VẺ ĐỘC ĐÁO CỦA KIẾN TRÚC CHÙA ĐẠI BI VÀ THỨC "TIỀN PHẬT HẬU THÁNH" - Pdf 15

VẺ ĐỘC ĐÁO CỦA KIẾN TRÚC
CHÙA ĐẠI BI VÀ THỨC "TIỀN
PHẬT HẬU THÁNH" tam quan chùa Đại Bi

Trên một vùng đất rộng và bằng phẳng ở xã Châu Đàm huyện Tây Châu trấn Sơn
Nam (nay là thị trấn Nam Giang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định), vào năm
Thông Thụy thứ ba đời vua Lý Thái Tông, thiền sư Từ Đạo Hạnh đã lập nên Đại
Bi tự mà dân gian quen gọi là chùa Bi.

Theo lịch sử thì chùa được xây dựng vào thời Lý trên địa thế đất hình rồng, mà v
ết
tích này còn lại cho đến ngày nay là hai giếng mắt rồng hai bên phía trước ngôi
chùa. Tiếc là ngày nay chỉ còn lại một giếng nằm bên phải chùa, giếng kia đã bị
UBND xã lấp để xây nhà văn hóa. Dấu tích còn lại của ngôi chùa hiện nay phần
lớn mang phong cách thời Lê Mạt và Nguy
ễn, duy có một số chân tảng ở hậu cung
bằng đá chạm khắc hình hoa sen có thể là di tích còn sót lại từ buổi đầu xây dựng.
Các chân tảng này chạm cánh sen kép nhỏ và để trơn. Chùa có dạng mặt bằng
“Nội công ngoại quốc” với 60 gian được xây dựng bằng gỗ, trải rộng theo trục
chính, cao dần từ ngoài vào trong bao gồm tam quan, điện Phật, hành lang tả vũ
hai bên. Điểm kết của thức kiến trúc “Nội công ngoại quốc” này là Gác chuông
được dựng theo lối chồng diêm hai tầng tám mái cong vút lên thanh thoát. Phía
sau gác chuông hiện nay là những công trình mới xây dựng sau này gồm nhà tổ và
tăng phòng.
Tam quan chùa Bi
Không giống với các chùa tiền Phật hậu thánh khác như chùa Thầy (không có tam
quan) hay chùa Keo Hành Thiện, chùa Bối Khê, chùa Láng vừa có tam quan vừa
có nghi môn, chùa Đại Bi chỉ có một tam quan. Nhìn bề ngoài, tam quan này còn

ta có thể nhìn được cả mặt trước và mặt sau của nó. Ví như bức chạm khắc hình lá
cúc mang tính cách điệu cao được thể hiện khá tự do, thoải mái; trên đỉnh của h
ình
chạm là hình tượng một người phụ nữ trong tư thế hai tay chắp trước ngực. Mảng
chạm này khiến ta liên tưởng tới những mảng chạm ở đình Hưng Lộc – Nam Định
có niên đại cuối thế kỉ XVII có chung chủ đề. Ngo
ài ra trên ván xà, xà nách và các
đầu dư ta còn thấy sự hiện diện của những hình rồng, phượng có cùng phong cách
chạm khắc.
Xen kẽ với những mảng chạm mang phong các Hậu Lê là những hình khắc mang
dấu ấn nghệ thuật Nguyễn. Hình ảnh “Rồng ngậm chữ thọ” hay chim phượng, hoa
lá cách điệu… khiến đề tài chạm khắc ở tam quan phong phú và sinh động. Phía
ngoài của tam quan, cùng với việc tạo ra những con vật linh giống với thức kiến
trúc ở đình làng, thì ở khu đĩ của mái, người ta tạo ra một mặt hổ phù bằng sắt
đậm dấu ấn thời Nguyễn. Có thể thấy tam quan chùa Đại Bi là một công trình ki
ến
trúc đặc sắc trong tổng thể di tích.
Thiết kế chữ công độc đáo của Thượng điện
Trung tâm chùa là điện Phật. Thoạt nhìn, ta có thể thấy điện thờ Phật chùa Đại Bi
được xây dựng theo dạng mặt bằng hình chữ công. Nhưng sau khi quan sát kĩ, thì
dạng chữ công của Đại Bi tự dường như khác hoàn toàn với cách kết cấu của các
ngôi chùa khác. Đó là cách thiết kế ba tòa nhà hoàn toàn độc lập nhưng đư
ợc ghép
lại với nhau thành dạng mặt bằng hình chữ công.
Trong một thiết kế chữ công bình thường, gian ống muống (tòa Thiêu Hương)
thường chỉ có 2-3 hàng chân cột. Nhưng ở đây ta lại thấy một tòa thiêu hương độc
lập rộng hơn rất nhiều cả về chiều dài lẫn chiều rộng so với một gian ống muống
thông thường. Đồng thời việc thiết kế hệ thống các cửa bức bàn có chấn song
khiến cho ánh sáng tự nhiên lọt vào đã làm cho không gian của tòa thiêu hương
này một không gian thoáng đãng và r

