CHƯƠNG 6: THIẾT KẾ VÀ THÀNH LẬP CÁC BẢN ĐỒ KINH TẾ-XÃ HỘI - Pdf 15

CHƯƠNG 6: THIẾT KẾ VÀ THÀNH LẬP CÁC BẢN ĐỒ
KINH TẾ-XÃ HỘI
BÀI 6-1: ĐẶC ĐIỂM THIẾT KẾ, THÀNH LẬP CÁC BẢN ĐỒ KINH TẾ-XÃ HỘI
Kinh tế-xã hội là một lĩnh vực rất rộng lớn, là khái niệm nói về các hoạt động
sản xuất, dịch vụ và mọi mặt của đời sống, vật chất và tinh thần.
Nội dung chủ yếu của các bản đồ kinh tế-xã hội là sự thể hiện các đối tượng,
hiện tượng, các quá trình và điều kiện kinh tế xã hội. Tức là trên bản đồ kinh tế-xã
hội phản ánh môi trường hoạt động của dân cư: kinh tế, cơ cấu và chính sách của
nhà nước, đời sống và tinh thần của xã hội, các hiện tượng, sự kiện lịch sử.
1. Phân loại các bản đồ kinh tế-xã hội:
a. Theo nội dung:
−Các bản đồ dân cư.
−Các bản đồ kinh tế.
−Các bản đồ hành chính-chính trị.
−Các bản đồ về công nghiệp, xây dựng.
−Các bản đồ về giao thông vận tải và thông tin liên lạc.
−Các bản đồ về dịch vụ, thương mại.
−Các bản đồ về giáo dục, y tế, văn hóa.
−Các bản đồ về lịch sử.
−Nhóm bản đồ chuyên môn: du lịch, giáo khoa, địa chính.
−Bản đồ về nông nghiệp.
b. Theo độ rộng của đề tài:
−Các bản đồ chung.
−Các bản đồ chuyên ngành trong đó lại phân ra bản đồ chuyên ngành rộng
và bản đồ chuyên ngành hẹp. Phân loại kiểu này chỉ mang tính tương đối.
c. Theo sự thể hiện các hiện tượng trên bản đồ:
−Các bản đồ phân tích: thể hiện tỉ mỉ, riêng biệt một ngành. Ví dụ: bản đồ
giao thông đường sắt,
−Các bản đồ tổng hợp: từ các chỉ số khác nhau được tổng hợp thành chỉ số
chung thể hiện. Ví dụ: Bản đồ phân vùng kinh tế, phân vùng nông nghiệp,
−Các bản đồ phức hợp: thể hiện đồng thời các hiện tượng khác nhau, mỗi

Bố cục phải nhấn mạnh được những khái niệm chính, những yếu tố chính của bản
đồ. Trong trường hợp này, ngoài bản đồ chính phản ánh những nội dung cơ bản
theo mục đích và chủ đề của bản đồ có thể lập thêm những bản đồ phụ, biểu đô, đồ
thị để bổ sung cho nội dung chính, tăng lượng thông tin cho bản đồ. Bố cục cân đối
nâng cao độ phong phú của nội dung bản đồ.
3. Nguyên tắc thành lập:
−Xác định rõ ràng, cụ thể mục đích của bản đồ: phục vụ đối tượng nào?
muốn nhấn tới ý tưởng gì?
−Các bản đồ kinh tế-xã hội tiên tiến phải được thành lập trên cơ sở các thành
tựu hiện đại của khoa học kĩ thuật về nội dung, cũng như hình thức theo những
nguồn tài liệu chính xác hiện đại. Vì vây, khi thành lập bản đồ cần phải khảo sát
điều tra về độ chính xác, tin cậy, đầy đủ và xác thực của đối tượng, hiện tượng thể
hiện trên bản đồ.
−Các đối tượng, hiện tượng phải được phân loại một cách khoa học đúng
đắn về phương pháp, liên tục về hệ thống và thống nhất về nguyên tắc.
