MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI LÊN VỀ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
CỦA VIỆT NAM, GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
Chu Hoàng Ngọc Bích
Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội
I. Một số vấn đề nổi lên trong 6 tháng đầu năm 2010
Trong 6 tháng đầu năm 2010, nền kinh tế VN đạt tốc độ tăng trưởng cao và
tương đối ổn định. Tốc độ tăng trưởng quý II đã tăng 6,2-6,4% so với 5,83% của
quý I và tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm đạt 6-6,1%. Trong khi đó chỉ số lạm
phát, nếu như những tháng đầu năm còn gây nhiều mối quan ngại cho nền kinh tế
thì trong các tháng gần đây đang được kiềm chế ở mức khá thấp. Tuy nhiên vẫn
còn một số bất ổn trong nền kinh tế ngắn, trung và dài hạn. Hoạt động kiểm soát
giá thông qua các biện pháp hành chính có thể gây tác hại cho tăng trưởng trong
trung và dài hạn. Thâm hụt thương mại tăng cao, đặc biệt là nhập siêu với Trung
Quốc. Thị trường vàng và bất động sản biến động khá mạnh, trong khi đó, thị
trường ngoại hối tuy ổn định, nhưng tín dụng bằng ngoại tệ đã tăng cao trong 6
tháng đầu năm. Công tác quản lý nợ công và nợ nước ngoài còn nhiều bất cập. Cơ
sở hạ tầng, nhất là hệ thống điện càng khiến các nhà đầu tư và người tiêu dùng hết
sức lo ngại về tính bền vững và ổn định của nó.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã tác động đến các ngành, lĩnh vực trong
nền kinh tế nước ta và tạo ra những điểm mạnh, yếu nhất định:
1. Xuất nhập khẩu:
Trong 6 tháng đầu năm 2010, tổng giá trị thâm hụt thương mại của Việt
Nam đã lên tới 6,7 tỷ USD, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
trong cùng kỳ. Sở dĩ có tình hình này là do Việt Nam đã xuất khẩu mạnh nhóm mặt
hàng đá quý và kim loại quý ( 850 triệu USD trong tháng 5/2010 và khoảng 350
triệu USD trong tháng 6/2010). Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2010, Việt
Nam đã xuất khẩu một lượng đá quý, kim loại quý và sản phẩm trị giá 1,343 tỷ
USD. Tuy nhiên, xét trên góc độ ổn định kinh tế vĩ mô, việc tính gộp kim ngạch
xuất khẩu mạnh đá quý và kim loại quý ( chủ yếu là vàng) sẽ phần nào che lấp đi
thời, Việt Nam đã giải ngân vốn FDI được khoảng 5,4 tỷ USD và quy mô giải ngân
vốn FDI tính bình quân tháng đã được ghi nhận vào khoảng 900 triệu USD/tháng.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam trong năm 2010 là
8,063.85 tỷ USD. Đây là kỷ lục mới về cam kết ODA cho Việt Nam với mức tăng
tới hơn 36% so với kỷ lục cũ năm 2009 (5,9 tỷ USD, đã bao gồm cam kết muộn
của Nhật Bản) và vượt ra ngoài dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước đó (dự
báo ODA năm 2010 chỉ tăng từ 10 - 15%). Trong số này, về phía các tổ chức phát
triển, Ngân hàng Thế giới (WB) là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam với gần 2,5 tỷ
USD; tiếp đến là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) với gần 1,5 tỷ USD. 15
quốc gia thuộc cộng đồng châu Âu (EU) tài trợ 1,082 tỷ USD, trong đó Pháp tiếp
tục là nhà tài trợ lớn nhất với 378,26 triệu USD. Về phía các quốc gia tài trợ trực
tiếp cho Việt Nam, Nhật Bản vẫn là quốc gia tài trợ quan trọng nhất, với 1,64 tỷ
USD; kế đến là Hàn Quốc 270 triệu USD, Mỹ 138 triệu USD Trong số hơn 8 tỷ
USD mà các nhà tài trợ cam kết, có 1,4 tỷ USD là viện trợ không hoàn lại (trong
đó có toàn bộ phần cam kết của Australia gần 100 triệu USD, Anh hơn 82 triệu
USD, Mỹ 138 triệu USD) và khoảng 6,6 tỷ USD là nguồn vốn vay ưu đãi.
4. Tài chính-ngân hàng, chứng khoán:
Thị trường ngoại hối tương đối ổn định từ tháng 3/2010 trở lại đây. Cung
cầu ngoại tệ trên thị trường cân bằng, tính thanh khoản ở mức cao, các tổ chức tín
dụng ( TCTD) cân đối được ngoại tệ và không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân
hàng Nhà nước, nhiều TCTD tiếp tục bán ngoại tệ cho Ngân hàng nhà nước do
lượng ngoại tệ mua được tăng lên. Tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại
luôn thấp hơn trần cho phép. Tỷ giá trên thị trường tự do thấp hơn tỷ giá giao dịch
của các ngân hàng thương mại. Thị trường ngoại tệ đang trong trạng thái dư cung.
Đối với thanh khoản của hoạt động huy động và cho vay ngoại tệ, chỉ tính riêng
ngoại tệ dư thừa đã được các ngân hàng thương mại thực hiện giao dịch hoán đổi
với Ngân hàng Nhà nước vào khoảng 600 triệu USD. Điều này cho thấy nguồn
ngoại tệ “ nhàn rỗi” của các NHTM tương đối dồi dào.
Trong những tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ tăng
cao trong khi tín dụng nội tệ lại tăng thấp. Cụ thể, cho vay bằng ngoại tệ tháng
nhiều vào các chính sách điều chỉnh và can thiệp vĩ mô của Chính phủ. Thoát khỏi
lạm phát cao của năm 2008 bằng những gói chính sách kiềm chế lạm phát, Chính
phủ tiếp tục đã có những biện pháp kịp thời trong năm 2009 để chống suy giảm và
phục hồi tăng trưởng. Các biện pháp kích cầu và ổn định vĩ mô đã đạt được những
kết quả bước đầu tương đối rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục
xem xét và cân nhắc để có những đối phó hợp lý và hiệu quả hơn. Tháng 4/2010 đã
ghi nhận nhiều thay đổi đáng kể liên quan tới diễn biến của các chỉ số kinh tế vĩ
mô trong giai đoạn phục hồi sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu. Kết quả tháng 4 cho thấy mặc dù những tiềm ẩn bất ổn vĩ mô như thâm hụt
thương mại, dự trữ ngoại hối suy giảm mạnh… chưa hoàn toàn được khắc phục
nhưng đã xuất hiên những dấu hiệu tích cực như lạm phát tháng 4 giảm tốc, căng
thẳng tỷ giá tạm thời giảm với khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá thị trường và tỷ
giá chính thức liên ngân hàng được thu hẹp đáng kể, thậm chí còn ở mức âm. Bối
cảnh kinh tế vĩ mô tháng 4 đã có nhiều thay đổi đáng kể: sự ổn định trong ngắn hạn
và trong trung hạn vẫn tiềm ẩn những rủi ro mang tính chu kỳ cho mục tiêu ổn định
kinh tế vĩ mô và nỗ lực đạt tăng trưởng kinh tế cao 6,5% trong năm 2010.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát là một trong những vấn đề trung
tâm của việc điều hành chính sách hiện nay, đặc biệt là trong ngắn hạn, khi cần
một sự đánh đổi rõ rệt giữa hai mục tiêu này. Những điều chỉnh mục tiêu chính
sách của chính phủ: ưu tiên chống lạm phát và giảm các mất cân đối vĩ mô vào
năm 2008, chuyển sang kích cầu để chống suy giảm và phục hồi tăng trưởng vào
năm 2009, và hiện nay có những điều chỉnh để đề phòng tái lạm phát và ngăn ngừa
các mất cân đối vĩ mô gia tăng là khá phù hợp và kịp thời. Những công cụ chính
sách mà Chính phủ thực hiện là hợp lí. Trong ngắn hạn có ba công cụ chính sách
quan trọng có tác động mạnh đến tăng trưởng và lạm phát là chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa và chính sách tỉ giá. Ba chính sách này có phạm vi tác động và
tốc độ truyền tải đến kết quả tăng trưởng và lạm phát tương đối khác nhau, đây
cũng chính là điều cần lưu ý khi xây dựng, thực hiện và phân tích chính sách. Sự
phối hợp và tính nhất quán của ba chính sách này cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả
cuối cùng. Tuy nhiên cần đặc biệt lưu ý rằng sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm
tăng trưởng tiềm năng gây áp lực lên các yếu tố chi phí đẩy từ phía tổng cung. Một
góc độ khác cần phải lưu ý rằng khi xây dựng, thực hiện và phân tích chính sách
tiền tệ, nên có sự khác biệt trong tác động của chính sách này giữa các doanh
nghiệp tùy theo mức độ thâm dụng vốn và sử dụng đòn bẩy tài chính của họ.
