điều tra hiện trạng tàu thuyền; máy động lực ; thiết bị tàu , trang bị cứu thủng cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45- 90 cv của phường vĩnh phước tp nha trang tỉnh khánh hòa - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KHAI THÁC HÀNG HẢI
TRẦN THỊ HƯƠNG
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC;
THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO NGHỀ CÂU CÁ
NGỪ ĐẠI DƯƠNG NHÓM CÔNG SUẤT 45-90CV CỦA PHƯỜNG
VĨNH PHƯỚC TP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: An toàn hàng hải
NGỪ ĐẠI DƯƠNG NHÓM CÔNG SUẤT 45-90CV CỦA PHƯỜNG
VĨNH PHƯỚC TP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA.

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: An toàn hàng hải CBHD: T.S TRẦN ĐỨC PHÚ

Nha Trang, tháng 10 năm 2007.
LỜI CẢM ƠN!
Trước hết xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình.
Trong suốt thời gian học và thực tập tôi nhận được rất nhiều sự động viên
giúp đỡ của các tập thể và cá nhân. Xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy giáo trong
Khoa Khai Thác Hàng Hải, chính tình cảm và sự ưu ái của các Thầy dành cho tôi -

bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia vùng biển xa bờ.
Bên cạnh đó nghề câu cá ngừ đại dương tại Khánh Hoà cũng có nhiều hạn chế
về năng lực khai thác của tàu thuyền, thiết bị tàu, máy động lực chưa phù hợp với
ngư trường và mùa vụ khai thác. Sự thiếu thông tin về mùa vụ, đối tượng đánh bắt,
bảo quản sản phẩm sau thu hoạch còn thô sơ, giá cả cá ngừ chưa được đảm
bảo…Trước thực trạng đó Bộ Thuỷ Sản và UBND tỉnh Khánh Hoà phối hợp tổ
chức hội thảo “Quản lý, khai thác và tiêu thụ cá ngừ đại dương” nhằm thảo luận và
đánh giá đúng tình hình và tìm biện pháp khắc phục những tồn tại để đưa nghề khai
thác cá ngừ đại dương là nghề sản xuất chủ lực và phát triển bền vững ở tỉnh Khánh
Hoà nói riêng và cả nước nói chung.
Để góp phần vào việc đánh giá đúng tình hình nghề khai thác cá ngừ đại
dương tỉnh Khánh Hoà, tôi được nhà trường giao cho thực hiện đồ án tốt nghiệp với
đề tài: “Điều tra hiện trạng tàu thuyền; máy động lực; thiết bị tàu, trang bị cứu
thủng cho nghề câu cá ngừ đại dương nhóm công suất 45-90cv của phường Vĩnh
Phước Tp. Nha Trang tỉnh Khánh Hòa.”
Sau thời gian tìm hiểu thực tế, đi lấy số liệu và tìm hiểu các tài liệu có liên
quan, nay đồ án tốt nghiệp của tôi đã hoàn thành với các phần sau:
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 Kết luận và khuyến nghị
Do lần đầu tiếp xúc với công tác nghiên cứu khoa học nên có nhiều khó khăn,
bỡ ngỡ vì vậy đồ án của tôi còn nhiều hạn chế hoặc vấn đề nghiên cứu chưa sâu mà
chủ quan tôi chưa nhận thấy. Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý
Thầy và các bạn sinh viên để tôi có được những kiến thức bổ ích về vấn đề nghiên
cứu trên.
Nha Trang, tháng 10 năm 2007. CHƯƠNG 1

2
độ
sâu dưới 30m, vịnh Nha Trang có diện tích 249km
2
độ sâu dưới 16m, vịnh Cam
Ranh diện tích 185km
2
độ sâu dưới 25m. Khánh Hòa được khai thác và quản lý
huyện đảo Trường Sa là điều kiện thuận lợi để thủy sản của tỉnh vươn ra làm chủ
biển khơi.
Khánh Hòa nằm ở trung tâm trục Bắc-Nam (quốc lộ 1A và đường sắt xuyên
Việt), với sân bay Cam Ranh việc đi lại giữa Khánh Hòa - Tp. Hồ Chí Minh hết
khoảng 1 giờ, Khánh Hòa – Hà Nội hết khoảng 2 giờ. Vịnh Vân Phong được xây
dựng thành cảng trung chuyển dầu khí quốc tế, cảng Nha Trang, cảng Cam Ranh
tạo cho Khánh Hòa một lợi thế vượt trội trong giao lưu khu vực và Quốc tế.
Địa hình tương đối phức tạp, mặt đất có độ dốc dần từ Tây sang Đông, phía
Tây là dẫy núi cao còn phía Đông là đồng bằng duyên hải bị cắt nhỏ thành ô bởi các
dãy núi chạy sát ra biển.
Khánh Hòa có 01 thành phố tỉnh lỵ Nha Trang là đô thị hạng hai, 01 thị xã
Cam Ranh và 07 huyện Cam Lâm, Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Khánh Sơn,
Khánh Vĩnh, Trường Sa.
1.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính
chất khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa. Nhiệt độ trung bình 26.4
0
c, độ ẩm
70% đến 80%, lượng mưa trung bình từ 1300 đến 1700mm. Mùa có nhiệt độ cao
kéo dài từ tháng 5-9, mùa có nhiệt độ thấp nhất kéo dài từ tháng 12-2. Ở Khánh Hòa
không có mùa đông rõ rệt chỉ có một mùa mưa từ tháng 9-12 lượng mưa đạt
1000mm và mùa khô kéo dài từ tháng 1-8.

nhọn của trường.
Ngoài ra còn có các trường đại học quân sự lớn như Học viện Hải quân, Sỹ
quan thông tin, Chỉ huy kỹ thuật bay…
Bên cạnh các trường đại học là các trường cao đẳng như Mẫu giáo Trung
Ương II, Sư phạm Nha Trang, Văn hóa nghệ thuật và du lịch…
Các trường trên đã đào tạo cho tỉnh Khánh Hòa nói riêng và cả nước nói
chung một nguồn lao động trẻ dồi dào, có trình độ cao, có năng lực làm việc tốt,
tâm huyết với nghề.
1.1.2 Các hoạt động kinh tế chính của tỉnh Khánh Hòa
1.1.2.1 Công nghiệp
Đã hình thành và phát triển các ngành sản xuất công nghiệp như: Công nghiệp
sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản, giầy dép, đóng tàu,
chế biến thủy sản, may mặc…Ngoài ra Khánh Hòa có các tiềm năng lớn khác như:
Nhiều bãi cát trắng ở Đầm Môn dùng để chế tạo pha lê, cáp quang, thủy tinh…Có
khoáng sản titan kim loại ít bị oxy hóa có thể dùng để chế tạo vỏ tàu vũ trụ…
1.1.2.2 Thuỷ sản
Với hơn 520 km đường bờ biển và hơn 135 km đường bờ ven đảo cùng với
vùng lãnh hải rộng lớn Khánh Hòa có nguồn lợi hải sản phong phú và có giá trị kinh
tế cao như cá ngừ đại dương, tôm hùm, mực, yến sào…Hiện nay số lượng tàu
thuyền đánh bắt là 6271 chiếc với tổng công suất 213840 mã lực (9/2007), sản
lượng cho phép khai thác trong tỉnh nhỏ hơn 100000 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy
sản được mở rộng trên 7500 ha bằng các chính sách khuyến ngư, phát huy thế mạnh
của tỉnh là có ngành chế biến thủy sản đứng thứ ba trong cả nước (sau Cà Mau, Sóc
Trăng). Khánh Hòa tiếp tục nâng cao trình độ công nghệ và đa dạng hóa các sản
phẩm có giá trị, mở rộng các thị trường xuất khẩu mới tại EU và Bắc Mỹ, phấn đấu
đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 310 triệu USD với tổng sản
phẩm trên 57000 tấn trong đó tỷ lệ hàng siêu thị chiếm 50%.
1.1.2.3 Nông nghiệp
Các đồng bằng trong tỉnh bị xẻ ô vuông do núi chạy sát ra biển, sông suối ít
mang phù sa, gần biển nên các đồng bằng bị nhiễm mặn, diện tích đất là 67700 ha