2
−Các đối tượng, hiện tượng phải đảm bảo tính chính xác địa lý, tất cả các chỉ
số kinh tế-xã hội phải được quy về những điểm và vùng cụ thể. Phá nguyên tắc này
sẽ dẫn đến sự sơ đồ hóa bản đồ, mất hết ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bản đồ.
BÀI 6-2. BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH – CHÍNH TRỊ
I. Khái niệm chung:
Các bản đồ hành chính, chính trị: là các bản đồ phản ánh sự phân chia chính trị
thế giới, mối quan hệ chính trị giữa các nước, sự phân chia các đơn vị chính trị
trong một nước và các trung tâm hành chính. Đặc điểm của các bản đồ hành chính -
chính trị là được sử dụng rộng rãi, tính tư tưởng chính trị rất rõ ràng, yêu cầu về
tính hiện thời rất cao.
Các bản đồ hành chính - chính trị được phân ra các loại sau:
1. Các bản đồ chính trị:
Thể hiện sự phân chia lãnh thổ về phương diện chính trị của thế giới hoặc một
phần của thế giới. Ví dụ: bản đồ chính trị thế giới (bản đồ các nước trên thế giới),

- Là nội dung chủ yếu nhất của bản đồ chính trị.
- Cách thể hiện giống bản đồ địa lý chung.
- Phương pháp thể hiện: ký hiệu tuyến.
- Phạm vi của các quốc gia thể hiện bằng phương pháp nền chất lượng. Dọc biên
giới có bo viền màu (nằm trong lãnh thổ cùng tông màu và màu đậm hơn). Mỗi
quốc gia đều có tên. Nếu diện tích nhỏ thì đánh số và ghi chú, chú thích.
b. Các điểm dân cư:
- Phải thể hiện thủ đô các nước, các trung tâm hành chính cấp cao nhất của mỗi
nước, các thành phố lớn có ý nghĩa quan trọng, các hải cảng lớn, các đầu mối giao
thông quan trọng.
- Để thể hiện số dân dùng thang phân cấp theo kích thước số liệu. Thủ đô có thể
tô bằng màu nổi bật.
c. Giao thông:
- Thể hiện các đường bộ, đường biển và đường hàng không có ý nghĩa quốc tế.
- Đường sắt và đường ô tô thì trước hết thể hiện những đường có ý nghĩa quốc
tế, rồi đến những đường nối liền những trung tâm lớn trong nước.
- Các đường hàng hải cần phải thể hiện rõ các tuyến đường quan trọng và ghi
chú độ dài. Hải cảng được thể hiện bằng ký hiệu.
- Trên bản đồ thể hiện sân bay có ý nghĩa quốc tế.
d. Thủy hệ:
- Biểu thị sơ lược hơn bản đồ địa lý chung cùng tỷ lệ. Chỉ cần thể hiện đặc trưng
chung của hệ thống sông ngòi. Riêng sông và hồ là biên giới giữa hai nước cần chú
ý thể hiện.
e. Dáng đất:
- Thường không biểu thì dáng đất nếu cần phải thể hiện thì chỉ thể hiện khái lược
bằng phương pháp vờn bóng để biểu đạt các hình thái địa hình lớn.
III. Đặc điểm thành lập các bản đồ hành chính – chính trị:
1. Cơ sở toán học:
Bản đồ hành chính – chính trị thường thể hiện một nước hoặc một nhóm các
nước.

IV. Đặc điểm thành lập các bản đồ hành chính:
1. Cơ sở toán học:
- Bản đồ hành chính biểu thị phạm vi thường không lớn – dùng phép chiếu nào
cũng được. Cho nên dùng phép chiếu gì thì biến dạng cũng không lớn. Do đó
thường dùng phép chiếu của bản đồ địa hình để thành lập.
2. Nội dung của bản đồ hành chính:
a. Các đường địa giới hành chính:
- Trên bản đồ hành chính tỉnh thể hiện địa giới huyện và thị xã cũng có khi thể
hiện địa giới xã nhưng màu nền chất lượng chỉ dùng để phân biệt phạm vi các
huyện (mức độ màu của các xã trong huyện khác nhau nhưng cung một tông màu).