bí, linh thiêng, tượng Từ Đạo Hạnh được bày ở chính giữa, phía sau là tư
ợng Phật.
ở chùa Bi có một sự thay đổi trong cách thức bày đặt tượng Phật. Vì sao lại có sự
biến đổi như vậy?
Thượng điện chùa Bi có kiến trúc khá đặc biệt, được chia làm ba gian: gian giữa
là ban thờ Phật, bên phải ban thờ Phật là ban thờ Quan Âm và bên trái là Cung
thánh tổ thờ đức Từ Đạo Hạnh. Việc đặt gian thờ Thánh Từ đạo Hạnh nép vào m
ột
gian riêng của tòa nhà cuối cùng chắc hẳn là có lý do. Có thể ban đầu chùa Đại Bi
có cách thức sắp xếp hệ thống tượng giống như chùa Thầy, nhưng do những sự
biến động trong tôn giáo tín ngưỡng sau thế kỷ XVII, Phật điện dần trở nên đông
đúc thì nhu cầu về không gian trong chùa cũng thay đổi. Một điểm đặc biệt không
thể không nhắc đến là chùa Đại Bi có nghi lễ riêng thờ Từ Đạo Hạnh, nghi lễ đó
thường diễn ra trong mật thất của ngôi chùa. Do đó, cùng với việc gia tăng của
điện Phật ở thượng điện, họ thiết kế một không gian cho hậu cung thờ Thánh. Hậu
cung này hoàn toàn đóng kín, tách hẳn với ban thờ Phật bởi hệ thống tường và c
ửa
gỗ; ban thờ được đẩy hẳn ra phía trước, cửa chính được sơn son thiếp vàng và
trang trí cầu kì, bên trong đặt di tượng Từ Đạo Hạnh và nhân dân chỉ được phép
thờ vọng từ ngoài vào.
Chùa Bi là một ngôi chùa chung của ba xã Vân Chàng, Giáp Ba và Giáp Tự. Chùa
còn giữ một số mặt nạ rối cổ. Hội chùa hàng năm được tổ chức từ ngày 21 đến 24
tháng Giêng âm lịch, nhân dân ba “giáp” đều về dự lễ hội với các trò chơi đánh
vật, múa sư tử, múa rối (hát sự tích Từ Đạo Hạnh), Từ đêm 21, hát rối được tr
ình
diễn ở trong chùa, trước bàn Tam bảo. Khi biểu diễn thì các cụ mắc tấm màn che
vào hai cây cột giữa tiền đường trong lòng chùa, người cầm rối múa, hát, gõ nhạc
cụ đứng sau tấm màn đó, mặt quay về phía ban thờ Phật và ban thờ đức thánh Từ
Đạo Hạnh (thế nên mới gọi là múa rối hầu thánh, mục đích là để “thánh xem” chứ
không phải chỉ cho “người xem”).

4. Vũ Lâm, Về Nam Giang, xem Rối Đầu Gỗ hầu thánh!, TT&VH Cuối tuần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status