Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 1
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 2 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
1.1. Khái niệm và nguyên tắc kinh doanh chứng khoán
1.1.1. Khái niệm
Kinh doanh chứng khoán là những dịch vụ do tổ chức kinh doanh chứng khoán cung
cấp cho khách hàng bao gồm: mua bán chứng khoán, báo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý
tài sản, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán.
1.1.2. Các điều kiện kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán dựa trên các nhóm điều kiện chủ yếu:
- Nhóm nguyên tắc tài chính
+ Có năng lực tài chính (có đủ vốn theo quy định của pháp luật, cơ cấu vốn hợp lý),
đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết với khách hàng và đủ năng lực tài chính để giải quyết
những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh.
+ Cơ cấu tài chính hợp lý, có khả năng thanh khoản và có chất lượng tốt để thực hiện
kinh doanh với hiệu quả cao.
+ Thực hiện chế độ tài chính theo quy định của nhà nước (thực hiện nghĩa vụ tài chính
với nhà nước, tuân thủ các quy định về tài chính theo pháp luật và thực hiện báo cáo tài chính
đầy đủ trung thực)
phong phú liên quan đến kinh doanh tiền tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động kinh
doanh khác trong lĩnh vực tài chính.
Mô hình này có ưu điểm và hạn chế sau:
* Ưu điểm
- NHTM kinh doanh nhiều lĩnh vực nên có thể giảm bớt được rủi ro hoạt động kinh
doanh chung, có khả năng chịu được các biến động lớn trên thị trường chứng khoán.
- NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ có lịch sử lâu đời, có
thế mạnh về tài chính và chuyên môn trong lĩnh vực tài chính. Do đó cho phép các NHTM
tham gia kinh doanh chứng khoán sẽ tận dụng đựơc thế mạnh của ngân hàng, tạo động lực cho
sự phát triển của thị trường chứng khoán.
* Hạn chế
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 4
- Do thế mạnh về tài chính, chuyên môn, nên NHTM tham gia kinh doanh chứng
khoán có thể gây lũng đoạn thị trường, trong trường hợp quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng
khoán và quản trị điều hành thị trường còn yếu.
- Do tham gia nhiều lĩnh vực sẽ làm giảm tính chuyên môn hoá, khả năng thích ứng và
linh hoạt kém.
- Trong trường hợp thị trường chứng khoán có nhiều rủi ro. Ngân hàng có xu hướng
bảo thủ rút khỏi thị trường chứng khoán để tập trung kinh doanh tiền tệ.
Thứ hai: Mô hình công ty chuyên doanh: Theo mô hình này, kinh doanh chứng khoán
do các công ty chứng khoán độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận.
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng: giảm rủi ro cho hệ thống
ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanh chuyên môn hoá, thúc đẩy
sự phát triển thị trường chứng khoán.
Ngày nay với sự phát triển của thị trương chứng khoán, để tận dụng thế mạnh của lĩnh
vưc tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành mô hình công ty đa năng một
phần – các NHTM thành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán.
1.2.2. Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đầu tư
luật hoặc trái với điều lệ quỹ.
+ Báo cáo UBNDCKNN khi phát hiện công ty quản lý quỹ tiến hành các hoạt động vi
phạm pháp luật hoặc trái với điều lệ quỹ.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên, đòi hỏi ngân hàng giám sát phải quản lý tài
sản của Quỹ tách biệt với các tài sản khác của ngân hàng, ngân hàng giám sát được hưởng phí
theo quy định của tiền lệ quỹ.
- Nhà đầu tư: là người trực tiếp góp vốn vào quỹ thông qua mua chứng chỉ quỹ đầu tư.
Họ có quyền hưởng lợi từ các hoạt động đầu tư của quỹ và yêu cầu công ty quản lý quỹ thực
hiện việc đầu tư theo đúng điều lệ quỹ. Tuy nhiên, nhà đầu tư không được phép trực tiếp thực
hiện quyền, nghĩa vụ đối với tài sản của quỹ.
b. Công ty quản lý quỹ
Công ty quản lý quỹ là công ty thực hiện việc điêu hành, quản lý các quỹ đầu tư phù
hợp với điều lệ quỹ và làm tăng giá trị tài sản quỹ.
Khách hàng của công ty quản lý quỹ thường là các nhà đầu tư có tổ chức: các quỹ đầu
tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính…chức năng của công ty quản lý Quỹ là thực hiện việc
đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng sao cho phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ mà khách
hàng đã lựac chọn.
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 6
1.2.3. Các chủ thể khác
Ngoài các chủ thể trên, tham gia kinh doanh chứng khoán còn có các chủ thể sau:
- Công ty lưu ký và thanh toán bù trừ: là công ty thực hiện cung cấp dịch vụ lưu ký và
thanh toán bù trừ cho các giao dịch trên thị trường chứng khoán.
- Ngân hàng thương mại: tham gia kinh doanh chứng khoán thông qua thực hiện các
nhiệm vụ: đầu tư chứng khoán, lưu ký, thanh toán trên thị trường chứng khoán.
- Các tổ chức trung gian tài chính khác: công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu…các
công ty này huy động vốn thông qua các nghiệp vụ kinh doanh đặc thù của nó (ví dụ: công ty
bảo hiểm huy động thông qua bán hợp đồng bảo hiểm, các quỹ hưu trí vốn do các thành viên
đóng góp theo định kỳ…) với số vốn huy động được các công ty này sẽ thực hiện đầu tư vào
Tuỳ vào quy mô đợi phát hành mà tổ chức thực hiện bảo lãnh phát hành có thể là một
hoặc một tổ hợp bao gồm nhiều nhà bảo lãnh. Nhà bảo lãnh phát hành là người đứng ra mua
hoặc chào bán chứng khoán của một nhà phát hành nh»m thực hiện phân phối chứng khoán.
+ Nhóm đại lý phân phối thường bao gồm các công ty chứng khoán tự doanh (dealers).
Thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh, công ty chứng khoán sẽ thực hiện các công việc chính sau:
- Chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành các thủ tục cần thết cho đợt phát hành.
- Thành lập tổ hợp bảo lãnh (nếu có)
- Định giá chứng khoán
- Phân phối chứng khoán
- Bình ổn giá chứng khoán sau đợt phát hành.
Việc bảo lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong những phương thức sau:
+ Cam kết chác chắn: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL cam kết sẽ mau toàn
bộ chứng khoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không.
+ Cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó TCBL thoả thuận là đại lý
cho TCPH, TCBL không cam kết bán bán toàn bộchứng khoán mà cam kết sẽ có gắng tối đa
để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho TCPH phần
còn lại.
+ Tất cả hoặc không: trong phương thức này, TCPH yêu cầu TCPL bán một số lượng
chứng khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ bỏ toàn bộ đợt phát hành.
+ Tối thiểu và tối đa: là phương thức trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố
gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh tất cả hoặc không. Theo phương thức này, TCPH yêu
cầu TCBL bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn). Vượt trên mức ấy, TCBL
được tự do chào bán chứng khoán đến mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 8
khoán bán được đạt tỉ lệ thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ. (xem chi
tiết chưng 3)
- Tư vấn: Tư vấn trong lĩnh vực chứng khoán là hoạt động phân tích, dự báo các dữ
liệu về lĩnh vực chứng khoán, từ đó đưa ra các lời khuyên cho khách hàng.
Các nghiệp vụ chủ yếu của quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm:
- Huy động vốn: Tuỳ vào loại hình quỹ đầu tư và hợp đống uỷ thác với công ty quản
lý quỹ, quỹ đầu tư sẽ lựa chọn hình thức để huy động vốn. Đối với quỹ đóng, quỹ thực hiện
huy động vốn một lần khi thành lập quỹ và đầu tư vốn đã huy động được trong suốt thời gian
hoạt động của quỹ. Đối với quỹ mở, vốn của quỹ có thể huy động thêm vốn khi cần thiết.
Vốn của quỹ được huy động thông qua hai hình thức là phát hành chứng chỉ quỹ hoặc
cổ phiếu của quỹ và vay nợ. Tuy nhiên luật pháp các nước đều có hạn chế số lượng vay nợ của
quỹ. Thông thướng, quỹ chỉ được vay từ ngân hàng nhằm mục đích phục vụ cho các chi phí
phát sinh tức thời hoặc để hỗ trợ các danh mục đầu tư có nhu cầu vốn ngắn hạn.
- Đầu tư: Các quỹ đầu tư thực hiện đầu tư theo danh mục. Để xác định được một danh
mục đầu tư hiệu quả, các quỹ dựa vào số vốn huy động được, căn cứ vào mục tiêu đầu tư và
kết quả nghiên cứu thị trường, quỹ sẽ quyết định lựa chọn danh mục đầu tư và phân bổ vốn
vào các tài sản trong danh mục. Các quỹ đầu tư thường có quyết định đầu tư hiệu quả do các
công ty quản lý quỹ đều có các chuyên gia trong lĩnh vực phân tích và đầu tư tài chính.
c. Nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân và các định chế tài chính
khác
- Lưu ký chứng khoán: là hoạt động lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng
và giúp cho khách hàng thực hiện các quyền liên quan đế sở hữu chứng khoán.
- Thanh toán bù trừ: công ty sẽ căn cứ vào kết quả giao dịch để từ đó bù trừ các giao
dịch và xác định nghĩa vụ thanh toán cho các bên tham gia giao dịch.
- Đăng ký chứng khoán: công ty đăng ký các thông tin về chứng khoán và quyền sở
hữu chứng khoán của người nắm giữ chứng khoán.
- Nghiệp vụ của các nhà đầu tư có tổ chức và cá nhân khác: đây là đối tượng kinh
doanh bằng vốn của mính, đầu tư trên thị trường để kiếm lợi nhuận. Do đó nghiệp vụ chính
của các đối tượng này là phân tích thị trường và dựa vào mục tiêu đầu tư của mình để có quyết
định đầu tư nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
1.3.2. Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán
a. Môi trường phát lý
Đối với các nhà đầu tư, chứng khoán là đối tượng kinh doanh đặc biệt, việc định giá
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
+ Cung cầu trên thị trường: thị trường chứng khoán phát triển khi có nguồn hàng hoá
phong phú, đa dạng và có đông đảo các chủ thể tham gia mua bán.
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 11
+ Cơ sở hạ tầng thị trường: bao gồm hệ thống thông tin thị trường, hệ thống giao dịch,
hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ…thị trường phát triển khi cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ
sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện các giao dịch, giảm thiểu rủi ro hệ thống.
+ Sự hiểu biết của công chúng về thị trường chứng khoán : Thị trường chứng khoán là
thị trường bậc cao, các chủ thể tham gia thị trường nếu không am hiểu những kiến thức cơ bản
về TTCK thì dễ bị rủi ro. Thị trường sẽ thực sự năng động , hấp dẫn khi nhà đầu tư có sự hiểu
biết về chứng khoán và thị trường hấp dẫn khi nhà đầu tư có sự hiểu biết về chứng khoán và thị
trường chứng khoán.Vì vậy, sự hiểu biết về thị trường chứng khoán cũng là một trong những
nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh chứng khoán.
+ Quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán là vịêc quản lý và giám sát các hoạt
động phát hành, giao dịch, thanh toán đối với các chứng khoán. Việc quản lý này được chú
trọng ở khía cạnh lập pháp và hành pháp.
- Năng lực của chủ thể kinh doanh: Hoạt động kinh doanh chứng khoán muôn đạt
hiệu quả đòi hỏi bản thân chủ thể tham gia kinh doanh phải là người có kỹ năng phân tích tốt,
hiểu biết về lĩnh vực hành nghề. Chủ thể kinh doanh có năng lực chuyên môn, có đạo đức nghề
nghiệp, làm việc có trách nhiệm sẽ tạo được uy tín trên thị trường và với khách hàng, từ đó có
khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngược lại.
1.4. Đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng khoán.
1.4.1. Khái niệm và tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh chứng
khoán
a. Khái niệm: Bản chất của đạo đức nghề nghiệp nói chung là tính tin cậy Những
người làm việc trong một ngành nghề nhất định được khẳng định là có đạo đức nghề nghiệp có
nghĩa là phải có độ tin cậy, họ sử dụng quyền hạn do tính chất nghề nghiệp mà có phải mang
lại hiệu qủa tốt nhất cho xã hội. Như vậy đạo đức nghề nghiệp được thể hiện qua bốn khía
cạnh sau:
- Đạo đức nghề nghiệp sẽ góp phần xây dựng nên hình ảnh tốt đẹp của nhà kinh doanh
chứng khoán.
Đạo đức nghề KDCK góp phần tạo ra sự tin tưởng vào trình độ, đạo đức của người
KDCK. Thông qua đó tạo ra được uy tín và hình ảnh tốt đẹp cho khách hàng. Chính điều này
sẽ góp phần tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa người kinh doanh chứng khoán và khách hàng,
giữa những người kinh doanh chứng khoán với nhau. Từ đó tạo động lực cho sự phát triển của
ngành kinh doanh chứng khoán.
1.4.2. Chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 13
a. Đối với công ty thành viên
Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp của các công ty thành viên bao gồm:
- Chấp hành nghiêm pháp luật nhà nước, các quy chế, quy định của nghề KDCK.
- Phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu; Các thông tin cung cấp cho khách hàng
phải đảm bảo tính chính xác, kịp thời, công bằng. Tài sản của khách hàng phải được bảo quản
tách bạch với tài sản của công ty. Tránh sự xung đột về lợi ích giữa khách hàng và công ty
thành viên. Nếu có sự xung đột về lợi ích thì phải ưu tiên lợi ích của khách hàng trước, tránh
việc trục lợi từ khách hàng thông qua các nghiệp vụ.
- Phải chú tâm và cẩn trọng công việc: Công ty thành viên phải xây dựng quy trình
chuẩn hoạt động, phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ, tận tuỵ và có trách nhiệm đối với
công việc.
- Tình hình tài chính lành mạnh, có cơ cấu tổ chức hợp lý nhằm đảm bảo khả năng cung
ứng dịch vụ một cách hiệu quả cho khách hàng.
Ngoài ra công ty thành viên phải có sự phối hợp chặt chẽ với đồng nghiệp, với cơ quan
quản lý nhà nước và phối hợp trong toàn ngành chứng khoán nhằm đảm bảo hoạt động của các
công ty thành viên sẽ vì lợi ích chung của ngành chứng khoán và tuân thủ các quy định của
nhà nước.
b. Đối với các cá nhân tham gia thị trường
Tuỳ theo từng nghề mà đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp khác nhau. Nhìn chung yêu cầu
Tổng mức sinh lời = cổ tức (trái tức) ± lãi (lỗ) về vốn
(3) Ngoài các khoản thu nhập trên, khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư còn có thể nhận
được thu nhập từ chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu thực tế trên thị trường với giá quyền
mua chứng khoán mà nhà đầu tư được hưởng.
● Mức sinh lời tương đối
Mức sinh lời tương đối (Rt) phản ánh 1 đồng vốn đầu tư trong 1 năm mang lại bao
nhiêu thu nhập, nó là cơ sở để so sánh các khoản đầu tư khác nhau.
(Pt - P
0
) + D(hoặc C)
Rt =
P
0Trên thực tế để so sánh được mức sinh lời giữa các tài sản có thời gian đáo hạn khác
nhau, người ta thường sử dụng mức sinh lời theo năm. Nếu một tài sản có mức sinh lời
trong thời gian m tháng là Rm thì mức sinh lời năm (Rn) sẽ là:
Rn = (1 + Rm)
12/m
- 1
● Tổng mức sinh lời trong nhiều năm và mức sinh lời bình quân năm
Phần trên mới xác định các mức sinh lời trong 1 năm hoặc dưới 1 năm và quy đổi
thành năm. Trên thực tế, hoạt động đầu tư có thể kéo dài trong thời gian nhiều năm. Ví dụ:
đầu tư cổ phiếu dài hạn và cổ tức nhận được đem tái đầu tư và tiếp tục tạo ra mức sinh lời.
Gọi R1, R2, R3…, Rt là mức sinh lời mỗi năm trong thời gian đầu tư là t năm.
Tổng mức sinh lời (R
huống xảy ra.
E(r) = ∑ Pi Ri i =1 → n
Trong đó: - Pi là xác suất xảy ra của các tình huống i. (Tổng Pi = 100%)
- Ri là doanh lợi kì vọng tương ứng với các tình huống i.
2.1.2 Rủi ro và đo lường rủi ro đầu tư chứng khoán
2.1.2.1 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán
● Khái niệm rủi ro
Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, là khả năng xảy ra của những điều
không mong muốn và khi nó xảy ra thì mang lại những tổn thất. Khác với sự không chắc
chắn rủi ro có thể đo lường được.
Trong đầu tư chứng khoán, rủi ro được định nghĩa là khả năng hay xác suất xảy ra
những kết quả đầu tư ngoài dự kiến, hay cụ thể hơn rủi ro là khả năng làm cho mức sinh lợi
thực tế nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến (thấp hơn) ban đầu.
● Các loại rủi ro
Sự dao động của thu nhập, dao động của giá chứng khoán hay cổ tức (lãi suất) là
những yếu tố cấu thành rủi ro.
Rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống là những rủi ro do các yếu tố, các sự kiện nằm ngoài công ty, công
ty không thể kiểm soát được và nó có tác động rộng rãi đến toàn bộ thị trường, đến tất cả
các chứng khoán.
+ Rủi ro thị trường
Sự biến động giá chứng khoán do phản ứng của các nhà đầu tư trước các sự kiện
hữu hình / sự kiện thực tế (các sự kiện kinh tế chính trị xã hội…) xảy ra, hoặc các sự kiện
vô hình nảy sinh do yếu tố tâm lí, mặc dù tình hình của công ty/ tổ chức phát hành chứng
khoán vẫn không thay đổi. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện thực tế,
nhưng do tâm lí không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay phản ứng vượt quá các sự
kiện đó.
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
không hiệu quả thì có ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu, trái tức, cổ tức và tiền hoàn vốn cho
trái chủ. Thông thường một công ty có đòn bẩy tài chính cao thì mức độ rủi ro tài chính
càng cao.
+ Rủi ro thanh khoản
- Khối lượng CP ít → khó mua bán
- Khối lượng giao dịch bình quân thấp, giá giảm → khó bán
- Lưu kí chứng khoán ít → khó bán
2.1.2.2 Đo lường rủi ro
Trong tài chính, người ta thường sử dụng toán xác suất thống kê để đo lường rủi ro
trong mức sinh lời của 1 loại, hoặc 1 danh mục chứng khoán bởi các thước đo: phương sai
hoặc độ lệch chuẩn (căn bậc hai của phương sai).
Phương sai (kí hiệu Var hay σ
2
)
được tính theo công thức sau:
σ
2
= ∑ { Pi [Ri - E(r)]
2
} i =1→n
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 17
Trong đó: Pi là xác suất của trạng thái i
Ri là doanh lợi kì vọng ứng với từng trạng thái i
E(r) là doanh lợi kì vọng của chứng khoán
Độ lệch chuẩn (kí hiệu SD/ σ) = √ σ
- Môi trường chính trị xã hội.
- Môi trường pháp luật.
- Các điều kiện kinh tế vĩ mô: GDP, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất, tỉ giá, sức chi
tiêu (sức mua),…
+ Các dự đoán về tình hình kinh tế và xu hướng của thị trường: quan hệ giữa thực
trạng nền kinh tế với diễn biến chung của TTCK không phải lúc nào cũng diễn ra cùng
chiều và nếu có thì chúng có thể xảy ra theo các chiều hướng và trật tự khác nhau.
+ Diễn biến của chỉ số giá trên thị trường.
+ Diễn biến giao dịch: chênh lệch cung cầu, chênh lệch khối lượng giữa các mức giá,
tỉ lệ tham gia đặt lệnh,…
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 18
+ Hành vi của nhà đầu tư CK: có phải là nhà đầu tư theo lí trí, nhà đầu tư tích cực
hay thụ động, có phải là nhà đầu tư ngắn hạn,…
● Phân tích ngành
+ Ngành là gì?
Theo Porter, ngành là 1 nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tương
tự nhau, vì vậy cạnh tranh trực tiếp với nhau.
+ Lí do phải phân tích ngành:
+ Mục tiêu phân tích ngành:
+ Phương pháp phân tích ngành:
- Phân tích thị trường: định vị giai đoạn phát triển của ngành - mô hình vòng đời sản
phẩm.
Các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngành: nhà cung cấp, khách hàng hay
người tiêu dùng, hàng hóa và dịch vụ thay thế, sự đe dọa gia nhập thị trường, chính sách
đối với ngành của Chính phủ.
- Phân tích đối thủ cạnh tranh
● Phân tích doanh nghiệp
+ Mục tiêu:
- Không thấy rõ được nguyên nhân thay đổi của các chỉ tiêu tài chính
(2) Phương pháp tách đoạn: tách 1 chỉ tiêu tổng hợp thành nhiều chỉ tiêu cấu thành
bộ phận có mối quan hệ nhân quả.
Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
= x x
Vốn CSH Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH
2.2.1.2. Phân tích các chỉ tiêu tài chính
Phân tích các chỉ số tài chính sẽ cho thấy mối quan hệ đầy đủ ý nghĩa hơn giữa các
giá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính. Nếu như một con số riêng lẻ trong một báo cáo tài
chính không thực sự nói lên nhiều điều, thì một chỉ số tài chính riêng lẻ cũng có giá trị rất
thấp nếu chúng ta không xét nó trong mối tương quan với các chỉ số khác. Từ những chỉ số
được phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt động
của công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế, lĩnh vực ngành, các nhà cạnh
tranh chủ yếu trong phạm vi ngành, kết quả hoạt động trước đây của công ty.
♦ Nội dung phân tích:
Trên cơ sở hệ thống số liệu đã được phản ánh ở các báo cáo tài chính liên quan, để
đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp người ta thường tính toán và phân tích một số
các chỉ tiêu sau:
● Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh toán
Hệ số
thanh toán chung
=
Tổng giá trị tài sản
Tổng nợ
(1)
Hệ số thanh toán chung phản ánh 1 đồng nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài
=
TSLĐ và ĐTNH – hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
(4)
Hệ số thanh toán nhanh nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà lượng tiền sẵn có vào
ngày lập bảng cân đối kế toán và lượng tiền mà doanh nghiệp hi vọng có thể chuyển đổi
được từ đầu tư tài chính và các khoản phải thu để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn.
Nhìn chung các hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cao đem lại sự an toàn về tình hình tài
chính, đảm bảo doanh nghiệp luôn có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Ngược lại các hệ số thanh toán thấp thể hiện tiềm năng thanh toán kém. Tuy nhiên, 1 doanh
nghiệp có hệ số thanh toán nợ ngắn hạn quá cao cũng có mặt không tốt, do doanh nghiệp
tồn trữ khối lượng tiền quá lớn, một loại tài sản gần như không sinh lời.
● Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn và tình hình tài sản
Hệ số
nợ
=
Tổng nợ phải trả
Tổng nguồn vốn
(5)
Hệ số
tự tài trợ
=
Tổng vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
(6)
Nhìn chung hệ số tự tài trợ cao phản ánh doanh nghiệp rất chủ động về vốn trong kinh
n kho
=
Giá vốn hàng bán
Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân
(10)
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 21
Số ngày 1 vòng quay
hàng tồ
n kho
=
Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân
Giá trị hàng bán bình quân 1 ngày
(11)
Vòng quay hàng tồn kho phản ánh trong 1 kì, hàng tồn kho luân chuyển được bao
nhiêu lần. Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày từ khi mua nguyên vật
liệu, hàng hóa đến khi bán được hàng.
Nhìn chung, so với kì trước, vòng quay hàng tồn kho giảm, hay thời gian của 1 vòng
quay hàng tồn kho tăng, chứng tỏ hàng tồn kho luân chuyển chậm, vốn ứ đọng, kéo theo
nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng (trong điều kiện quy mô sản xuất kinh doanh không
thay đổi).
Nguyên nhân làm giảm vòng quay hàng tồn kho có thể do:
- Hiệu quả quản lí yếu tố đầu vào không tốt,
- Chu kì sản xuất kéo dài,
- Thành phẩm hàng hóa không bán được,
- Chính sách dự trữ vật tư, hàng hóa,
- Các nguyên nhân khách quan khác.
- Kết quả của những biện pháp nhằm duy trì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…
Lưu ý: cần thận trọng khi phân tích trong các trường hợp, vòng quay khoản phải thu
tăng song lại phản ánh xu hướng tài chính không tốt do các khoản phải thu giảm kéo theo
kết quả tiêu thụ giảm. Cần phân tích kĩ nguyên nhân để có cách nhìn nhận đánh giá chính
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 22
xác.
Kỳ thanh toán (phải trả)
bình quân
=
Phải trả bình quân
Doanh thu mua chịu bquân 1 ngày
(14)
Vòng quay
vốn lưu động
=
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân
(15)
● Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và phân phối thu nhập
Chỉ số lợi nhuận/ doanh thu
(doanh lợi)
=
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
(16)
Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(19)
Tài sản ròng một cổ
phiếu thường (NAV)
=
Tổng tài sản - Tổng nợ - Tổng mệnh giá CPUĐ
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(20)Cổ tức một cổ phiếu
thường (DPS/ DIV)
=
Thu nhập ròng - Cổ tức CPUĐ - Thu nhập giữ lại
Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành
(21)
Nhìn chung các chỉ số trên (16,17,18,19,20,21) càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp hoạt
động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Song để có cái nhìn toàn diện hơn, cần so sánh với
các chỉ số của chính doanh nghiệp ở các thời kì trước và so sánh với số trung bình của
ngành hoặc của các doanh nghiệp có điều kiện tương tự trong cùng ngành.
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 23
Hệ số thu nhập giữ lại là 1 yếu tố quan trọng nói lên sự tích lũy của công ty cho tương
lai, góp phần vào tốc độ phát triển của công ty sau này.
Hệ số giá / thu nhập
(P/E)
=
Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)
Thu nhập ròng của một cổ phiếu (EPS)
(25)
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư
phải trả giá cho mỗi đồng thu nhập.
Một công ty hiện tại có thu nhập chưa cao, nhưng lại được thị trường đánh giá cao về
tiềm năng phát triển thì P/E sẽ cao, và ngược lại.
Chỉ số thị giá / thư giá
(M/B)
=
Thị giá cổ phiếu (market price - Pm)
Giá trị sổ sách 1 CP thường
(26)
Chỉ tiêu này cho biết giá cổ phiếu đang bán trên thị trường đắt hơn, rẻ hơn hay bằng
mệnh giá. Tương tự như P/E, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ công ty được đánh giá có
triển vọng phát triển trong tương lai.
Tốc độ tăng trưởng (growth rate)
=
Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) x ROE (27)
Một số lưu ý trong đầu tư chứng khoán
Các nhà đầu tư chứng khoán là những nhà đầu tư mạo hiểm vì cổ phiếu là một loại
hàng hóa đặc biệt, và TTCK là thị trường bậc cao, mức độ rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Cơ hội
thành công trong đầu tư vào TTCK của nhà đầu tư sẽ lớn hơn nếu biết cách tránh những sai
lầm sau:
(1) Không có kế hoạch đầu tư rõ ràng
Nhà đầu tư cần quan tâm đến một vài chính sách và kế hoạch đầu tư cá nhân sau đây:
- Có mục đích và mục tiêu rõ ràng,
- Xác định những rủi ro gì là thích hợp với với danh mục đầu tư của mình,
- Dùng tiền đầu tư vào hạng mục tài sản nào. Việc phân bổ các khoản mục đầu tư
nên đi kèm với các mục tiêu đã đề ra, đồng thời phải xem xét đến các yếu tố rủi ro thích
hợp.
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu tỉ lệ rủi ro và tăng cơ hội thu thêm lợi
nhuận.
(2) Giới hạn thời gian đầu tư quá ngắn
Hầu hết các nhà đầu tư thường qua tập trung vào các hoạt động đầu tư mang tính
ngắn hạn. Đó chính là sai lầm thứ hai mà họ mắc phải.
(3) Tập trung sự chú ý quá nhiều vào các thông tin tài chính do các phương tiện
thông tin đại chúng đưa ra
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com Giáo trình chuyên ngành
Ebook.VCU Tài chính ngân hàng 25
(4) Không có sự tái cân bằng
Tái cân bằng là một tiến trình khiến cho số tiền đầu tư vào các khoản mục tài sản
trong danh mục đầu tư quay trở về đúng với mục tiêu ban đầu. Nhìn chung các nhà đầu tư
có xu hướng không muốn bán những cổ phiếu đang đắt giá để đề phòng trường hợp khi cổ
phiếu đó giảm giá thì danh mục sẽ trở về mức cân bằng như cũ. Những cách suy nghĩ như
vậy là cách suy nghĩ trong thời điểm ngắn hạn. Tái cân bằng một cách có ý thức sẽ gặt hái
được những thành quả trong dài hạn.
(5) Quá tin tưởng vào năng lực của những nhà quản lí quỹ đầu tư
tiêu chí này có thể giúp bạn loại bỏ khoảng 80% các cổ phiếu tồi.
- N (New Products, Management, Heights, More People Trading the Stock) - Cổ
phiếu tăng bắt nguồn từ một số nhân tố nội tại nào đó. Những nhân tố này thường là sản
phẩm mới của công ty của công ty, ban giám đốc mới, phương thức quản lí mới, hay mức
giá trần mới của cổ phiếu.