5
- Trên bản đồ hành chính huyện thể hiện địa giới xã.
b. Các điểm dân cư:
- Mức độ tỷ mỉ của điểm dân cư phụ thuộc vào mục đích sử dụng và tỷ lệ bản đồ.
- Trên bản đồ hành chính tỉnh biểu thị các thị xã, huyện lỵ, thị trấn.
- Trên bản đồ hành chính huyện biểu thị tới thôn, xóm.
c. Giao thông:
- Mạng lưới giao thông biểu thị các đường ô tô chính và phụ. Trên các vùng
đường xá thưa thớt thể hiện cả đường đất nhỏ.
- Trên các đường xe lửa biểu thị nhà ga.
- Trên các sông vẽ 2 nét biểu thị các cầu, các bến phà, bến tầu.
d. Thủy hệ:
- Biểu thị sơ lược hơn so với bản đồ địa hình cùng tỷ lệ.
- Việc xác định các sông vẽ bằng 1 nét hay 2nét thì cũng giống như trên bản đồ
địa hình.
- Các mương máng cũng thường phân ra làm 2 – 3 cấp (1mm
2
trở lên phải thể
hiện).
- Đường bờ biển thể hiện tỉ mỉ cùng với đảo, ngoài ra còn thể hiện các điểm độ

dân.
+ Tuy nhiên còn có nhược điểm: không thể hiện được sự tương quan giữa lãnh
thổ mà dân cư sinh sống với ký hiệu biểu thị (thường ký hiệu quá to). Để khắc phục
dùng các thang bậc khác nhau. Còn có nhược điểm là không thể hiện được hình
thái phân bố vì có vùng dân cư phân bố kéo dài hàng vài km.
- Phương pháp chấm điểm:
+ Mỗi một điểm không biểu thị một vùng dân cư mà là một số lượng dân cư nhất
định. Vấn đề quan trọng là chọn tỷ trọng điểm thích hợp. Nếu mật độ dân cư có sự
chênh lệch quá lớn thì dùng 2 – 3 điểm có tỷ trọng khác nhau.
- Phương pháp đồ giải:
+ Phương pháp này thể hiện các đơn vị hành chính, nếu chọn đơn vị càng nhỏ độ
chính xác càng cao.
- Phương pháp biểu đồ:
+ Thể hiện tổng số dân theo lãnh thổ tỉnh hoặc huyện.
1. Bản đồ phân bố các điểm dân cư:
- Điểm dân cư được định nghĩa là nơi có người ở thường xuyên (không kể số
người nhiều hay ít và cách ở như thế nào) và có một tên gọi nhất định.
- Các điểm dân cư có nhiều đặc điểm khác nhau và có sự khác biệt nhau theo
nhiều dấu hiệu: hình dạng, kiểu quy hoạch, kiểu cư trú, số lượng người,
- Các điểm quần cư bao gồm 2 dạng chủ yếu: điểm quần cư nông thôn và quần
cư thành thị . Chúng khác nhau về cơ cấu sản xuất (ví dụ: nông thôn cầy cây, ),
về cơ sở hạ tầng và kiến trúc nhà cửa,
- Ở Việt Nam trên 80% dân số sống ở nông thôn, các loại hình quần cư nông
thôn chiếm vị trí nổi bật vừa phản ánh đặc điểm tự nhiên, đặc điểm sản xuất của
từng địa phương lại vừa phản ánh đặc thù văn hóa cộng đồng cư trú tại địa phương
đó.
- Điểm dân cư thành thị gồm có các thành phố thị xã, các khu công nhân, khu
nghỉ mát.
- Tùy theo mục đích thành lập bản đồ, nhiệm vụ nghiên cứu, tỷ lệ bản đồ có thể
xây dựng các lọai bản đồ phân bố dân cư khác nhau. Nhiệm vụ của người thành lập

chấm thể hiện các dân tộc khác nhau (tối ưu từ 3 - 4 màu).
