MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI CƠ CẤU KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI - TIẾP CẬN
TỪ THỰC TIỄN THẾ GIỚI
CVC. Nguyễn Hữu Hải
Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Văn phòng Trung ương Đảng
1-Tái cấu trúc nền kinh tế đang là yêu cầu cấp thiết đối với các nền
kinh tế trên thế giới hiện nay.
Cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính vừa qua dẫn đến suy thoái kinh tế
với mức độ và quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu hiện nay vừa mang tính cơ
cấu vừa mang tính thể chế đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc tái cơ cấu nền
kinh tế ở các nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cao hơn và hướng tới
sự phát triển bền vững hơn ở thời kỳ sau khủng hoảng và suy thoái. Khác với
các đợt tái cơ cấu kinh tế sau khủng hoảng trước đây, đợt tái cơ cấu kinh tế
trên thế giới trong và sau khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu hiện nay
đang diễn ra theo một số xu hướng cơ bản sau :
Thứ nhất, xanh hoá nền kinh tế theo hướng giảm dần các ngành, công
nghệ tiêu hao nhiều năng lượng, tài nguyên là một hướng ưu tiên trong kế
hoạch tái cơ cấu kinh tế ở nhiều nước, bởi khủng hoảng kinh tế- tài chính
toàn cầu cùng với những thách thức về an ninh tài chính, lương thực, năng
lượng
1
và biến đổi khí hậu làm bộc lộ rõ tính thiếu bền vững của mô hình và
phương thức "tăng trưởng trước, làm sạch sau", bởi càng tăng trưởng nhanh
càng tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng và tổn hại môi trường. Do đó, các
gói kích thích kinh tế cũng như chiến lược phát triển dài hạn của một số nước
(Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…) dành ưu tiên cao cho chuyển
dịch cơ cấu kinh tế sang các ngành công nghiệp "xanh". Đầu tư phát triển
xanh hiện chiếm tới 14% tổng giá trị kích thích kinh tế toàn cầu
2
Nhiều ý kiến cho rằng các nền kinh tế nhỏ ở Đông Á có thể tiếp tục dựa vào
xuất khẩu, nhưng các nền kinh tế lớn cần có mô hình phát triển mới cân bằng
hơn giữa xuất khẩu và thị trường nội địa bởi Đông Á có thể không còn "bán
nhiều, mua ít" như trước do các nước phương Tây tiết kiệm hơn. Hội đồng
Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) khuyến nghị để điều chỉnh sang
mô hình phát triển hướng về như cầu thị trường nội địa nhiều hơn, Châu Á
cần đầu tư nhiều cho việc củng cố hệ thống an sinh xã hội để người dân an
tâm về tương lai, từ đó tiết kiệm ít hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Thực tế trong
các gói kích cầu kinh tế, nhiều nước Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc ) đều
dành ưu tiên cao hơn cho giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Tuy nhiên, việc
phát triển hướng nhiều hơn vào thị trường nội địa có thể làm gia tăng chủ
nghĩa bảo hộ, gây khó khăn cho quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Thứ tư, với việc những yếu kém về quản lý, giám sát tài chính là nguyên
nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng kinh tế- tài chính toàn cầu, vấn đề cải
cách hệ thống tài chính-ngân hàng là một trọng tâm trong tái cơ cấu kinh tế
của nhiều nước, nhất là Mỹ và Châu Âu. Các đề xuất về cải cách tài chính-
ngân hàng gần đây chủ yếu tập trung quy định chặt chẽ toàn bộ hệ thống tài
chính, hạn chế tỉ lệ đòn bẩy, tăng cường giám sát các định chế tài chính phi
ngân hàng có chức năng hoạt động ngân hàng
3
. Các nước G-8 đã thông qua
Khung khổ Lê-xê (Lecce) để tăng cường phối hợp quản lý các định chế tài
chính lớn, các tổ chức đánh giá tín nhiệm, tiêu chuẩn kế toán, thuế. Các nước
G-20 cũng thống nhất nhiều biện pháp tăng cường chế tài và quản lý tài
chính-ngân hàng quản lý lương thưởng, giám sát chặt chẽ vốn, tính thanh
khoản của các tổ chức tài chính v v… Bên cạnh tăng cường vai trò của
Ngân hàng TW, Giáo sư Joseph Stiglitz khuyến nghị các nước nên có thêm
một Cơ quan Quản lý Tài chính đặc trách theo dõi, quản lý và giám sát các
lĩnh vực tài chính như chứng khoán, bảo hiểm, các sản phẩm tài chính, cảnh
báo rủi ro, bảo đảm ổn định hệ thống.
5
Ví dụ, gần đây tập đoàn Lloyds và RBS (Anh) chấp nhận từ bỏ một số hoạt động kinh doanh để nhận
cứu trợ 25 tỷ Bảng của Chính phủ Anh.
sách nghiêm trọng ở nhiều quốc gia
6
dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nợ công
rất lớn cùng với sự thiếu ổn định của hệ thống tài chính - tiền tệ quốc tế
7
.
Các nước ở châu Á được đánh giá là đang trên con đường phục hồi kinh
tế nhanh chủ yếu nhờ sự phục hồi đầu tư tư nhân và tiêu dùng do hiệu ứng
kích thích kinh tế của Chính phủ. Tuy nhiên, những vấn đề bản chất vẫn chưa
được giải quyết. Châu Á đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997-
1998, là khủng hoảng nợ, việc thoái vốn tác động sâu sắc đến nhiều nền kinh
tế. Khi thương mại phát triển, phần lớn nước châu Á tự bảo vệ mình bằng
cách xuất siêu và tích được dự trữ ngoại tệ lớn, tích cực mở rộng thương mại
với nước ngoài. Có thể nói, các nước châu Á đã đi rất đúng hướng, dù vậy
vẫn đang chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng mạnh hơn các nước phương Tây.
Nguyên nhân chính đằng sau những vấn đề kinh tế hiện nay của châu Á
cũng như của Việt Nam, lại chính là mô hình phát triển đã đưa châu Á ra khỏi
cuộc khủng hoảng trước đây và mang lại nhiều thành công về kinh tế, đó là
mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào xuất khẩu. Bằng việc phát triển định
hướng vào sản xuất hàng hoá xuất khẩu, các nước châu Á để nền kinh tế rơi
vào thế chịu ảnh hưởng và phụ thuộc vào việc nhu cầu tiêu thụ hàng hoá của
châu Âu và Mỹ.
Tăng trưởng kinh tế châu Á được xây dựng trên nền tảng thiếu đầu tư
vào giáo dục công, y tế, dịch vụ xã hội, quản trị nền kinh tế kém và hệ thống
luật pháp chưa hoàn chỉnh. Hầu hết các nền kinh tế châu Á, trong lúc đang tự
hào sự thành công về kinh tế, đã không có sự quan tâm đúng mức những vấn
đề trên. Cho đến năm 2008, người ta vẫn tin vào một thế kỷ của châu Á, tốc
được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng Việt
Nam vẫn chưa trở thành một trung tâm sản xuất thay thế trong khu vực, năng
suất lao động thấp, giá trị gia tăng trong các sản phẩm xuất khẩu thấp, tăng
trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư và các ngành khai thác tài nguyên nhưng hiệu
quả thấp. Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, cần đi theo hướng một mô hình
phát triển đa dạng hơn, tăng trưởng phải dựa trên sự phát triển cân bằng của
các nguồn lực, vượt lên trên giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa trên xuất
khẩu, có sự quan tâm đầu tư tập trung nhiều hơn vào phát triển nền kinh tế
nội địa. Kết hợp hài hoà giữa phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trong ngắn hạn trước mắt, nền kinh tế Việt Nam vẫn cần định hướng
xuất khẩu, tiếp tục là động cơ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, vì
đây là giai đoạn phát triển tuần tự mà nhiều nước phải trải qua trước khi đạt
tới trình độ một nền kinh tế có cơ cấu đa dạng dựa vào thị trường nội địa. Tuy
nhiên, song song với quá trình đó, cũng cần chú trọng phát triển thị trường
trong nước, coi đây là một động lực "nội sinh" giúp nền kinh tế có thể kháng
chịu tốt hơn trước những biến động bất thường của kinh tế thế giới. Để có thể
đạt được mục tiêu này thì rất cần một giai đoạn tập trung ưu tiên hơn cho
phát triển hạ tầng thương mại, các ngành phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong
nước, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, tăng cường quản lý chất lượng hàng
hoá-dịch vụ.
3- Một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển của Việt Nam
theo định hướng mô hình tăng trưởng mới
Để có thể phát triển theo định hướng mô hình tăng trưởng mới như phân
tích trên và cũng phù hợp với xu thế phát triển chung của các nền kinh tế trên
thế giới hiện nay thì vấn đề tiên quyết đầu tiên đối với nền kinh tế Việt Nam
là phải đẩy mạnh hơn quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế. Đổi mới cơ cấu kinh
tế là nền tảng cơ bản để có thể điều chỉnh mô hình phát triển, nâng cao năng
lực cạnh tranh cao hơn cho nền kinh tế sau thời kỳ suy giảm.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã có rất nhiều nỗ lực chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, song kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, còn nhiều hạn
trình đổi mới cơ cấu kinh tế ở Việt Nam, trong đó thách thức lớn nhất là tái
cơ cấu kinh tế ở nhiều nước sẽ có xu hướng đưa công nghệ cũ, tiêu hao nhiều
tài nguyên - năng lượng ra bên ngoài, do đó cần có định hướng, chính sách
phù hợp để giảm thiểu tác động tiêu cực của xu hướng này.
Đổi mới cơ cấu kinh tế cần lấy đổi mới về thể chế và cơ cấu lại doanh
nghiệp nhà nước làm trung tâm, phát triển các doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh cao. Muốn vậy, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ các vướng mắc về thể
chế, cơ sở hạ tầng, nhân lực nhằm tạo môi trường thuận lợi và có chính sách
đòn bẩy thúc đẩy các doanh nghiệp tự tái cơ cấu doanh nghiệp, theo đuổi phát
triển các sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, đổi mới công nghệ, quy trình
sản xuất, chủ động tham gia tích cực vào chuỗi giá trị toàn cầu, chú trọng
phát triển thị trường xuất khẩu song song với phát triển thị trường nội địa.
4- Một số luận điểm cần được tiếp tục làm rõ hơn trong quá trình
đổi mới cơ cấu kinh tế ở Việt Nam hiện nay
-Đổi mới cơ cấu kinh tế thì điều kiện tiên quyết là cần đổi mới về thể chế
hành chính và kinh tế được nhìn nhận từ ba lĩnh vực cơ bản là luật pháp, bộ
máy điều hành và phương thức điều hành.
-Đổi mới cơ cấu kinh tế nhà nước thì vai trò của kinh tế nhà nước có còn
đóng vai trò chủ đạo hay là : kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng kinh tế tư
nhân và các thành phần kinh tế khác tạo thành nền tảng cơ bản trong nền
kinh tế quốc dân.
-Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng phát triển công nghiệp dựa
trên lợi thế nông nghiệp.
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng phải hướng phát triển về nông thôn