2.Chính sách tài khóa:
Chính sách tài khóa bao hàm chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. Việc
sử dụng chính sách tài khóa để kích thích giúp nền kinh tế thoát khỏi suy giảm sẽ
trở nên cần thiết khi chính sách tiền tệ đã đi đến giới hạn, bao gồm ngưỡng kỹ
thuật và ngưỡng tác động. Về ngưỡng kỹ thuật của chính sách tiền tệ, không thể hạ
lãi suất xuống dưới tối thiểu ( 0% với các nước phát triển, Việt Nam: 6-7%). Về
mặt tác động, ngưỡng này sẽ bị giới hạn bởi những hạn chế về đầu ra sản phẩm của
doanh nghiệp: cho dù lãi suất có xuống đi nữa, song nhiều doanh nghiệp vẫn không
vay do không có đầu ra. Trong bối cảnh đó, kích cầu qua ngân sách, bao gồm việc
tăng chi đầu tư vào hạ tầng cơ sở với sản phẩm đầu ra được Nhà nước “bao tiêu”,
hay tăng chi thường xuyên hoặc giảm thuế giúp kích thích tiêu dùng tạo đầu ra cho
doanh nghiệp là rất cần thiết để phối hợp với chính sách tiền tệ giúp chặn đà suy
giảm của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong điều kiện thông thường khi kinh tế đã bắt
đầu phục hồi, có một điểm khác biệt quan trọng ở Việt Nam cần được chú ý đối
với việc hoạch định chính sách: do hạ tầng cơ sở, nguồn nhân lực có trình độ và tay
nghề ở Việt Nam còn rất thiếu nên mặc dù các khoản chi tiêu và đầu tư công của
Việt Nam vào các lĩnh vực này có thể gây ra hiệu ứng đẩy ra trong ngắn hạn đối
với đầu tư tư nhân do lấy đi một phần vốn đầu tư trên thị trường vốn nhưng trong
trung và dài hạn, lại tạo ra hiệu ứng kéo vào do giúp giải quyết các điểm nghẽn của
tăng trưởng về hạ tầng cơ sở và nguồn nhân lực. Bởi vậy cần tiếp tục đẩy mạnh
đầu tư công vào lĩnh vực này trong năm 2010 và các năm tiếp theo, để có thể hỗ
trợ chính sách tiền tệ trong việc chống suy giảm trong ngắn hạn và tạo tiền đề tăng
trưởng cao trong dài hạn. Một điều cần lưu ý khi xây dựng, thực hiện và phân tích
chính sách tài khóa, chúng ta cần phải có một khoảng thời gian thích đáng để thiết
kế một cách kỹ càng và đưa vào thực hiện đúng thời điểm, đúng đối tượng, nhất là
các chính sách về đầu tư công.
Tình hình kinh tế thế giới đang dần phục hồi nhưng còn mong manh và tiềm
ẩn nhiều rủi ro ở nhiều khu vực quan trọng nên cần phải có sự theo dõi liên tục và
sát sao đối với tình hình và bối cảnh thế giới để có thể có những điều chỉnh và đối
phó kịp thời. Phối hợp chính sách theo một định hướng tổng thể chung (dưới dạng
gói chính sách) là rất quan trọng. Trong thiết kế chính sách cần xác định rõ các tác
động qua lại của các chính sách đối với các cân đối vĩ mô, đảm bảo cho các chính
sách có tác động cùng một hướng và tính tới các tác động phụ ngoài mong muốn.
Cần xác định các ngưỡng tương đối của chúng để có thể kết hợp các chính sách
nhằm tác động tích cực theo cùng một hướng. Đồng thời, cần có tư duy thiết kế
chính sách đồng bộ để trong giai đoạn phục hồi tăng trưởng tốt hơn có thể giải
quyết cả hai mục tiêu này.
- Kiềm chế lạm phát không chỉ dựa vào các yếu tố có tác động trực tiếp lên
tổng cầu mà còn phải xem xét các yếu tố thuộc về phần cung và tình hình của thị
trường lao động.
- Việc đảm bảo tính giải trình, minh bạch cũng như tính thống nhất trong
chính sách có vai trò rất quan trọng, tránh các cú “ sốc”, và do đó tạo niềm tin cho
nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh. Cần thiết lập môi trường kinh doanh lành
mạnh, có tính tiên liệu được, tạo ra sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư cả bên ngoài
lẫn bên trong.
- Nên xem xét giảm thiểu dần sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính,
đặc biệt là các biện pháp can thiệp của Ngân hàng nhà nước. Áp dụng chính sách tỉ
giá uyển chuyển theo hướng mở biên độ, không ngại chuyện phá giá đồng tiền.
Mục tiêu quan trọng hơn cả là đảm bảo giải quyết và cân đối các căng thẳng về
cung cầu trên thị trường ngoại hối, tạo ra những thuận lợi về giao dịch và thanh
toán cho các doanh nghiệp, giảm các chi phí giao dịch không cần thiết.
- Nên xem xét đối phó với các xu hướng gia tăng tiêu dùng hàng nhập khẩu
xa xỉ đã làm thâm hụt thương mại tiếp tục trở thành căn bệnh dai dẳng. Tạm thời
cần phải áp dụng các hàng rào thương mại và kỹ thuật để hạn chế nhập siêu đối với
một số mặt hàng xa xỉ.
- Về trung hạn và dài hạn, cần xem xét đẩy mạnh chiến lược tái cơ cấu hàng
- Tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong mùa hè, bảo đảm
vệ sinh an toàn thực phẩm.