2. Bản đồ kết cấu dân số:
- Theo giới tính: Dựa vào số liệu thống kê mà trong đó dân số được phân ra nam
và nữ. Sử dụng phương pháp đồ giải kết hợp với biểu đồ.
- Theo nhóm tuổi: Phương pháp thể hiện là biểu đồ thông qua việc xây dựng biểu
đồ tháp tuổi cho từng đơn vị hành chính có thể biết được đặc tính dân số của từng
đơn vị đó như dân số già hay trẻ, diễn biến dân số trong tương lai.
IV. Các bản đồ về biến động dân số:
- Thể hiện vào chiều hướng tăng giảm dân số, phụ thuộc vào tương quan giữa tỷ
lệ tăng tự nhiên và sự gia tăng cơ giới.
- Dùng phương pháp biểu đồ thể hiện chỉ số tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, sự gia tăng cơ
giới.
- Dùng phương pháp đường chuyển động thể hiện sự gia tăng cơ giới.
8
- Dùng dải băng để thể hiện sự di chuyển của các luồng di dân. Màu sắc thể hiện
đặc tính chất lượng của hiện tượng. Ví dụ: di cư màu đỏ, nhập cư màu vàng; số
lượng dân di chuyển phản ánh qua chiều rộng dải băng. Hướng di dân theo chiều
mũi tên của dải băng.
V. Bản đồ dự báo dân số:
- Dự báo dân số sẽ cho biết sự thay đổi về quy mô dân số – lao động, số phụ nữ
trong độ tuổi sinh đẻ, số trẻ em ở độ tuổi đến trường.
- Công tác dự báo dân số là vấn đề phức tạp phụ thuộc nhiều yếu tố như kết cấu
theo giới tính, độ tuổi, tỷ lệ sinh, chết, khoảng thời gian dự báo.
- Công thức dự báo:
P
2
= P
1
x (1+r)
t

9
- Tư liệu phải mới và có độ tin cậy cao nhất.
- Nội dung bản đồ phải phù hợp chặt chẽ với đề tài, mục đích sử dụng và tỷ lệ
bản đồ.
- Toàn bộ nội dung bản đồ phải phản ánh hiện tượng kinh tế của cùng một thời
kì.
- Mức độ tổng quát hóa nội dung phải phù hợp với mục đích sử dụng và tỷ lệ bản
đồ.
- Cần phản ánh đúng đắn các chỉ số chất lượng và số lượng của nội dung, có sự
phù hợp các phương pháp biểu thị và thống nhất của sự trình bày.
2. Các phương pháp thành lập bản đồ:
a. Thành lập từ các số liệu thống kê:
- Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi từ các số liệu tiến hành chỉnh lý, xử
lý, xác định các chỉ số cần thể hiện và chuyển sang ngôn ngữ bản đồ, chọn phương
pháp thể hiện, thiết kế hệ thống kí hiệu, chuyển vẽ nội dung lên bản cơ sở địa lý.
b. Thành lập trên cơ sở tổng quát hóa nội dung của bản đồ kinh tế có tỷ lệ lớn
hơn:
- Các bước tổng quát hóa giống như đã học ở 3-6. Đôi khi cũng cần phải tiến
hành điều tra bổ xung ngoài thực địa.
c. Thành lập trên cơ sở điều tra, đo đạc, khảo sát ở thực địa:
- Ứng dụng khi thành lập các bản đồ tỷ lệ lớn trên cơ sở các bản đồ địa hình đã
có.
III. Bản đồ kinh tế chung:
1. Khái niệm chung:
- Bản đồ kinh tế chung là những bản đồ mà nội dung của nó phản ánh các khái
niệm hoàn chỉnh về sự phân bố và cơ cấu kinh tế của đất nước hoặc của khu vực,
chỉ ra các mối quan hệ giữa các ngành kinh tế với nhau và với điều kiện tự nhiên và
đồng thời phải thể hiện tính chuyên môn hóa của khu vực.
Đa số bản đồ kinh tế chung được thành lập ở dạng bản đồ phức hợp trên đó thể
hiện các ngành kinh tế chủ yếu mỗi ngành được thể hiện theo chỉ tiêu riêng nhưng

- Các bản đồ công nghiệp là các bản đồ phản ánh tình hình phân bố và phát triển
công nghiệp đồng thời chỉ rõ năng lực sản xuất hoặc ý nghĩa của các điểm công
nghiệp, cũng có khi thể hiện nguồn của các nguồn nguyên liệu chủ yếu và các mối
liên hệ kinh tế.
2. Phân loại:
- Các bản đồ công nghiệp được phân ra hai loại lớn là bản đồ công nghiệp chung
và bản đồ công nghiệp chuyên ngành.
a. Bản đồ công nghiệp chung:
Chú trọng thể hiện sự phân bố và phát triển của toàn bộ công nghiệp, cụ thể là:
- Mức độ công nghiệp hóa của đất nước hoặc của khu vực thể hiện bằng tỉ trọng
tổng giá trị công nghiệp trong tổng giá trị của kinh tế quốc dân.
- Sự xây dựng công nghiệp về quy mô và đầu tư cơ bản.
- Cơ cấu ngành công nghiệp thông qua các giá trị sản phẩm.
- Mức độ cơ giới hóa, tự động hóa.
b. Các bản đồ công nghiệp chuyên ngành:
- Phản ánh một ngành công nghiệp nào đó hoặc là hẹp hơn chỉ phản ánh một
phương diện nào đó của một chuyên ngành. Ví dụ: cơ khí, luyện kim, chế tạo
máy,
11
- Ở bản đồ công nghiệp chuyên ngành tính chi tiết rất cao, tất cả các xí nghiệp,
các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc chủ đề bản đồ được phản ánh đến từng điểm
phân bố với những đặc trưng sản xuất cụ thể cho phép tiến hành đánh giá sự phân
bố và sự phát triển của ngành công nghiệp.
II. Đặc điểm thành lập:
1. Tư liệu:
2. Đơn vị lập bản đồ:
- Thường là từng xí nghiệp riêng biệt hay nhóm những xí nghiệp của 1 lĩnh vực
công nghiệp hoặc nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau trên 1 điểm hoặc nằm gần
nhau. Xác định đơn vị lập bản đồ phụ thuộc vào mục đích, tỷ lệ, tư liệu và đặc điểm
công nghiệp lãnh thổ.

quy mô của các xí nghiệp. Quy mô thường được thể hiện bởi môt trong ba chỉ số
sau:
+ Chỉ số về tổng khối lượng sản phẩm: được phản ánh bằng hiện vât (cái, tấn,
mét, ) hoặc bằng tiền.
+ Chỉ số về công nhân thể hiện theo số lượng công nhân viên làm việc trong xí
nghiệp.
+ Chỉ số giá trị đầu tư cơ bản.
- Ngoài 3 chỉ số cơ bản trên còn dùng chỉ số sản phẩm công nghiệp theo đầu
người hoặc có thể dùng kết hợp chỉ số trên.
BÀI 6-6: BẢN ĐỒ GIAO THÔNG VẬN TẢI
1. Khái niệm chung về bản đồ giao thông vận tải:
- Giao thông vận tải là ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, không có
giao thông thì không thể có những mối liên hệ về kinh tế xã hội.
- Những mối liên hệ nghiên cứu về giao thông chủ yếu là:
+ Mạng lưới giao thông.
+ Sự vận chuyển, lượng vận chuyển.
+ Phân vùng giao thông.
- Các chỉ tiêu về giao thông:
+ Chỉ tiêu sự phát triển các đường giao thông và cấu trúc của chúng. Ví dụ:
đường sắt chỉ tiêu là độ rộng, loại đầu máy; đường ô tô là độ rộng đường, đặc điểm
nền đường (nhựa, đá, ), khả năng chịu tải của cầu; đường ống dẫn là đường kính
của ống, tốc độ vận chuyển, chiều dài đường ống.
+ Chỉ số về kinh tế, kĩ thuật của các loại đường: khả năng thông đường, trang bị
kĩ thuật xây dựng giao thông.