thế mạnh và tiềm năng của biển, giải quyết nhiều công ăn, việc làm cho người lao
động. Chất lượng cuộc sống của ngư dân và các cán bộ công nhân viên trong ngành
thủy sản ngày càng được cải thiện và nâng cao.
Công nghiệp của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng khá, đã hình thành và phát triển
một số ngành công nghiệp phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, giải quyết
việc làm cho người lao động.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói mũi nhọn của tỉnh Khánh Hòa,
ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Kèm theo du lịch
là các loại hình dịch vụ không những giải quyết việc làm cho người lao động mà
hàng năm mang về cho tỉnh một nguồn thu lớn.
Khánh Hòa là tỉnh ít chịu sự tàn phá của những cơn bão là điều kiện để kinh tế
của tỉnh phát triển mạnh mẽ với kinh tế mũi nhọn là du lịch-dịch vụ, thủy sản, công
nghiệp và khai thác khoáng sản nhưng tất cả đều phải chú trọng đến khai thác hợp
lý và bền vững.
1.2 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính
Sự phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính không đồng đều, không
phải tất cả những huyện, thị trong tỉnh đều phát triển nghề cá, mà chỉ những địa bàn
gần biển mới phát triển nghề cá. Gần biển, gần sông lớn là điều kiện thuận lợi để
cho tàu thuyền vào neo đậu, tiện cho việc trông nom sửa chữa tàu, ngư lưới cụ, vận
chuyển lương thực thực phẩm, nguyên nhiên liệu, sản phẩm đánh bắt lên xuống
tàu…
Bảng 1.1: Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính

T.p Nha Trang
S: 252 km
2
Tx. Cam Ranh


Phân loại tàu thuyền
theo công suất
T
ổng số
tàu cá
(chiếc)

Kéo

Vây Rê câu Nghề
khác
Ghi chú
Tổng số tàu cá 5424 tàu, tổng công suất là 216775cv bình quân xấp xỉ khoảng
40cv/chiếc với tổng số lao động 20341 người.
Trong đó tàu đủ năng lực đánh bắt xa bờ công suất từ 90cv trở lên có 369 tàu
chiếm 6.8%, hiện nay xu hướng đóng mới tàu có công suất >90cv ngày càng nhiều
vì nguồn lợi gần bờ đã bị cạn kiệt. Nghề chính của nhóm tàu này là lưới cản (lưới
rê), lưới kéo, câu khơi…Đặc biệt trong những năm gần đây nghề câu cá ngừ đại
dương ở Khánh Hoà phát triển thì nhóm tàu này đóng vai trò chủ đạo. Tàu đóng
mới trên 90cv đang dần thay thế nhóm tàu cũ, công suất nhỏ. Trong 2 năm 2004 và
2005 toàn tỉnh đóng mới 110 chiếc tàu có công suất trên 90cv trở lên chiếm 57
chiếc; nâng cấp thay máy chính và trang thiết bị là 226 chiếc thì có 93 chiếc có công
suất từ 90cv trở lên.
Nhóm tàu có công suất < 20cv chiếm tỷ trọng lớn nhất (50%), do nhiều năm
qua nghề nuôi phát triển gần bờ đặc biệt là nghề nuôi tôm hùm lồng nên 70% nhóm
tàu này phục vụ cho hậu cần về nuôi tôm, còn lại một số tàu khai thác ven bờ, làm
nghề trong đèn.
Nhóm tàu có công suất từ 20cv -< 50cv hoạt động khai thác tuyến ven bờ
(chiếm 29%), sản lượng khai thác của nhóm tàu này càng ngày càng giảm. Hoạt

