VẺ ĐỘC ĐÁO CỦA KIẾN TRÚC CHÙA ĐẠI BI VÀ THỨC "TIỀN PHẬT
HẬU THÁNH"
Theo lịch sử thì chùa được xây dựng vào thời Lý trên địa thế đất hình rồng, mà vết
tích này còn lại cho đến ngày nay là hai giếng mắt rồng hai bên phía trước ngôi
chùa. Tiếc là ngày nay chỉ còn lại một giếng nằm bên phải chùa, giếng kia đã bị
UBND xã lấp để xây nhà văn hóa. Dấu tích còn lại của ngôi chùa hiện nay phần
lớn mang phong cách thời Lê Mạt và Nguyễn, duy có một số chân tảng ở hậu cung
bằng đá chạm khắc hình hoa sen có thể là di tích còn sót lại từ buổi đầu xây dựng.
Các chân tảng này chạm cánh sen kép nhỏ và để trơn. Chùa có dạng mặt bằng “Nội
công ngoại quốc” với 60 gian được xây dựng bằng gỗ, trải rộng theo trục chính,
cao dần từ ngoài vào trong bao gồm tam quan, điện Phật, hành lang tả vũ hai bên.
Điểm kết của thức kiến trúc “Nội công ngoại quốc” này là Gác chuông được dựng
theo lối chồng diêm hai tầng tám mái cong vút lên thanh thoát. Phía sau gác
chuông hiện nay là những công trình mới xây dựng sau này gồm nhà tổ và tăng
phòng.
Tam quan chùa Bi
Không giống với các chùa tiền Phật hậu thánh khác như chùa Thầy (không có tam
quan) hay chùa Keo Hành Thiện, chùa Bối Khê, chùa Láng vừa có tam quan vừa
có nghi môn, chùa Đại Bi chỉ có một tam quan. Nhìn bề ngoài, tam quan này còn
có vẻ khiêm tốn cả về hình thức cũng như kích cỡ và được dựng chếch sang bên
trái so với trục đường thần đạo vào chùa. Tam quan chùa Bi có lối kết cấu vì kèo
ba hàng chân cột. Nhìn một cách tổng quát có thể dễ dàng nhận ra chiều cao mái
tam quan chiếm tỉ lệ 1/2 chiều cao công trình. Điều này cho phép phỏng đoán rằng
tam quan được xây dựng vào cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII khi kỹ thuật kiến
trúc dân gian đã ít nhiều hoàn chỉnh. Trên thượng lương của công trình hiện còn
ghi: “Thiên tử vạn niên, tuế thứ ất Sửu trọng đông nguyệt cốc nhất lương thời thụ
trụ thượng lương đại cát” tức “ngày lành, giờ tốt, tháng giữa đông năm ất Sửu,
dựng cột, bắc nóc”. Tuy nhiên, theo văn bia trong chùa thì vào năm Bính Dần niên
hiệu Bảo Đại (1926) tam quan chùa lại được trùng tu, vì vậy ta còn thấy nhiều
thành phần kiến trúc gỗ ở đây mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.
ngôi chùa khác. Đó là cách thiết kế ba tòa nhà hoàn toàn độc lập nhưng được ghép
lại với nhau thành dạng mặt bằng hình chữ công.
Trong một thiết kế chữ công bình thường, gian ống muống (tòa Thiêu Hương)
thường chỉ có 2-3 hàng chân cột. Nhưng ở đây ta lại thấy một tòa thiêu hương độc
lập rộng hơn rất nhiều cả về chiều dài lẫn chiều rộng so với một gian ống muống
thông thường. Đồng thời việc thiết kế hệ thống các cửa bức bàn có chấn song khiến
cho ánh sáng tự nhiên lọt vào đã làm cho không gian của tòa thiêu hương này một
không gian thoáng đãng và rực rỡ. Để khắc phục tính chất độc lập của các ngôi nhà
không nối mái, giữa các gian tiền đường, thiêu hương thượng điện, người ta đã
thiết kế một hệ thống hệ thống ống máng để thoát nước ở điểm nối liền giữa các
tòa nhà.
