THAM LUẬN ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VÊ TÌNH HÌNH KINH TẾ
THẾ GIỚI, KHU VỰC SAU KHỦNG HOẢNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM"
Lê Văn Được
Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Công thương
I. Tình hình kinh tế thế giới và khu vực Châu Á sau khủng khoảng nợ
công đến nay
1. Tình hình kinh tế của các nước sau khủng khoảng
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ Hoa Kỳ năm 2008 và lan ra Châu
Âu, đã để lại những hậu quả nặng nề trong cán cân tài khoá của nhiều quốc gia, với
việc thực hiện các gói kích thích kinh tế khổng lồ. Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao
tháng 3 năm 2010, ngay khi các gói kích thích kinh tế đang được thu hẹp dần, tỉ lệ
nợ công dự kiến cũng chiếm đến 110 % GDP vào cuối năm 2014, cao hơn nhiều so
với mức 70% của năm 2007. Giải quyết thách thức về nợ công là một chính sách
ưu tiên trong ngắn hạn, để ổn định niềm tin của dân chúng vào sự phục hồi kinh tế
1
.
Ngày 01 tháng 01 năm 2001, Hy Lạp trở thành thành viên thứ 12 của Liên
minh Châu Âu (EU), sau khi đã nỗ lực giảm mạnh lạm phát và lãi suất, để bắt đầu
sử dụng đồng euro. Tuy nhiên, sau lễ hội Olympics năm 2004, Hy Lạp đã phải
thực hiện rất nhiều chính sách thắt lưng buộc bụng và tăng thuế, để đáp ứng yêu
cầu của các nước khu vực đồng euro là thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP. Kết quả,
thâm hụt ngân sách năm 2009 của Hy lạp là 12,7% GDP, tỉ lệ nợ công lên đến
120% GDP, nên Hy Lạp đã phải cầu cứu EU, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) giúp đỡ.
Ngày 9 tháng 5 năm 2010, IMF đã chấp thuận cho Hy Lạp vay 30 tỉ euro trong 3
năm, trong gói cứu trợ trị giá 110 tỉ euro (tương đương 145 tỉ đôla) của IMF và EU.
Cùng với Hy Lạp, Chính phủ các nước Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Ai Len cũng đã đưa ra những kế hoạch thắt chặt ngân sách, nhằm đưa thâm hụt
ngân sách về mức dưới 3% GDP, như quy định trong Hiệp ước Maastricht. Một kế
Nợ/GDP
2010
(%)
Nợ nuớc
ngoài (%
tổng nợ)
Nợ ngắn
hạn
(%GDP)
Tài khoản
vãng lai 2010
(%GDP)
Hy Lạp -122
124.9
77.5
20.8
-10
Bồ Đào Nha -80
84.6
73.8
22.6
-6
Anh -129
80.3
22.1
3.3
-2
Mỹ -125
93.6
26.4
8.3
-2.6
Việt Nam
49
về giảm thâm hụt ngân sách xuống chỉ còn 30 tỉ Euro trong vòng 3 năm tới, thông
qua việc cắt giảm tiền công, trợ cấp, phúc lợi xã hội, giảm bớt các chương trình xã
hội và tăng thuế giá trị gia tăng.
- Ngày 26/5/2010, Tây Ban Nha đã công bố cắt giảm 80 tỉ Euro trong kế
hoạch chi ngân sách, thông qua việc giảm bớt 13 ngàn việc làm trong lĩnh vực dịch
vụ công, giảm lương của các nhân viên nhà nước đi 5%. Việc cấp 2500 Euro cho
các cặp bố mẹ chấp nhận sinh con để ngăn chặn xu hướng giảm dân số cũng bị
hoãn lại.
- Bồ Đào Nha đã quyết định không tăng tiền lương và tiền công trong lĩnh
vực công, đồng thời thông qua việc tăng thuế VAT để giảm 20 tỉ USD từ thâm hụt
ngân sách.
- Chính phủ Italia cũng đưa ra các biện pháp nhằm cắt giảm 24 tỉ euro trong
chi tiêu Chính phủ, từ nay đến năm 2012, bao gồm giảm việc làm trong lĩnh vực
dịch vụ công, giảm lương, kéo dài độ tuổi làm việc trước khi về hưu và những cắt
giảm khác trong hệ thống y tế cộng đồng.