xúc, dịch
vụ hậu cần
nghề cá và
nuôi trồng
thuỷ sản
chăng thì chỉ còn một vài tàu làm. Nghề chính của nhóm tàu này là câu mực, mành
đèn, giã cào…
Về trang thiết bị trên tàu: Đa số ngư dân mua máy chính đã qua sử dụng và bị
thải loại ở nước ngoài về tân trang sửa chữa lại rồi lắp cho tàu mình. Chất lượng
máy sau khi tu sửa đạt khoảng 80% - 90% , máy vẫn hoạt động tốt mà giá cả lại phù
hợp với túi tiền của ngư dân, vì cuộc sống của họ còn nghèo nên âu cũng là “cũ
người mới ta”. Các trang thiết bị khai thác trên tàu, truyền động cơ khí, trang bị
hàng hải…đều không đông bộ.
Về thiết bị lạnh để bảo quản sản phẩm: Sau khi sản phẩm đánh được sẽ được
bỏ vào hầm và làm lạnh bằng nước đá xay để ướp cá chứ chưa có hệ thống làm lạnh
từ nước biển hoặc thiết bị làm đá vẩy.
Về trang bị an toàn hàng hải: Tàu nhỏ hơn 20cv thì không kiểm tra an toàn kỹ
thuật hàng năm do vậy ngư dân không trang bị phao cứu sinh Tàu có công suất trên
20cv hàng năm phải kiểm tra an toàn nên việc trang bị cứu sinh, cứu hoả, cứu
thủng, đèn hàng hải đầy đủ hơn đặc biệt là khối tàu có công suất từ 90cv trở lên
khai thác xa bờ. Việc trang bị an toàn hàng hải phải tiến hành nghiêm ngặt theo tiêu
chuẩn ngành.
Về lực lượng lao động: Ngư dân làm việc trên tàu theo kinh nghiệm là chính,
vì điều kiện kinh tế khó khăn nên họ không được đào tạo qua trường lớp.
1.4 Ngư trường hoạt động.
Ngư trường hoạt động của tàu thuyền tỉnh Khánh Hoà là ven biển Việt Nam.
Cụ thể:
Tàu làm nghề giã cào đôi thì ngư trường là Ninh Thuận, Bình Thuận ở độ sâu
50 đến 160m.
Tàu làm nghề giã cào đơn ngư trường là vùng biển Khánh Hoà như Đại Lãnh,

Thuận.
Tàu làm nghề lưới cước, soi đèn, nghề khác ngư trường là ven biển Khánh
Hoà.
Như vậy, nhìn chung ngư trường mà tàu thuyền trong tỉnh hoạt động nằm
trong 2 ngư trường lớn:
Ngư trường Trung Bộ giới hạn từ 11
0
30

N đến 17
0
00

N, kéo dài từ Cửa Tùng
đến Phan Rang. Đây là thềm lục địa hẹp và dốc nhất Việt Nam, đáy chủ yếu là bùn
cát pha vỏ sò, độ sâu thay đổi đột ngột (cách bờ từ 30 đến 35 hải lý độ sâu có thể
đạt tới 1000 đến 2000m). Vùng này thời tiết hết sức khắc nghiệt thường xuyên chịu
ảnh hưởng của những trận bão, áp thấp nhiệt đới vào mùa hè, gió mùa đông bắc
mạnh vào mùa đông. Trữ lượng hải sản 606000 tấn, cho phép khai thác 243000 tấn.
Nghề khai thác chủ yếu ở vùng này là vây, rê, mành, vó và lưới kéo.
Ngư trường Đông Nam Bộ kéo dài từ Ninh Thuận đến Cà Mau (6
0
00