Như vậy lối kiến trúc rời này đã kiến tạo cho ngôi chùa những giá trị mới, vừa rộng
rãi, thoáng đãng hơn, nhưng cũng vẫn mang dáng nét của một điện thờ Phật truyền
thống. Theo văn bia hiện nay được dựng ở chùa thì toàn bộ điện thờ phật ngày nay
đã được trùng tu sửa mới gần như hoàn toàn trong thế kỷ XIX. Thượng điện chùa
Đại Bi được trùng tu năm 1860, niên hiệu Tự Đức thứ 13. Tiền đường được sửa
chữa năm Bính Tý niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876). Thiêu hương trùng tu năm Kỷ
Sửu niên hiệu Thành Thái (1899). Với niên đại thế kỷ XIX trải dài trong các năm
trùng tu, thì càng cho ta có thể khẳng định rằng cách thiết kế ống máng giữa các
tòa nhà này là một kỹ thuật được kế thừa từ nhu cầu mở rộng không gian kiến trúc
từ cuối thế kỷ XVIII. Điều này có thể nhận thấy những sự tương đồng trong kiến
trúc chùa Kim Liên ở Hồ Tây, Hà Nội. Tuy nhiên chùa Đại Bi lại hoàn toàn khác
với các ngôi chùa của thế kỷ XVIII, bởi dạng thức chữ công, tức được dựng lại trên
nền xưa của ngôi chùa cũ. Đây cũng là nét độc đáo trong lịch sử kiến trúc gỗ cổ
truyền của người Việt.
Kiến trúc “tiền Phật hậu Thánh”:
Vào thế kỉ XVII, khi các cao tăng có công khai sáng chùa, được truyền thuyết với
phép nhiệm màu, giờ đây trở thành “Đức Thánh” linh thiêng được dành nơi trang
trọng và thâm nghiêm nhất của chùa để thờ. Hình thức chùa Tiền Phật hậu Thánh
ra đời. Cùng do Từ Đạo Hạnh lập ra vào thời Lý và cùng có kiểu kiến trúc “tiền
Hầu hết các thành phần kiến trúc trong điện Phật mang phong cách Nguyễn. Riêng
cung thờ Từ Đạo Hạnh còn sót lại một số cấu kiện kiến trúc cuối thế kỉ XVII. Đó
là những mảng chạm khắc độc đáo còn sót lại trên ván bưng. Rất tiếc bản chạm đã
bị tháo dỡ đi một phần nên ta không biết chính xác hoạt cảnh được chạm trên tác
phẩm. Mặc dầu vậy hình ảnh chủ đạo ở đây là hình tượng rồng. Con rồng phía
trước ngẩng đầu về phía hai nhân vật bí ẩn lẫn trong đám cúc, rồng có năm móng
đang nắm một lưỡi đao lửa tựa hình ảnh rồng vuốt râu, từ đầu rồng các lưỡi đao
mác vươn thẳng lên gần như hòa lẫn vào khóm cúc, vượt ra ngoài “khung” hình
bức chạm và làm nền cho các nhân vật. Bên trái, những lưỡi đao lửa từ đầu rồng
phía sau tỏa ra nhiều hướng khác nhau chạy ngang theo mảng chạm uyển chuyển
sinh động, rồng đang ngậm ngọc phía sau như bị cuốn theo, quần tụ cùng những
mảng chạm phía trước. Hình tượng rồng ở đây cho ta liên tưởng tới truyền thuyết
về sự tái sinh của Từ Đạo Hạnh trở thành vua Lý Thần Tông sau này, làm tăng
thêm ý nghĩa cho kiến trúc hậu cung nơi thờ Từ Đạo Hạnh – một trong ba vị thánh
tổ nước ta thời Lý.
Kiến trúc tiền Phật hậu Thánh là thức kiến trúc khá đặc biệt trong kiến trúc Phật
giáo Việt Nam và cho đến nay cũng chưa có một mẫu hình chuẩn về kiểu kiến trúc
này. Cùng với hai chùa Keo Hành Thiện và Keo Thái Bình, chùa Thầy, chùa
Láng… Kiểu thức tiền Phật hậu thánh ở chùa Đại Bi đã làm phong phú thêm cho
loại hình kiến trúc Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ.