khảo sát khả năng phát triển trứng và sự tạo thành phôi chó trong điều kiện phòng thí nghiệm - Pdf 15

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGÔ THỊ MAI HƯƠNG
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN TRỨNG VÀ
SỰ TẠO THÀNH PHÔI CHÓ TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN TRỨNG VÀ
SỰ TẠO THÀNH PHÔI CHÓ TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM
Chuyên ngành: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
(Sinh lý động vật)
Mã số: 60 42 30 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. NGUYỄN THANH BÌNH
2. PGS. TS. TRẦN THỊ DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
ii

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv


3.6. Xử lý số liệu 27
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
4.1. Tỉ lệ trứng sống/ trứng thoái hóa 28
4.2. Nuôi thành thục trứng chó in vitro 30
4.3. Kết quả thúc đẩy sự thành thục của trứng chó khi đồng nuôi cấy với
tinh trùng 33
4.4. Kết quả thụ tinh và tạo phôi 37
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. Kết luận 40
5.2. Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 46 v

DANH MỤC HÌNH

Trang
Hình 2.1: Diễn tiến hormone trong chu kỳ động dục chó 5
Hình 2.2: Hình ảnh tế bào học ống sinh sản chó trong chu kỳ động dục 6
Hình 2.3: Các giai đoạn phát triển nang buồng trứng 9
Hình 2.4: Trứng chó trước khi nuôi cấy và sau khi nuôi cấy 11
Hình 2.5: Phôi chó thu nhận in vitro ở các giai đoạn 21
Hình 3.1: Chó giống nội 22
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22
Hình 3.3: Các hình thái buồng trứng 24
Hình 3.4: Trứng được thu nhận cho thí nghiệm 25
Hình 3.5: Tinh hoàn và phó tinh hoàn 26
Hình 3.6: Trứng chó được nhuộm với Hoechst 33342 sau nuôi thành thục 27
Hình 4.1: Trứng chó sau nuôi cấy 29
Hình 4.2: Trứng chó sau nuôi thành thục và nhuộm với PI 32
Hình 4.3: Phôi chó thu nhận in vitro 38
Hình 4.4: Hợp tử với 2 tiền nhân 39
1

MỞ ĐẦU

Nghiên cứu về sinh lý sinh sản và công nghệ hỗ trợ sinh sản đã phát triển từ lâu
trên đối tượng động vật có vú. Cơ chế sinh sản ở các loài này tương đối giống nhau
(heo, bò, người, chuột ) tuy nhiên ở loài chó, có một số khác biệt với các loài động
vật có vú khác. Thứ nhất là chu kỳ sinh dục của chó kéo dài khoảng 3 – 10 tháng
tùy giống trong khi bò, người, heo là 20 – 28 ngày. Thứ hai là sự kiện chảy máu âm
đạo ở giai đoạn tiền động dục. Sự chảy máu này không giống ở người là do bong
tróc lớp niêm mạc dạ con khi không thụ tinh, ở chó sự chảy máu này là để bong lớp
tế bào ngoài giúp tử cung sẵn sàng cho phôi làm tổ. Thứ ba là quá trình chín của
trứng chó. Ở các loài động vật có vú khác, trứng tiến hành giảm phân trong nang
trứng ở giai đoạn nang tiền rụng. Khi rụng, trứng ở giai đoạn Metaphase II và sẵn
sàng cho thụ tinh. Tuy nhiên, ở chó không xảy ra như vậy, khi rụng trứng, trứng ở
giai đoạn túi mầm (germinal versicle –GV) và quá trình giảm phân hoàn thành sau
khoảng 48 giờ trong ống dẫn trứng [36]. Trên thực tế, chỉ có sự kiện thứ nhất và thứ
ba là có ảnh hưởng nhiều tới những nghiên cứu về sinh sản in vitro của chó.
Hiện nay, trên thế giới, kết quả của những nghiên cứu nuôi trưởng thành trứng in
vitro còn rất hạn chế. Tỷ lệ nuôi chín trứng chó chỉ đạt khoảng 20% ngoại trừ
nghiên cứu gần đây của tác giả Songsasen và Wildt đã báo cáo nuôi chín trứng thu
nhận từ những nang trứng có kích thước > 2 mm đạt tỷ lệ 79,5% [14], [46]. Do đó,
tỷ lệ phôi hình thành từ nguồn trứng nuôi trưởng thành in vitro này cũng rất hạn chế
[14]. Ở Việt Nam, hiện nay chưa có quy trình nào hiệu quả cho việc nuôi thành thục
trứng chó và tạo phôi chó in vitro. Năm 2005, nhóm tác giả Quách Tuyết Anh và
Trần Thị Dân [35] đã báo cáo nuôi thành thục được trứng chó với tỉ lệ 0,75% ngoài
ra không còn công bố nào có kết quả cao hơn.