- Phân loại mạng lưới giao thông:
+ Những đại lộ: là những đường giao thông nối giữa các vùng và với quốc tế.
+ Những đường địa phương: là những đường giao thông đảm bảo liên hệ trong
từng vùng và những nhánh vào của nhóm đầu.
+ Lưới bên trong của những đầu mối giao thông gồm lưới giao thông phục vụ
những đầu mối và điểm giao thông trực tiếp (thành phố, nhà ga, bến, ).

xe trong ngày, trong tuần hoặc tổng trọng lượng hàng hóa được vận chuyển. Vận
chuyển hành khách được thể hiện bằng số hành khách trong ngày, phương pháp thể
hiện đường chuyển động hoặc dải băng có chiều rộng tỷ lệ với chỉ số số lượng vận
chuyển phương pháp kí hiệu điểm dùng thang phân cấp. Lượng vận chuyển bằng
đường thủy và đường hàng không cũng thể hiện như trên. Bản đồ biểu thị lượng
vận chuyển thì thường không biểu thị cơ cấu hàng vận chuyển mà chỉ biểu thị năng
lực vận chuyển.
- Trên bản đồ giao lưu hàng hóa thường dùng ký hiệu kết cấu để phản ánh số
lượng và cơ cấu hàng hóa, muốn vậy phải xác định mỗi mm chiều rộng của dải sẽ
tương ứng với khối lượng trọng tải nhất định. Các dải đặt phía bên phải của tuyến
đường vận chuyển. Để chỉ rõ phương hướng thì dùng mũi tên hỗ trợ.
- Các hàng hóa thường nhiều khi vẽ kí hiệu kết cấu cần chọn một số loại chủ yếu
để biểu thị và phải căn cứ vào khối lượng nên:
+ Làm thay đổi một cách thích đáng khoảng cách giữa các nút giao thông ở
những khu vực có mật độ dày đặc.
+ Dùng một mẩu ngang của dải để thay thế cho lượng vận chuyển hàng hóa của
cả đoạn.
+ Để phản ánh giao lưu hàng hóa giữa các vùng có thể dùng các đường vận động
khái lược để thể hiện tổng lượng hàng vận chuyển từ vùng này đến vùng khác. Khi
14
đó tuyến đường cụ thể không quan trọng mà độ rộng biểu thị giá trị hoặc trọng
lượng của hàng hóa vận chuyển cần chú ý.
BÀI 6-7: BẢN ĐỒ VĂN HÓA, Y TẾ
1. Khái niệm chung về bản đồ văn hóa, y tế:
- Bản đồ văn hóa, giáo dục, y tế phản ánh chung đời sống tư tưởng và tinh thần
của xã hội. Các bản đồ này có quan hệ chặt chẽ với bản đồ dân cư vì chúng thể hiện
một trong những khía cạnh đặc trưng của dân cư.
- Các bản đồ này biểu hiện sự thống kê nhân khẩu xã hội, những vấn đề giáo
dục, thể dục, thể thao, khoa học, văn hóa, sức khỏe và những điều kiện sinh hoạt
khác.

- Trên bản đồ cần phải thể hiện sự phân bố của các cơ quan nghiên cứu khoa học
và đặc trưng của các cơ quan đó. Ví dụ: tính trực thuộc (trung ương, bộ, ngành);
quy mô (viện khoa học, phân viện, phòng, ).
- Bản đồ cũng cần cho thấy sự cung ứng cán bộ, mối tương quan của đội ngũ
cán bộ khoa học kĩ thuật với sự phát triển kinh tế – xã hội của lãnh thổ (số cán bộ
có trình độ trên 1000 dân).
c. Bản đồ y tế:
- Nội dung cơ bản được thể hiện là mạng lưới y tế và mức độ đảm bảo về chăm
sóc, bảo vệ sức khỏe cho dân cư của lãnh thổ.
- Mạng lưới y tế phải nêu bật được sự phân bố của các cơ quan y tế như bệnh
viện, bệnh xá.