N đến
11
0
30

N), đây là ngư trường có thềm lục địa rộng, độ dốc lớn và bằng phẳng độ sâu

3475 122602 66095 0.53
2004

3495 127260 59700 0.46
2005

5424 216775 66190 0.31
2006

5733 195458 65000 0.33

54000
56000
58000
60000
62000
64000
66000
68000
70000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
năm
tổng sản lượng (tấn)

Hình 1.2: Biểu đồ tổng sản lượng khai thác hải sản qua các năm 2001-2006.
Qua hình 1.2 nhận thấy tổng sản lượng qua các năm lúc tăng nhưng không
đáng kể và lúc giảm xuống rất nhanh. Sản lượng tăng không phải do trữ lượng
nguồn lợi thuỷ sản tăng mà do tàu thuyền và tổng công suất tăng lên. Cụ thể năm
2000 có 3410 tàu thuyền với tổng công suất là 105028cv và tổng sản lượng khai
thác là 65000 tấn, nhưng đến năm 2004 có 3495 tàu thuyền với tổng công suất là

máy trưởng là do họ đi học các lớp đào tạo của sở Thuỷ Sản hoặc các trường đầu
ngành về thuỷ sản giảng dậy và cấp phép.
1.7 Những chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa
phương
1.7.1 Nội dung chiến lược phát triển nghề cá của địa phương đến năm 2010:
a) Điều chỉnh cơ cấu nghề khai thác hải sản ven bờ, xa bờ một cách hợp lý trên
cơ sở bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Mục tiêu:
Ưu tiên phát triển nghề khai thác xa bờ, giảm dần số lượng tàu nhỏ khai thác
ven bờ đảm bảo hài hoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Bên cạnh đó
phải chuyển đổi nghề nghiệp đối với ngư dân ven biển bị dư thừa để nâng cao mức
sống cho ngư dân.
Biện pháp triển khai:
Thống kê lại số lượng tàu thuyền, quản lý tốt việc cấp phép hoạt động cho tàu
cá, giảm cường lực khai thác gần bờ, phát triển khai thác xa bờ.
Phát triển và quản lý có hiệu quả các khu bảo tồn dựa vào cộng đồng, phối
hợp với các lực lượng Hải Quân, Biên phòng triển khai tốt công tác cứu hộ cho ngư
dân khi gặp sự cố trên biển.
b) Xây dựng cơ sở hậu cần-dịch vụ-chế biến và tiêu thụ sản phẩm khai thác.
Mục tiêu:
Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Biện pháp triển khai:
Đầu tư, xây dựng và quản lý tốt các bến cá, chợ cá, mở rộng hình thức ký kết
hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa các đơn vị khai thác và tiêu thụ, hình thành hệ
thống chợ cá bán đấu giá.
Thành lập các tổ để hỗ trợ giúp đỡ nhau trong quá trình khai thác và tiêu thụ
sản phẩm, tăng cường công tác thông tin thị trường, phát triển các hình thức liên kết
liên doanh.
c) Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghề khai thác thuỷ sản
Mục tiêu:

1.8 Tổng quan nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Khánh Hoà
1.8.1 Quá trình phát triển
Khánh Hoà có diện tích tự nhiên 5258 km
2
với 520 km đường bờ biển và 135
km đường bờ ven đảo với hơn 100 đảo lớn nhỏ là vị thế thuận lợi cho nghề cá phát
triển. Ngư dân Khánh Hoà có tinh thần cần cù, chịu khó học hỏi kinh nghiệm và kỹ
thuật tiên tiến của các nước có nghề cá phát triển trên thế giới. Lại được quản lý,
khai thác quần đảo Trường Sa là điều kiện quan trọng để nghề cá của tỉnh nói chung
và nghề câu cá ngừ đại dương nói riêng vươn ra làm chủ biển khơi. Năm 1995
Khánh Hoà du nhập và phát triển nghề câu cá ngừ đại dương, đi đầu trong lĩnh vực
này là công ty TNHH Trúc An đã bỏ toàn bộ chi phí để 02 tàu câu thử nghiệm. Năm
1996 khi 02 tàu câu đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngư dân đã phổ biến kinh
nghiệm cho nhau và học tập thêm của ngư dân Phú Yên sau đó mua sắm ngư lưới
cụ đóng mới tàu thuyền hoặc cải hoán lại tàu để tham gia nghề câu cá ngừ. Năm
2006 Khánh Hoà đã có trên 300 tàu làm nghề câu cá ngừ với đối tượng đánh bắt chủ
yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to.
1.8.2 Tổ chức đánh bắt
Nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà chủ yếu tập ở phường Vĩnh Phước,
Vĩnh Thọ, Hòn Rớ - Phước Đồng và nhiều nhất ở phường Xương Huân còn các địa
phương khác số lượng tàu làm nghề này không đáng kể. Các tàu thường đi thành
đoàn khoảng 5 đến 7 chiếc để hỗ trợ nhau khi gặp sự cố, cùng nhau đánh bắt trên
một ngư trường, cùng nhau chia sẻ những thông tin về giá cả…
Mùa vụ khai thác: Đầu năm tàu khai thác ở gần quần đảo Hoàng Sa (từ
12
0
00

N đến 17
0

động khai thác xa bờ tàu đi dài ngày trên biển. Tàu được trang bị các máy định vị,
máy bộ đàm tầm gần và tầm xa để liên lạc về đất liền.
Kỹ thuật khai thác: Số lượng lưỡi câu trên mỗi vàng câu từ 800 đến 1600
lưỡi, chiều dài dây chiên từ 40 đến 60 km, chiều dài thẻo câu khoảng 25m, khoảng
cách giữa hai thẻo câu là 50m, mồi để câu là cá chuồn hoặc mực xà.
Kỹ thuật xử lý, bảo quản sản phẩm trên tàu: Cá được kéo lên tàu dùng vật
nặng hoặc đinh nhọn đóng xuyên não để cá chết ngay. Lấy mang cá, lấy nội tạng và
rửa sạch cá bằng nước biển sau đó cho nước đá xay vào bụng, hốc mang để vào
hầm lạnh bảo quản.
1.8.3 Tổ chức thu mua cá ngừ đại dương
Thu mua cá ngừ với giá cao để ngư dân có lời là điều quyết định đến sự tồn
tại của nghề, hiện nay ở Khánh Hoà có 7 công ty chuyên thu mua, chế biến cá ngừ
là Công ty TNHH Trúc An, Tiến Thịnh, Hải Vương, Hoàng Hải, Thịnh Hưng, Đại
Dương và công ty cổ phần F17. Khi tàu về bến thì những người thu mua ra tận bến
để kiểm tra chất lượng cá ngừ sau đó trả giá. Cá to, còn tươi thì giá khoảng 60000-
110000 đồng/kg, cá nhỏ hoặc chất lượng thấp thì giá là 30000-40000 đồng/kg
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng tàu thuyền,
trang thiết bị khai thác trên tàu cá nói chung. Trong suốt thời gian thực tập tôi đã bỏ
rất nhiều công sức để tìm kiếm những tài liệu nói về thực trạng tàu thuyền, trang bị
động lực, thiết bị tàu, trang bị cứu thủng trên tàu câu cá ngừ để tham khảo. Nhưng
Tôi không tìm thấy bất kỳ một tài liệu nào, có thể Tôi không tìm thấy giữa kho tàng
kiến thức vô hạn hoặc cũng có thể không có, sau đây là những tài liệu có liên quan
đến đề tài mà tôi đã tham khảo được.
Kết quả nghiên cứu một vài tiêu chuẩn an toàn hàng hải của tàu thuyền nghề
cá Việt Nam của Th.s Phan Trọng Huyến Khoa Khai Thác (tập san KHCN thuỷ sản
số 02/1999). Vấn đề đặt ra trong bài báo là tàu thuyền cỡ lớn đều có các phương
pháp để trang bị đáp ứng các yêu cầu của tàu như diện tích bánh lái bao nhiêu là
vừa, trọng lượng neo bao nhiêu là đủ lực giữ, đường kính lĩn neo bao nhiêu là đủ độ
bền…thì tàu thuyền nghề cá Việt Nam chưa có. Vì vậy mục tiêu của đề tài là nhằm