cho rằng hàm lượng đạt mức độ cao hơn mức trung bình một tháng trước kỳ tiền
động dục rồi tăng lên nhanh chóng [30]. Trong khi đó, nồng độ của Luteinizing
hormone (LH) trong huyết thanh đạt ở mức thấp, dưới 1 ng/ml, chỉ bằng 2-20% so
với nồng độ đỉnh. Ở giai đoạn đầu của kỳ không động dục, follicle stimulating
hormone (FSH) luôn ở nồng độ căn bản (khoảng 20 ng/ml) và tăng lên vào giữa và
cuối của kỳ (>30ng/ml) [8], [29].
Trong giai đoạn không động dục, chó cái không thấy có sự hoạt động chức năng
của buồng trứng.
2.1.2. Kỳ tiền động dục
Trong suốt kỳ tiền động dục (proestrus), chó cái bắt đầu hấp dẫn con đực nhưng
vẫn không chấp nhận giao phối. Có sự bong lớp màng niêm mạc giả ở tử cung khiến
chảy máu âm đạo, và âm đạo mở rộng ở mức trung bình. Phân tích tế bào âm đạo
cho thấy, có sự thay đổi phát triển từ những tế bào nhỏ cận gốc thành các tế bào
trung gian nhỏ và lớn, tế bào trung gian và cuối cùng là tế bào biểu mô bề mặt phản
4

ánh tác dụng của sự thay đổi nồng độ estrogen. Nếp gấp âm đạo của chó biểu hiện
sự sung phù, có màu hồng và tròn.
Khi chuyển dần từ kỳ tiền động dục sang kỳ động dục, nồng độ estrogen tăng từ
mức độ trung bình (26 pg/ml) cho tới đỉnh (50-100 pg/ml) rồi giảm xuống nhanh
chóng sau đó [6], [9]. Trong kỳ tiền động dục, LH đạt đỉnh (4-40ng/ml) khoảng 1-3
ngày sau đỉnh của estrogen [6]. Ngược lại, progesterone lại tăng chậm. Progesterone
tăng từ mức căn bản (0,2-0,4 ng/ml) tới trước đỉnh LH thì đạt 0,6-0,8 ng/ml và sau
đỉnh thì đạt 3,2-5,4 ng/ml [7].
Vào giai đoạn sớm của kỳ tiền động dục, nang trứng trội có kích thước khoảng
2-3 mm. Các nang này phát triển tới kích thước khoảng 9-12 mm trước khi vào cuối
kỳ tiền động dục [7].
2.1.3. Kỳ động dục
Trong suốt kỳ động dục (estrus), chó có biểu hiện chấp nhận hoặc thụ động
trong giao phối và có thể bị chảy máu. Sự chảy máu âm đạo này là do sự bong màng

Chu kỳ động dục với ngày bắt đầu kỳ động dục là ngày thứ nhất

Hình 2.
1
: Diễn tiến hormone trong chu kỳ động dục chó
(Ngu
ồn:
http://www.
yourownvet.com)

6

Hình 2.2: Hình ảnh tế bào niêm mạc trong ống sinh sản chó trong chu kỳ động dục
Giai đoạn đầu kỳ tiền động dục có
sự tập trung của bạch cầu trung tính,
tế bào cận gốc, tế bào biểu mô bề
mặt, hồng cầu, và chất nhầy
Giai đoạn cuối kỳ tiền động dục,
hồng cầu, tế bào biểu mô, và sự
vắng mặt của các bạch cầu trung
tính
Giai đoạn động dục đặc trưng bởi
các tế bào biểu mô được keratin hóa,
phần lớn không có nhân và tế bào có
góc cạnh
Giai đoạn đình dục đặc trưng bởi sự
giảm sút các tế bào biểu mô, sự tăng

[12], [54]. Cho tới nay, người ta vẫn chưa biết hạt lipid hiện diện trong trứng chó
với số lượng lớn như thế có ảnh hưởng như thế nào đến sự trưởng thành và phát
triển trứng ở loài này.
Trong sinh lý bình thường, trứng chó được giải phóng khỏi nang trứng ở giai
đoạn prophase I của quá trình phân chia giảm phân [14] lúc này trứng vẫn còn sự
hiện diện của túi mầm (germinal vesicle) ở trong tế bào chất. Túi mầm được tạo
thành từ màng nhân và một nhân chứa vật chất di truyền. Trứng có sự thay đổi quan
trọng về hình thái nhân trong suốt quá trình thành thục bao gồm sự phiên mã của
mRNA và tổng hợp protein ở mức cao. Ở tế bào chất, sự hình thành của các bào
quan, điển hình là ti thể và ribosome và sự hình thành nên màng trong suốt (zona
8

pellucida) và hạt vỏ cho phép quá trình giảm phân tới giai đoạn metaphase II, thể
hiện ở sự giải xoắn của các nhiễm sắc thể và xuất hiện của thể cực thứ nhất.
Sự rụng trứng xảy ra 2 ngày trước kỳ động dục và ở hầu hết các con chó cái là
khoảng ngày thứ 3 sau khi có biểu hiện chấp nhận giao phối [22], [55]. Trứng được
giải phóng khỏi nang tiền rụng (có đường kính khoảng 4-13 mm) ở giai đoạn túi
mầm có đường kính khoảng 118-135 µm. Quá trình vỡ túi mầm ở trứng chó diễn ra
khoảng 48 giờ trong ống dẫn trứng [22], [55]. Trứng đạt giai đoạn thành thục về
nhân khoảng 48-72 giờ sau rụng trứng. Theo kết quả báo cáo của Reynaud và cs
(2005), khi quan sát trứng từ 17 đến 138 giờ sau rụng trứng cho thấy trứng đầu tiên
đạt giai đoạn metaphase II vào 54 giờ sau rụng [36]. Các trứng thành thục in vivo
cũng cho thấy có sự giãn nở của lớp tế bào hạt tuy nhiên lớp trong cùng bao quanh
sát trứng còn tồn tại quanh trứng tới tận giai đoạn phôi nang [22]. Trứng chó được
thụ tinh di chuyển trong ống dẫn trứng khoảng 9-10 ngày sau đó mới tiến vào tử
cung [22], [55].
2.2.2. Đặc điểm môi trường phát triển của trứng chó in vivo
Môi trường nang trứng
Trong buồng trứng của tất cả các loài động vật có vú, nang trứng là một đơn vị
cấu trúc và chức năng. Nang trứng chứa giữ trứng phát triển và thành thục. Trong

nét đặc biệt của trứng chó. Ống dẫn trứng của chó giúp trứng tồn tại trong thời gian
Hình 2.3: Các giai
đoạn phát triển nang
buồng trứng.
(a): Nang nguyên sơ
(b): Nang sơ cấp
(c): Nang thứ cấp
(d): Nang tiền trội
(e) Nang trội
(f): Nang đa noãn
(Nguồn: Blackmore
và cs 2004)
10
dài bao gồm sự thành thục hoàn toàn, sự thụ tinh và sự phát triển tới giai đoạn phôi
nang. Do vậy, tổng thời gian trứng chó trong ống dẫn trứng khoảng 8,5 tới 9 ngày,
nhiều hơn 3-4 ngày so với các loài khác [22]. Bởi thế, hình thái của ống dẫn trứng
phải thích hợp cho sự tồn tại dài ngày của giao tử trong cơ quan này. Trong thực tế,
lòng trong của ống dẫn trứng động vật có vú được hình thành bởi tổ hợp hệ thống
những nếp gấp niêm mạc nhầy đan dọc vào nhau. Những nếp gấp dọc được sắp
thành hàng bởi một lớp biểu mô hình trụ đơn giản. Hình thái và đặc tính sinh học
của mô này được điều khiển bởi hormone buồng trứng [56]. Trong suốt chu kỳ động
dục của chó, các tế bào biểu mô xếp hàng bao gồm các tế bào có lông nhung đã biệt
hóa hoàn toàn và các tế bào tiết, chúng chiếm tới 40-50% các tế bào biểu mô. Do
vậy, ở chó, trứng được đặt trong môi trường các chất tiết và chất nhầy của ống dẫn
trứng trong một thời gian dài, và có thể những chất này có vai trò chủ chốt trong sự
kiện toàn của trứng.
Sự tương tác với tinh trùng trong ống dẫn trứng
Trong cơ thể, trứng chó rụng duy trì khả năng thụ tinh ít nhất 4 ngày [55]. Sự
giao phối có thể xảy ra trước 2-3 ngày đến 1 tuần sau khi rụng trứng. Tinh trùng có
thể thực sự hiện diện quanh tổ hợp trứng-tế bào ổ trước cả khi trứng thành thục.

nuôi 48 giờ cho thấy số nang tiền xoang đạt 11,5% hoặc giai đoạn sớm của nang có
xoang đạt 8,7% mặc dù tỉ lệ này thấp. Sự tách nang trứng ra khỏi buồng trứng làm
gián đoạn sự vận chuyển sinh lý của các nhân tố trong buồng trứng, có thể thúc đẩy
trứng hoàn tất giảm phân [3].
Nuôi cấy trên lớp tế bào đơn
Ảnh hưởng có lợi của đồng nuôi cấy tới sự phát triển của phôi đã được chứng
Hình 2.4:
Trứng chó trước khi nuôi cấy (A) và sau khi nuôi cấy (B)
(Nguồn: Shaikhun và cs, 2008)
12
minh trong sản xuất phôi bò in vitro [15]. Otoi và cs (2000) đã nuôi trưởng thành
trứng chó trên lớp đơn tế bào ổ của bò với môi trường nuôi phôi bò [32]. Mặc dù
tăng số trứng đạt giai đoạn metaphase II song không có ảnh hưởng tới sự phát triển
tiếp theo sau thụ tinh.
Việc đồng nuôi cấy với lớp đơn tế bào ống dẫn trứng chó đã được tiến hành lần
đầu tiên bởi Hewitt và England (1999). Kết quả cho thấy các tế bào ống dẫn trứng
không có bất cứ ảnh hưởng có lợi nào lên sự trưởng thành nhân của trứng sau 48
giờ đồng nuôi cấy. Chỉ sau 96 giờ thì có cải thiện về sự hoàn tất giảm phân [20].
Gần đây, Bogliolo (2002) đã chứng minh rằng việc đồng nuôi cấy với các tế bào
ống dẫn trứng thu nhận từ phần loa của ống dẫn trứng chó ở giai đoạn động dục có
ảnh hưởng tốt tới tỉ lệ trưởng thành của trứng, đạt 16,7% sau 48 giờ và 23,2% sau
72 giờ nuôi [2].
Việc đồng nuôi cấy trứng chó trên lớp đơn tế bào ống dẫn trứng là một thử
nghiệm nhằm gia tăng điều kiện sinh lý mà ở đó trứng hoàn tất quá trình giảm phân.
Tuy nhiên, mô hình này vẫn khác rất nhiều so với môi trường ống dẫn trứng trong
cơ thể, do đó, ở chó có một số đặc trưng đặc biệt ảnh hưởng có lợi tới sự trưởng
thành và khả năng tồn tại lâu của trứng ở đây.
Nuôi cấy trong ống dẫn trứng
Một đoạn ống dẫn trứng được cô lập có thể cung cấp môi trường in vitro với các
đặc điểm khác với lớp đơn tế bào ống dẫn trứng. Trong thực tế, việc nuôi cấy tế bào