- Các cơ quan bảo vệ sức khỏe, các trại an dưỡng nghỉ ngơi, Trong mỗi cơ sở y
tế của mạng lưới phải thể hiện được các đặc điểm về số lượng và chất lượng đối với
các bệnh viện, bệnh xá, Chỉ số về số lượng được sử dụng là số giường bệnh hoặc
số lượng y bác sỹ với các cơ quan bảo vệ sức khỏe. Chỉ số thường dùng là số lượng
dân cư được phân công, phụ trách.
Về chất lượng có thể thể hiện theo chức năng như bệnh viện đa khoa, chuyên
khoa (nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, sản khoa), cũng có thể thể hiện theo nhiệm
vụ (ví dụ: điều trị nội trú, ngoại trú).
- Về mức độ đảm bảo y tế chỉ tiêu thể hiện là số toa thuốc hoặc số giường bệnh
trên 1000 hoặc 10.000 dân.
d. Bản đồ về thể dục, thể thao:
- Nội dung của bản đồ thể dục, thể thao là sự phân bố các mạng lưới thể dục - thể
thao như các sân vận động, các bãi tập, nhà thi đấu, các câu lạc bộ thể dục – thể
thao và sự tham gia của dân cư vào các hoạt động này như số vận động viên, số
người tham gia luyện tập thường xuyên trên số dân của các đơn vị lãnh thổ.
Các chỉ số này cho thấy phong trào, mức độ hoạt động thể dục, thể thao của các
địa phương.
e. Bản đồ văn hóa:
- Nội dung gồm có mạng lưới các cơ quan văn hóa: thư viện, câu lạc bộ, nhà hát,

sơ địa chính. Trên bản đồ thể hiện vị trí, hình thể, diện tích, số thửa và loại đất của
từng chủ sử dụng đất.
2. Nội dung của bản đồ địa chính:
a. Các yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính:
- Yếu tố điểm: là vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng dấu mốc đặc biệt như điểm
trắc địa, điểm đặc trưng trên đường biên thửa đất, các đặc trưng địa hình.
- Yếu tố đường: là các đường thẳng, đoạn thẳng, đường cong nối qua các điểm
trên thực địa.
- Thửa đất: là yếu tố đơn vị cơ bản của đất đai, là một mảnh đất tồn tại ở thực địa
có diện tích xác định, giới hạn đường bao kín thuộc một chủ sở hữu hoặc một chủ
sử dụng nhất định. Trong mỗi thửa có thể có một hoặc nhiều loại đất. Ranh giới
thửa có thể là đường, bở ruộng, tường xây. Đặc trưng của thửa đất là điểm góc
thửa, chiều dài cạnh, diện tích. Mọi thửa đất đều có tên (số hiệu địa chính đặt theo
thứ tự trên từng tờ bản đồ địa chính).
- Thửa đất phụ: trên một thửa lớn có thể tồn tại các thửa nhỏ có đường ranh giới
phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích khác nhau,
có mức tính thuế khác nhau. Ví dụ: một thửa đất có đất ở, đất ao, đất vườn,
17
- Lô đất: là vùng đất gồm một hoặc nhiều thửa được chia lô theo điều kiện địa lý
như cùng độ cao, độ dốc, điều kiện giao thông thủy lợi,
- Khu đất, xứ đồng: là vùng đất gồm nhiều thửa, nhiều lô có tên gọi riêng được
đặt từ lâu đời.
- Thôn, bản, xóm, ấp: là cụm dân cư tạo thành một cộng đồng người cùng sống,
lao động, sản xuất trên một vùng đất.
- Xã, phường: là đơn vị hành chính gồm nhiều thôn, bản có đủ quyền lực để thực
hiện chức năng quản lý nhà nước toàn diện.
b. Nội dung:
- Điểm khống chế tọa độ và độ cao gồm có lưới tọa độ địa chính cấp I, II,
- Địa giới hành chính các cấp phù hợp với hồ sơ lưu giữ.
- Ranh giới thửa đất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status