nói về quá trình hình thành và phát triển nghề câu cá ngừ đại dương ở Khánh Hoà,
về thực trạng tàu thuyền, kỹ thuật khai thác, ngư trường và mùa vụ khai thác, tổ
chức thu mua cá ngừ…
Bàn về công tác đảm bảo an toàn cho người và tàu cá của Đặng Quang Huy
Cục KT và BVNLTS (tạp chí thuỷ sản số 4/2007). Tác giả nhấn mạnh vào việc
quản lý không chặt chẽ tàu thuyền khai thác để nhiều con tàu hoạt động không đúng
vùng hạn chế của các cơ quan chức năng. Hậu quả của việc quản lý không đến nơi
đến chốn nên nhiều tàu đã bị thiệt hại sau trận bão Chanchu.
Nghề câu cá ngừ đại dương của Th.s Lê Xuân Tài (tập san KHCN thuỷ sản số
01/99), tác giả đề cập đến tình hình phát triển nghề câu cá ngừ đại dương trên thế
giới, giới thiệu các loài cá ngừ là đối tượng chính của nghề câu. Sau đó tác giả đề
cập đến tình hình nghề khai thác cá ngừ ở nước ta về ngư trường, thực trạng tàu
thuyền, tình hình thu mua.
Tổng kết nghề câu cá ngừ đại dương của Bộ thuỷ sản, cuốn sách trình bày khá
chi tiết và đầy đủ về nghề câu cá ngừ đại dương của cả nước và trên thế giới.
Đồ án của Trần Văn Vinh với đề tài “Xây dựng mô hình tổ chức sản xuất đội
tàu trên biển cho nghề câu cá ngừ đại dương tại Bình Định”.
Đồ án tốt nghiệp của Bùi Văn Trinh với đề tài “điều tra thực trạng tàu thuyền,
trang thiết bị cứu sinh, cứu hỏa, cứu thủng trên tàu thuyền làm nghề lưới vây tỉnh
Quảng Ngãi”.
Và rất nhiều các đồ án của khoá trước như của sinh viên Nguyễn Ngọc
Nguyện, Bùi Ngọc Dương…Nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về hiện trạng
tàu thuyền nghề cá ứng với mỗi dải công suất thì chiều dài, chiều rộng, trọng tải bao
nhiêu, vách ngăn như thế nào là phù hợp, trang bị bao nhiêu neo, dây neo như thế
nào là đảm bảo đủ độ bền, diên tích bánh lái như thế nào là đảm bảo an toàn…
3. CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC;
THIẾT BỊ TÀU, TRANG BỊ CỨU THỦNG CHO TÀU THUYỀN NGHỀ CÁ.
3.1 Các văn bản quy định của trung ương và địa phương.
 Máy tàu và trang thiết bị theo TCVN 6259-1997.
 Trang bị an toàn theo 28 TCN 91-90.

Giẻ vịn hoặc phoi tre, xơ dừa (kg) 2 1
Nêm gỗ (chiếc) 10 8
Cột chống (chiếc) 2 1
Bộ đồ mộc (bộ) 1 1
Xi măng P 400kg 50 20
Cát vàng (kg) 50 20
3.2.2 Vật liệu làm tàu đảm bảo đúng quy định hiện hành như sau:
Vỏ tàu được dùng các loại gỗ sau:
Nhóm II: Lim xanh, kiền kiền, táu mật, sến mật, sến đắng, xoay.
Nhóm III: Xăng lẻ, chò chỉ, huỳnh, trường mật, chua khét, trường chua, cà ổi
xanh.
Nhóm IV: Rẻ hương, re rừng, gội nếp, re mít, re vàng, săng, kháo mật.
Nhóm V: Tràm tím, tràm xanh, tràm sung, sồi đá, kền giá rai, vải thiều, lim
xẹt, hoàng linh đá.
Nhóm VI: Sú tím, cồng tím, cồng chim, gội tẻ, vàng kiêng, lõi thọ, xe xanh,
de đỏ, de đề xi, chẹo tía, sang, nhội, sồi vàng mép, thôi da, thôi chanh, phay sừng,
chò nếp, ràng mật, ràng da.
Khung: dùng gỗ nhóm II, III và IV.
Các bộ phận khác: Ván sàn, cabin, la canh, dùng nhóm VI, VII, V.
4. TỔNG QUAN VỀ TÀU THUYỀN; MÁY ĐỘNG LỰC; THIẾT BỊ TÀU,
TRANG BỊ CỨU THỦNG TRÊN CÁC TÀU THUYỀN NGHỀ CÁ VIỆT
NAM.
Ngành thuỷ sản đang là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của cả
nước, số lượng tàu thuyền trong ngành thuỷ sản mỗi lúc một tăng trong đó số lượng
tàu đóng mới, công suất lớn ngày càng nhiều Cụ thể năm 2005 cả nước có 96099
tàu thuyền nghề cá tổng công suất trên 1000000cv, với hơn 75000 phương tiện gắn
máy với công suất bình quân khoảng 49cv/tàu trong đó có khoảng hơn 8000 tàu có
khả năng đánh bắt xa bờ.
Bảng 1.5: Số lượng tàu thuyền nghề cá Việt Nam theo công suất năm 2005:
STT

Tỷ lệ % trên tổng số tàu

1 L
max
< 8 40361 42
2 L
max
= (8-<12)

22103 23
3 L
max
= (12-<15)

20181 21
4 L
max
= (15-<20)

10571 11
5 L
max
= (=<20)

2883 3
Tổng số tàu cá 96099 100

31
28
22

13.6%. Tàu cá có chiều dài <15m chiếm nhiều nhất 86%, chứng tỏ những tàu cá này
không đủ năng lực đánh bắt xa bờ và nguồn lợi ven bờ đang bi đe dọa nghiêm
trọng. Chỉ có 14% tàu cá có chiều dài từ 15-20m, việc đóng tàu có chiều dài lớn cần
phải được đầu từ để nghề khai thác xa bờ ngày một phát triển.
Tàu cá nằm rải rác tại các cửa lạch, bãi ngang, các tuyến đảo, chủ yếu là các
bến đậu không tập trung vào cảng dọc theo chiều dài đất nước. Ngư trường hoạt
động của tàu thuyền nghề cá cách bờ khoảng 50 đến 70 km, việc di chuyển địa bàn
đánh bắt diễn ra thường xuyên, hàng năm có khoảng 8500 đến 9000 tàu chuyển ngư
trường.
Các trang bị trên tàu đơn giản, nhất là các trang thiết bị an toàn, ngoài những
tàu có công suất lớn đánh bắt xa bờ được đóng lắp trong vài năm gần đây có được
những trang bị an toàn tối thiểu theo quy phạm, còn các tàu khác vấn đề trang bị an
toàn không được quan tâm. Các trang thiết bị vô tuyến điên đã được lắp trên các tàu
cá lớn đủ để liên lạc với các đài duyên hải và các tàu vận tải.

Trích đoạn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRANG BỊ ĐỘNG LỰC THIẾT BỊ TÀU Trang bị cứu thủng Đánh giá ưu, nhược điểm của MÔ HÌNH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status