nuôi thành thục trong ống nghiệm.
2.3.2. Môi trường nuôi cấy
Môi trường nuôi thành thục trứng có thể được chia ra 2 loại, môi trường đơn
giản hoặc môi trường phức hợp. Môi trường đơn giản được cân bằng bởi các dung
dịch với các nguồn năng lượng như pyruvate, lactate và glucose còn môi trường
phức hợp có thêm các chất như amino acid, vitamin và một số phân tử khác [15].
Môi trường đơn giản được sử dụng rộng rãi cho nuôi thành thục trứng chó in
vitro là môi trường Modified Krebs Ringer Bicarbonate (mKRB), Synthetic
Oviductal Fluid (SOF) và môi trường phức hợp như Tissue Culture Medium 199
(TCM 199). Vẫn chưa có báo cáo nào so sánh hiệu quả giữa môi trường đơn giản và
môi trường phức hợp cho nuôi trưởng thành trứng chó nhưng môi trường TCM199
đã được báo cáo là môi trường tốt hơn cho sự trưởng thành nhân của trứng chó đạt
tới giai đoạn metaphase II so với môi trường Connaught Medical Research Labs
14
Medium 1066 (CMRL 1066) [27]. Nhằm năng cao tỉ lệ nuôi trưởng thành trứng
chó, các môi trường được bổ sung một số chất:
Protein
Nguồn protein được bổ sung vào môi trường nuôi cấy dưới dạng huyết thanh.
Huyết thanh lại là một thành tố quan trọng bảo vệ trứng khỏi các tác động có hại
của độc tố trong môi trường nuôi cấy. Huyết thanh cô lập phản ứng oxy hóa của O
2


cung cấp đệm pH đồng thời nó có lợi cho trứng chó thụ tinh in vitro và sự phát
triển của phôi chó sau này. Mặc dù vậy, sự hiện diện của huyết thanh lại khiến
màng trong suốt bị xơ cứng [40].
Huyết thanh bất hoạt nhiệt hoặc là albumin huyết thanh được bổ sung vào môi
trường nuôi cấy làm cải thiện tỉ lệ sống và trứng thành thục ở gia súc [15]. Sự
trưởng thành in vitro của trứng chó đã được chỉ ra trong môi trường có bổ sung
huyết thanh bò hoặc chó với nồng độ 5-20%, và 0,3-4% albumin huyết thanh bò

kiện in vivo. Như đã được chứng minh ở các loài khác, FSH kích thích hoàn tất
giảm phân in vitro thông qua điều hòa nồng độ cAMP trong tổ hợp trứng-tế bào ổ
[24]. Ngoài ra, FSH được cho là có vai trò trong sự giãn nở của tế bào ổ. Sự giãn nở
này có liên quan tích cực tới sự hoàn tất giảm phân. Trong khi đó, khả năng trưởng
thành nhân của trứng chó lại không có liên quan sự giãn nở của tế bào ổ. Sự hiện
diện của các FSH và/hoặc LH với nồng độ 1µg/ml trong giai đoạn nuôi cấy đã
không cải thiện sự trưởng thành nhân [45], [59]. Sự thiếu vắng FSH giúp trứng vượt
qua giai đoạn dừng giảm phân thông qua việc cải thiện tỉ lệ vỡ túi mầm nhưng nó
không thúc đẩy tiến trình giảm phân tiến xa hơn [38].
Gần đây người ta đã chứng minh trứng được ủ với eCG trong thời gian ngắn
(60-240 phút) đã khởi động quá trình hoàn tất giảm phân và tiến trình trứng chó tiến
tới giai đoạn metaphase I [48]. Ảnh hưởng tốt này được cho rằng do hoạt tính FSH
của eCG và sự trái ngược với kết quả trước, có thể do sự khác nhau giữa thời gian
tác động dài hay ngắn của các chất gonadotropin lên tế bào ổ của chó và sự sinh
tổng hợp steroid của chúng. Ảnh hưởng của sự bổ sung gonadotropin có thể thực sự
bị tác động bởi sự đồng hiện diện của các steroid trong môi trường. Tuy nhiên
Rodrigues (2003) đã không chỉ ra được hiệu quả của estradiol (nồng độ từ 1-20
µg/ml) kết hợp với gonadotropin lên sự trưởng thành nhân của trứng chó [38].
Nồng độ progesterone cao hiện diện trong môi trường nang trứng và sự thay thế
estrogen bằng progestagen có thể giúp cho sự phát triển in vitro. Nồng độ của
16
progesterone (từ 0 – 800 ng/ml) đã được thêm vào môi trường nuôi thành thục trứng
chó nhưng không có hiệu quả lên sự hoàn tất giảm phân hay sự thành thục toàn diện
của nhân [57]; hơn thế nữa, không có khác biệt trong tỉ lệ thành thục của trứng chó
ở nhóm thêm progesterone (1 µg/ml) và/hoặc estrogen (1 µg/ml) so với nhóm không
được thêm. Điều này cho thấy cần phải có thêm nhiều nghiên cứu in vivo về nồng
độ của các hormone trong môi trường nang trứng và ống dẫn trứng để có sự bổ sung
chính xác các chất này vào môi trường nuôi cấy in vitro.
Theo Kim và cs (2007) việc bổ sung 1 IU/ml hCG và 1 IU/ml FSH đã thúc đẩy
sự trưởng thành nhân ở trứng chó thu nhận giai đoạn nang trứng [23].

