụng lợi thế tương đối. Đầu tư trên cơ sở tìm
kiếm thị trường là nhằm tìm kiếm những thị trường mới. Loại đầu tư này
thường phổ biến tại các nước theo chiến lược phát triển thay thế nhập khẩu
(ISI). Các nước này thường tận dụng các hàng rào thuế quan cao để bảo hộ
thị trường trong nước. Để chiếm lĩnh thị trường của các nước đó và tránh
hàng rào thuế quan, các công ty nước ngoài buộc phải đầu tư trực tiếp để sản
xuất bên trong các nước này. Đầu tư trên cơ sở tận dụng các lợi thế tương
đối nhằm tranh thủ các lợi thế tương đối của các nước nhận đầu tư. Loại đầu
tư này thường phổ biến tại các nước theo chiến lược phát triển hướng vào
xuất khẩu (ESI). Các nước này theo đuổi một nền kinh tế mở với hàng rào
thuế quan thấp nên điểm hấp dẫn chính của họ với đầu tư nước ngoài là các
lợi thế tương đối mà họ cung cấp cho các nhà đầu tư. Tiềm năng lớn nhất của
AFTA trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là thuộc về loại đầu tư này.
AFTA sẽ có những ảnh hưởng tích cực trong việc thu hút đầu tư nước
ngoài, nhưng điều đó không có nghĩa rằng ảnh hưởng tích cực sẽ như nhau
tại tất cả các nước thành viên. Những nước có cơ sở hạ tầng tốt hơn, chất
lượng lao động cao hơn và thể chế kinh tế thuận lợi hơn sẽ thu hút được
Brunei 2.304,7 2.169,1 (171,5)
(7,3) 1.720,4 1.067,6 (652,7) (37,9)
Indonesia 48.665,5 62.124 13.458,6
27,7 24.003,3 33.514,8 9.511,5 39,6
Malaysia 84.287,9 1.193,8 13.866,6
16,5 63.677,8 79.647,5 15.696,6
25,1
Myanma 738,0 38.078,2
455,8 61,8 1.883 2.219,4 336,4 17,9
Philippines 35.036,9 138.352,5
3.041,4
8,7 30.742,5 31.387,4 644,9 2,1
Singapore 114.625,1 69.254,1
23.727,3
20,7 110.998 134.680,1 23.682,2
21,3
Thái Lan 56.110,9 14.308 13.143,2
23,4 48.318 61.905,8 13.587,8
Philippines 4.989,1 5.982,6 993,4 19,9 4.461 4.955,4 494,4 11,1
Singapore 29.269,3 37.784 8.514,6
29,1 26.241 33.291,3 7.050,3 26,9
Thái Lan 9.901,9 15.099,7
5.197,8
52,5 7.987,4 10.475,9 2.488,5 31,2
Việt Nam 2.516,3 2.613 96,7 3,8 3.290,9 4.519,4 1.228,5 37,3 14
Tổng 77.451,8 97.804,6
20.352,8
26,3 61.110,9 77.605,7 16.494,8
27
PHẦN 2. NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAM GIA AFTA
ĐẾN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I. Nền kinh tế Việt Nam trước khi tham gia AFTA.
Từ những năm đầu của thập niên 90 sau khi khối SEV giải tán và Việt
Nam thực hiện công cuộc đổi mới với chính sách mở cửa và đa phương hoá
các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ thương mại của Việt Nam với các
nước thành viên ASEAN ngày càng được cải thiện và phát triển. Các nước
thành viên ASEAN trở thành những bạn hàng quan trọng trong buôn bán
ngoại thương của Việt Nam.
mại và giao lưu hàng hoá mới chỉ đang trong quá trình hình thành và đối với
rất nhiều các mặt hàng, những mối quan hệ này còn rất mỏng manh và dễ bị
phá vỡ.
Khi tham gia thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN, đánh giá sự
thuận lợi hay khó khăn khi thực hiện và đánh giá các ảnh hưởng không chỉ là
tình hình buôn bán ngoại thương của Việt Nam đối với những nước trong
khu vực, mà bên cạnh đó và quan trọng hơn rất nhiều, sẽ là các yếu tố cơ bản
của nền kinh tế, như cơ sở hạ tầng, các điều kiện về nguồn lực, các yếu tố về
chính sách
II. Những cơ hội và thách thức của nền thương mại Việt Nam khi tham
gia AFTA.
1. Thách thức.
Qua phân tích cụ thể những lợi thế so sánh của Việt Nam và các nước,
chúng ta có thể thấy được những khó khăn của Việt Nam khi tham gia vào tổ
chức liên kết kinh tế khu vực. Trước hết đó là sự khác biệt về thể chế và cơ
chế quản lý kinh tế. Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Các quan hệ thị trường
trong nền kinh tế Việt Nam thực sự chưa trưởng thành (cái quán tính của
cung cách quan liêu, bao cấp trong quản lý còn nặng nề). Điều này thể hiện 16
mức độ sẵn sàng đón nhận tiến trình AFTA chưa cao xét về mặt cơ chế quản
lý.
Quan trọng hơn nữa khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế giữa
Việt Nam và các nước ASEAN (về thu nhập bình quân trên đầu người, dự
trữ ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư, trình độ công nghệ ) cho thấy sự
cách biệt quá lớn bất lợi cho Việt Nam cũng là mối lo ngại cho quá trình hội
nhập này. Trình độ công nghệ sản xuất hiện nay ở ta, đặc biệt trong các
ngành chủ chốt như công nghiệp chế tạo, chế biến, còn ở mức yếu kém thì
khích kinh doanh.
Tóm lại, có thể thật sự hội nhập được với khu vực, chúng ta phải vượt
lên những trì trệ của chính mình, đạt được sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã
hội đi kèm với sự tăng trưởng về kinh tế. Sự tăng trưởng cùng nhịp độ với
các nước trong khu vực sẽ là cơ sở đảm bảo về lâu dài để có sự liên kết giữa
Việt Nam với các nước thành viên ASEAN được bền chặt trên cơ sở hai bên
cùng có lợi.
Bên cạnh những khó khăn rất lớn, chúng ta cũng có những thuận lợi
nhất định khi hội nhập với ASEAN. Việt Nam và các nước ASEAN là những
nước láng giềng đã có truyền thống giao lưu kinh tế, văn hoá và tương đối
hiểu biết lẫn nhau. Bên cạnh đó, đường lối đổi mới của Việt Nam đang tiến
tới để hội nhập trong sự thống nhất của khu vực. Liên kết kinh tế giữa Việt
Nam và ASEAN là xu thế tất yếu của mỗi nước trong quá trình hội nhập với
nền kinh tế khu vực và toàn cầu, bởi lẽ nó phù hợp với lợi ích của mỗi quốc
gia.
2. Cơ hội.
Tham gia hợp tác kinh tế, thương mại với khu vực, Việt Nam có thể
thu được một số cơ hội và thuận lợi sau đây:
Thứ nhất, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN là sự
kiện đánh dấu bước phát triển của Việt Nam trong quan hệ quốc tế để hội
nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Có Việt Nam trong ASEAN sẽ góp
phần quan trọng tạo ra sự thống nhất mới trong ASEAN, từ đó tạo ra nhiều
lợi ích cho Việt Nam và các nước thành viên. Trọng tâm của hợp tác kinh tế
trong ASEAN những năm gần đây là hợp tác phát triển thương mại, trong đó 18
cốt lõi là việc hình thành AFTA, thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung CEPT, hình thành nên một thị trường thống nhất cho mọi
nước thành viên. Việc tham gia vào chương trình này là điều kiện thuận lợi
các ngành cần nhiều lao động mà các nước đó đang cần chuyển giao. Sử
dụng vốn và kỹ thuật cao của các nước trong khu vực để khai thác khoáng
sản và xây dựng cơ sở hạ tầng
Thứ sáu, tận dụng ưu thế về lao động rẻ và có hàm lượng chất xám cao
để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các nước trong khu vực.
Thứ bảy, một trong những quy định về sản phẩm được hưởng quy chế
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GPS) của Mỹ là "trị giá nguyên liệu cho
phép nhập để sản xuất hàng hoá đó phải dưới 65% toàn bộ giá trị của sản
phẩm đó khi vào lãnh thổ hải quan Mỹ" và "giá trị một sản phẩm được chế
tạo ở hai hoặc trên hai nước là hội viên của một hiệp hội kinh tế, liên minh
thuế quan, khu mậu dịch tự do thì được coi là sản phẩm của một nước". Vì
vậy, việc Việt Nam tham gia AFTA sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam vẫn có
thể nhập nguyên liệu của các nước ASEAN khác để sản xuất và sản phẩm đó
vẫn được GPS.
3. Tình hình thực hiện AFTA của Việt Nam cho đến nay.
Sau khi trở thành thành viên của ASEAN vào cuối năm 1995, Việt
Nam cam kết bắt đầu tham gia thực hiện AFTA từ 01/01/1996 và sẽ kết thúc
vào 01/01/2006 với mục tiêu cuối cùng là cắt giảm thuế xuất nhập khẩu của
tất cả các mặt hàng thực hiện AFTA xuống 0-5%.