- Pháp có kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách từ 8% GDP xuống còn 3%
GDP vào năm 2012. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được, khi kéo dài tuổi làm việc
của nhân viên thuộc khu vực công, giảm lương và các chi phí cho hệ thống bảo
tàng, công trình công, giảm 10% chi phí quản lí hành chính.
- Chính phủ Đức lập kế hoạch tiết kiệm khoảng 80 tỉ Euro, trong thời gian
2011-2014 với các biện pháp như : giảm 30 tỉ euro cho phúc lợi xã hội, giảm 15
ngàn việc làm trong lĩnh vực công. Ngoài ra, hi vọng giảm được 5,5 tỉ Euro, thông
qua việc cắt giảm trợ cấp và giảm lực lượng quân đội khoảng 40.000 người.
II. Ảnh hưởng của khủng hoảng và nợ công lên các hoạt động kinh tế
1. Ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại quốc tế :
Cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và khả năng lan rộng tại EU đã có tác
động tiêu cực đối với thương mại quốc tế, nhất là trong bối cảnh sức mua của các
thị trường vẫn còn thấp hơn mức trước khủng hoảng tài chính 2008.
- Thương mại giữa EU- Hoa Kỳ
euro dự kiến sẽ giảm, so với hiện nay trong 1-2 tháng tới sau đó ổn định dần.
Trung Quốc lo ngại việc tăng giá đồng NDT sẽ gây tác động tiêu cực tới
hoạt động xuất khẩu. Có nghiên cứu chỉ ra rằng, GDP của Trung Quốc sẽ giảm
0,89% nếu NDT tăng giá 10% và giảm 2,15% nếu NDT tăng giá 20%. Tuy nhiên,
không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ có những điều chỉnh thích hợp với mức
tăng từ 3-4% nhằm xoa dịu Mỹ và phương Tây vào những thời điểm phù hợp.
Cùng với đà phục hồi nhẹ của kinh tế Mỹ, sự phục hồi mạnh hơn ở các nền
kinh tế Đông Á và triển vọng tăng giá đồng Nhân dân tệ, Chính phủ một số nước
đã có những điều chỉnh tăng giá đồng nội tệ so với đồng đôla Mỹ. Trong tháng
3/2010, đồng đôla Ôxtrâylia đã tăng 4%, đồng ringgit Malaixia tăng 6%, đồng won
Hàn Quốc tăng 5%, đồng rupee Ấn Độ tăng 4%, đồng yên Nhật tăng 18,6%, đồng
bạt Thái tăng 5,5%, đồng peso Phillippines tăng 3,7%, đồng đôla Singapore tăng
2,2% và đồng rupiah Indonesia tăng 2,2%, đồng tiền nhiều nước tăng nhẹ 0,5%
(trừ đồng Việt Nam giảm 12,8% tương ứng). Xu hướng tăng giá đồng nội tệ là một
phần trong chủ trương thắt chặt hơn chính sách tiền tệ, góp phần giảm sức ép lạm
phát khi kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi nhanh.
III. Đánh giá, nhận định về những giải pháp ứng phó và dự báo diễn
biến, mức độ ảnh hưởng lan toả tiếp theo trong thời gian tới :
Cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp đã làm trầm trọng thêm tác động
của cuộc kinh tế toàn cầu, xuất phát từ Hoa Kỳ năm 2008 và lan ra thế giới. Hầu
quả nặng nề là thâm hụt trong cán cân tài khoá của nhiều quốc gia, sau khi thực
hiện các gói kích thích kinh tế khổng lồ trong thời gian qua. Thậm chí khi các gói
kích thích kinh tế đang được thu hẹp dần, thì tỉ lệ nợ công dự kiến cũng sẽ chiếm
đến 110 % GDP vào cuối năm 2014, cao hơn nhiều so với mức chỉ 70% của năm
2007. Giải quyết thách thức nợ công là một ưu tiên chính sách then chốt trong ngắn
hạn, vì những lo ngại về tình hình tài chính công có thể xói mòn niềm tin vào sự
phục hồi kinh tế
2
.
Các biện pháp đối phó với lạm phát
chính sách và tạo dựng lòng tin vào chính sách;
- Đưa tỉ lệ lạm phát ở mức mong muốn trở thành một mục tiêu chính sách, từ
đó có các giải pháp mạnh để thực hiện;
- Giám sát và thông tin thường xuyên về lạm phát;
- Kết hợp linh hoạt giữa chính sách tiền tệ và tài khoá để kiểm soát lạm phát;
- Tiếp tục thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, kể cả
trong nước và xuất khẩu;
- Kiểm soát chặt chẽ hoạt động đầu tư bảo đảm hiệu quả, nâng cao năng lực
cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng;
- Thực hành tiết kiệm trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội;
Các giải pháp trên cần được triển khai một cách đồng bộ, tạo hậu thuẫn cho
nhau nhằm đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát.
IV. Những diễn biến mới của kinh tế thế giới sau khủng hoảng nợ công
tác động đến kinh tế Việt Nam :
1. Một số nét đánh giá tổng quan, yêu cầu tái cấu trúc kinh tế của Việt Nam
Kinh tế Việt Nam đã hội nhập khá sâu vào kinh tế thế giới, thể hiện qua tỉ lệ
xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chiếm khá cao trong
GDP. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng
khoảng nợ của Hy Lạp gần đây, đã tác động không nhỏ tới kinh tế nước ta, mà thấy
rõ nhất là sự giảm sút trong hoạt động xuất nhập khẩu, trong thu hút vốn đầu tư
trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam. Đồng thời, khủng hoảng nợ
công của Hy Lạp cũng là một bài học cần nghiên cứu, phân tích để nhìn lại vấn đề
nợ công và mô hình tăng trưởng kinh tế.
Dù Hy Lạp không phải là một nền kinh tế lớn ở châu Âu và quan hệ thương
mại với Việt Nam không lớn, nhưng Việt Nam sẽ chịu tác động gián tiếp nếu cuộc
khủng hoảng này nổ ra, bởi nó sẽ làm chậm lại đà phục hồi của kinh tế toàn cầu và
đặc biệt khu vực châu Âu, nơi có quan hệ thương mại và đầu tư khá lớn vào Việt
Nam.
Đối với nước ta, dù hiện tại tỉ lệ nợ công/GDP vẫn ở mức an toàn (dưới
50%), nhưng tỉ lệ này có xu hướng tăng nhanh tới mức giới hạn an toàn 50%. Tuy
sẽ có thặng dư khoảng 2,6 tỉ USD, cán cân vãng lai thâm hụt tới 9,1 tỉ USD (năm 2009
khoảng 8 tỉ USD). Nguyên nhân chủ yếu là do thâm hụt cán cân thương mại và dịch vụ
tăng hơn, tương ứng khoảng 9,5 tỉ USD và 2,6 tỉ USD; kiều hối tiếp tục giảm và chỉ còn
khoảng 6,8 tỉ USD. Bù đắp cho mức thâm hụt trên, cán cân vốn thặng dư 11,7 tỉ USD.
Trong con số này, đáng chú ý là đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) được cải thiện cùng
với sự phục hồi của thị trường chứng khoán, đạt khoảng 1,5 tỉ USD (năm 2009 chỉ đạt
0,1 tỉ USD).
2.3. Dự báo của ADB :
Với chính sách tài khoá và tiền tệ thắt chặt, nhằm đạt mục tiêu hạn chế thâm hụt
tài khoá 8,3% GDP và tăng trưởng tín dụng 25%, Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng
GDP 6,5% trong năm 2010 và 6,8% vào năm 2011. Lạm phát trung bình dự kiến tăng
tương ứng 10% năm 2010 và 8% năm 2011. Tuy nhiên, ADB cũng nhận định, các chính
sách kích thích kinh tế của Việt Nam cũng đưa đến những nguy cơ tổn thương ở tầm vĩ
mô, đặc biệt là áp lực lên VND và lạm phát. Qua đó ADB đưa ra khuyến nghị Chính phủ
Việt Nam cần thắt chặt chính sách tiền tệ và cải thiện hiệu quả của tăng trưởng kinh tế
nhằm đảm bảo mức tăng trưởng bền vững.
2.4. Dự báo của Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
của Liên hợp quốc (ESCAP) :
ESCAP vừa đưa ra dự báo về tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2010 là
5,8%, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu có khả năng đạt được mà Chính phủ đề
ra, cũng như so với dự báo của WB và ADB. ESCAP cho rằng, Việt Nam đang
phục hồi theo hình chữ V, song nguy cơ bất ổn vĩ mô vẫn đang tiềm ẩn, nhất là khả
năng tái lạm pháp. Vì vậy, Việt Nam nên tập trung vào kiểm soát tốt lạm phát, vì
có vậy thì Việt Nam có cơ sở để tăng trưởng ổn định và lành mạnh. ESCAP còn
khuyến cáo "Ổn định kinh tế vĩ mô là điều quan trọng, nhưng một vấn đề khác
quan trọng không kém, đó là đã đến lúc phải làm sao để biến các dấu hiệu phục hồi
thành phát triển bền vững". Đây là câu chuyện không chỉ của Việt Nam, mà còn
của tất cả các nền kinh tế trong khu vực Châu Á.
2.5. Dự báo của tác giả
Tình hình 6 tháng cuối năm kinh tế nước ta còn đối mặt thêm với một số khó
chung, sẽ ảnh hưởng tới tiến độ giải ngân, nhiều khả năng chậm hơn so với kế
hoạch.
- Về tỉ giá
Đồng euro giảm giá, đồng nghĩa với việc các đồng tiền khác lên giá, là một
xu hướng khó có thể tránh khỏi, đặc biệt là đồng NDT. Tỷ giá với VND cũng sẽ
khá ổn định, sức thanh toán của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ duy trì tốt. Tuy
nhiên, sẽ xuất hiện xu thế tăng nhập khẩu, gây nhập siêu.
2. Tình hình sản xuất công nghiệp
Trong năm 2010, cùng với việc triển khai mạnh mẽ các biện pháp ổn
định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát của Chính phủ, các ngành công nghiệp
vẫn duy trì được đà tăng trưởng, góp phần đưa giá trị sản xuất công nghiệp toàn
ngành tăng dần qua các tháng và 6 tháng đã đạt mức 13,6%, cao hơn mục tiêu năm
đề ra (12%), đảm bảo cân đối cung cầu những sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, trước sự biến đổi khí hậu khó lường, hạn hán kéo dài, các hồ thuỷ điện
thiếu nước, trong khi nhu cầu phụ tải tăng cao dần do nền kinh tế dần phục hồi, nên
trong những tháng mùa khô 2010 (từ tháng 4 đến tháng 6) khả năng thiếu điện cho
sản xuất và sinh hoạt ở mức cao. Xuất khẩu dầu thô sẽ tiếp tục giảm cho với cùng
kỳ năm ngoái để cân đối cho đầu vào của nhà máy lọc dầu Dung Quất, tuy nhiên,
điều này sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cán cân thương mại do kim ngạch xuất
khẩu dầu thô giảm cũng tương ứng với kim ngạch nhập khẩu xăng giảm. Các nhóm
ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu như dệt may, da giày, linh kiện điện tử, nhựa
sẽ tiếp tục đạt mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tốt. Tuy nhiên, nếu các cơ
quan nhà nước không nhanh chóng phối hợp để thúc đẩy việc giải ngân vốn theo
Quyết định 2213/QĐ-TTg, các sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp sẽ khó đạt
được mức tăng trưởng như mục tiêu chính sách đặt ra.
Như vậy có thể đánh giá, tình hình sản xuất công nghiệp không chịu tác
động mạnh trực tiếp bởi vấn đề nợ công, mà chịu tác động gián tiếp qua hoạt động
xuất khẩu và đầu tư. Tiêu thụ hàng hoá qua xuất khẩu giảm hơn trước khủng hoảng
đã được bù đắp phần lớn qua đẩy mạnh tiêu thụ trên thị trường trong nước. Cũng
nhờ đó tác động ngược lại các nhà sản xuất phải tìm cách chuyển đổi cơ cấu sản
Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế của nước ta còn dựa quá nhiều vào
đầu tư, trong đó có đầu tư từ bên ngoài. Bên cạnh đó, một số yếu tố về tài chính chưa
thực sự lành mạnh như : thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài, quan lý chi tiêu công
còn yếu. Chỉ có tái cấu trúc nền kinh tế và cải thiện chất lượng tăng trưởng mới
giúp Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm sắp tới.
Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam (hiện vào khoảng 43-49%GDP)
3
vẫn nằm
trong giới hạn cho phép và thấp hơn so với các nước. Tuy nhiên, tỉ lệ này có xu
hướng tăng dần, có thể tới sát mức trần cho phép đặt ra cho Chính phủ cần rà soát
lại việc quản lí cán cân ngân sách và các cán cân vĩ mô khác, nhằm giảm áp lực đối
với nợ công. Điều này đặt ra trên cơ sở nhận biết các vấn đề sau :
- Thâm hụt thương mại của Việt Nam đã kéo dài nhiều năm, 6 tháng năm
2010 là…, dự báo cả năm khoảng 15-15,5 tỉ USD. Số thâm hụt này được bù đắp
bằng nguồn vốn từ bên ngoài, trong đó có ODA, vay thương mại, phát hành trái
phiếu chính phủ quốc tế. Điều này khiến cho tỉ lệ nợ công ngày càng tăng nhanh và
sẽ nhanh chóng chạm mức giới hạn an toàn 50%.
3
Số liệu thống kê phía Việt Nam công bố thấp hơn so với tính toán của UNCTAD do khái niệm
về nợ công có sự khác biệt. Theo Bộ Tài chính Việt Nam, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ
được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Còn theo Hệ thống quản lý nợ và phân
tích tài chính của Hội nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công còn bao
gồm các nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả
doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền.
- Đầu tư công của Việt Nam tăng mạnh, cùng với các chính sách kích cầu
nhằm lấy lại đà tăng trưởng sau khủng hoảng. Ngoài ra, sắp tới Chính phủ có
chương trình triển khai nhiều dự án quy mô rất lớn, như mở rộng Thủ đô Hà Nội,
xây dựng nhà máy điện hạt nhân, dự án đường cao tốc Bắc Nam…nên nhu cầu vốn
vốn ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, từ đó có kế hoạch bố trí đủ vốn
cho các dự án trọng điểm, dự án cấp bách phải hoàn thành trong năm 2010.
Tăng cường quản lí hoạt động đầu tư có sử dụng vốn ngân sách và vốn vay
nước ngoài. Rà soát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn một cách đặc biệt sát sao, nếu
cần thiết có thể thuê tư vấn quản lí tài chính quốc tế đối với các dự án lớn.
- Về quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài
Thận trọng đối với các dòng vốn nóng có khả năng đổ vào Việt Nam khi
hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính châu Âu trở nên bất ổn định. Rà soát lại
hiệu quả của các dự án đầu tư, đặc biệt là nhóm sử dụng nhiều nguồn vốn từ nước
ngoài để tránh lãng phí
Thực hiện tích cực và đồng bộ các giải pháp được nêu trong Nghị quyết số
22/NQ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2010 về việc triển khai thực hiện Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển
doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng
lực quản lý, phát triển khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối
liên kết của loại doanh nghiệp này với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu
quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất là hoạt
động khai thác, chế tạo, gia công sản phẩm hàng hoá.
- Về đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại
Theo dõi thường xuyên và thu thập đầy đủ thông tin về tình hình cung cầu
các mặt hàng trọng yếu trên thị trường thế giới, những mặt hàng có khối lượng
hàng hoá lớn, những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh; đặc biệt phải đón đầu
được những thị trường lớn đang hồi phục, để tăng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu.
Kiểm soát chặt chẽ cơ cấu hàng nhập khẩu; đẩy nhanh quá trình phát triển các
ngành công nghiệp phụ trợ; thực hiện hiệu quả các giải pháp kỹ thuật hạn chế nhập
khẩu đối với các hàng hoá xa xỉ, để hạn chế thâm hụt thương mại.
- Về hạn chế thâm hụt thương mại
Tiếp tục đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc vào thị trường
EU, để hạn chế tác động từ sự suy giảm sức mua của thị trường này đối với hoạt
động xuất khẩu. Đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc điều chỉnh cơ cấu hàng xuất
- Mọi lực lượng sản xuất phải được phát huy hết năng lực
- Quan hệ sản xuất đáp ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất
- Hiệu quả nền kinh tế được gia tăng; tự chủ, chủ động được những gì là
quan trọng để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững
- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước bằng đường
lối, chính sách và pháp luật.