oxy hóa này vào môi trường nuôi chín trứng chó với nồng độ 0,25 mM đã không cải
thiện sự hoàn tất giảm phân của trứng chó [45].
2.3.3. Các điều kiện nuôi cấy in vitro
Nuôi cấy trong vi giọt, mật độ nuôi trong vi giọt
Nuôi cấy trong vi giọt là lựa chọn phổ biến để nuôi thành thục trứng ở các loài
động vật khác nhau bao gồm cả đối tượng chó. Với cách nuôi cấy này, yếu tố sinh
lý chính được tính bởi tỉ lệ thể tích của vi giọt so với số trứng nuôi trên vi giọt. Số
lượng lớn các tổ hợp trứng-tế bào ổ được nuôi trong vi giọt nhỏ có thể dẫn tới khả
năng ức chế sự hoàn tất giảm phân vì những nhân tố này có thể được tiết bởi các tế
bào hạt vào môi trường nuôi. Những nhân tố này có thể ức chế sự tách ra của các
nếp gấp; do đó, ngăn cản trứng trải qua giai đoạn vỡ túi mầm. Trên thực tế, sự gián
đoạn thông tin giữa trứng và các tế bào hạt được cho là đáp ứng để hoàn tất quá
trình giảm phân ở trứng [24]. Trứng chó được nuôi trong thể tích môi trường rất
khác nhau và mật độ (số lượng trứng / thể tích môi trường) trứng cũng khác nhau.
Otoi và cs (2001) đã nghiên cứu về hiệu quả của mật độ trứng lên sự hoàn tất giảm
phân. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của mật độ trứng tùy theo các giai đoạn của chu
kỳ sinh dục của chó. Trứng chó thu từ buồng trứng ở giai đoạn không động dục
được nuôi với mật độ 10 tổ hợp trứng-tế bào ổ/100 µl vi giọt cho thấy tỉ lệ đạt giai
đoạn metaphase II cao hơn (16,2%) so với nhóm 5 tổ hợp trứng-tế bào ổ (4,6%)
nhưng không có sự khác biệt ở nhóm trứng thu từ buồng trứng của chó ở giai đoạn
đình dục. Mật độ phù hợp của trứng liên quan tới chu kỳ sinh sản của chó được
khuyến cáo là 1:10 ở thời kỳ không động dục và 1:7 ở thời kỳ đình dục [33]. 18
Thời gian nuôi cấy
Thời gian nuôi cấy trứng chó in vitro được báo cáo rất khác nhau (lên tới 120
giờ) nhưng tỉ lệ thành thục hoàn toàn còn thấp và còn nhiều ý kiến trái ngược. Do
đó, ở trứng chó, người ta thừa nhận sự đánh giá hoàn tất giảm phân trong giai đoạn
trung gian của sự cô đặc nhiễm sắc thể (vỡ túi mầm tới metaphase I) sau thời gian


Trích đoạn Kết quả tạo phôi chó in vitro Kết quả thụ tinh và tạo phôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status