Hàng năm Chính phủ Việt Nam đều ban hành Nghị định công bố danh
mục thực hiện AFTA cho năm đó. Năm 1997, chính phủ Việt Nam cũng đã
phê duyệt Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA giai đoạn
1996 - 2006 của Việt Nam để làm căn cư điều chỉnh cơ cấu trong nước và
định hướng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất -
kinh doanh phù hợp
Đánh giá tác động của việc gia nhập AFTA của Việt Nam trong 5 năm
vừa qua (1996 - 2000) mặc dù chúng ta đã từng bước thực hiện việc cắt giảm
thuế quan cho 4200 dòng thuế tuy nhiên vẫn chưa cho thấy có những thay
(USD)
Tăng trư
ởng
(%)
T
ỷ trọng
(%)
Kim ngạch
(USD)
Tăng trư
ởng
(%)
Tỷ trọng
(%) 21
ASEAN 3.288.976.936
-12 100 4.519.376.938
37,4 100
Brunei 4.244 0
Campuchia 12.825.397 -70 1 37.480.637 192,2 0,8
Indonesia 285.240.078 11 9 348.736.843 22,3 7,7
Lào 195.030.573 35 6 111.595.682 -42,8 2,5
Malayxia 308.978.205 24 9 284.913.294 24,6 8,5
Myanma 1.224.849 0 1,4
Philippines 46.137.172 -32 1 63.298.901 37,2
Singapore 1.883.271.915
6,07 100
Brunei 539.853 0,02
Campuchia 91.124.963 21,25 3,70 132.722.481 45,65 5,08
Indonesia 421.019.222 33,17 17,09 248.008.414 -41,09 9,49
Lào 164.253.795 124,11 6,67 66.396.913 -59,58 2,54
Malayxia 256.853.800 123,46 10,43 413.478.688 60,98 15,82
Myanma 1.521.014 1,18 0,06
Philippines 393.318.055 0,17 15,97 477.709.281 21,46 18,28
Singapore 822.098.751 -23,89 33,37 885.733.050 7,74 33,90
Thái Lan 312.73.722 5,79 12.69 388.902.105 24,36 14,88
MẶT HÀNG
Kim ngạch
(USD)
Tăng trư
ởng
(%)
Tỷ trọng
(%)
Kim ngạch
(USD)
Tăng trư
ởng
(%)
Tỷ trọng
(%)
Dầu thô 570.878.170 55,77 23,17 927.664.357 62,50 35,50
Gạo 569.558.361 1,30 23,12 230.158.847 -59,59 8,81
LK vitính 393.030.878 15,95 525.642.282 33,74 20,12
giảm thuế quan cho 6210 dòng thuế nhập khẩu trong tổng số 6400 dòng thuế
hiện hành, cụ thể như sau:
+ Tiếp tục thực hiện cắt giảm thuế cho 4200 dòng thuế đã đưa voà
thực hiện CEPT từ năm 2000 trở về trước.
+ Khoảng 1940 dòng thuế còn lại sẽ thực hiện cắt giảm trong 3 năm
2001 - 2003 theo lộ trình như sau:
Năm 2001: khoảng 720 dòng thuế
Năm 2001: khoảng 510 dòng thuế
Năm 2003: khoảng 710 dòng thuế
Việc giảm thuế sẽ được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ Toàn bộ các mặt hàng còn lại trong danh mục lại trừ tạm thời (TEL)
sẽ phải thực hiện giảm thuế trong 3 năm 2001. 2002 và 2003.
+ Mức thuế xuất nhập khẩu của toàn bộ mặt hàng trong danh mục
giảm thuế không được cao hơn 20% kể từ thời điểm 01/01/2001 trở đi 24
+ Tất cả các biện pháp hạn chế định lượng sẽ phải bỏ ngay khi mặt
hàng được chuyển vào cắt giảm để thực hiện AFTA.
Như vậy có nghĩa là đến năm 2006 có khoảng 95 mặt hàng nhập khẩu
từ ASEAN vào Việt Nam sẽ chỉ còn ở mức thuế xuất 0-5% và không bị áp
dụng các biện pháp phi thuế quan.
- Trên cơ sở Lịch trình tổng thể đã được chính phủ thông qua về mặt
nguyên tắc như trên, Bộ Tài chính đã dự thảo nghị định ban hành Danh mục
thực hiện AFTA năm 2001 với lộ trình cắt giảm thuế quan của khoảng trên
5000 dòng thuế, trong đó có:
+ Khoảng 64% số dòng thuế đạt thuế suất 0-5%
+ 35% số dòng thuế đạt thuế suất 0%.