tìm hiểu quy trình kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng thương phẩm tại trại nuôi duy phong , xã vạn hưng , huyện vạn ninh , tỉnh khánh hòa - Pdf 15

i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp tôi đã nhận được sự
gúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các Thầy, Cô trong Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Trường
Đại học Nha Trang cùng sự ủng hộ của người thân và bạn bè. Qua đây, tôi xin bày
tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến: Ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ
nhiệm Khoa Nuôi trồng Thủy sản, cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo trong Khoa
Nuôi trồng Thủy sản đã dạy dỗ tôi trong suốt 4 năm học và tạo điều kiện cho tôi
thực hiện đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm chân thành và sâu sắc đến thầy Trần Văn Dũng người đã
trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ cho tôi hoàn thành đề tài này.
Đồng thời, tôi xin cảm ơn anh Phong chủ trại giống Duy Phong, xã Vạn
Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, và các anh em cán bộ công nhân trong trại
đã tận tình gúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại trại.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình tôi cùng tập thể lớp 50 NT-1 và những
người bạn của tôi, những người đã luôn sát cánh, động viên, chia sẻ, giúp đỡ cả về
mặt vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp.

Nha Trang, tháng 6 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Xuân Linh ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1

3.2. Hệ thống công trình và chuẩn bị ao nuôi 24
3.2.1. Hệ thống công trình ao nuôi 24
3.2.1. Hệ thống cung cấp khí 25
3.2.3. Hệ thống máy cho ăn tự động 26
3.2.4. Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi 27
3.3. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi 30
3.3.1. Kỹ thuật chọn giống, vận chuyển và thả giống 30
3.3.2. Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi 31
3.3.2.1. Chế độ cho ăn và quản lý thức ăn 31
3.3.2.1.1. Kỹ thuật cho ăn và quản lý thức ăn (không dùng máy cho ăn) 32
3.3.2.1.2. Kỹ thuật cho ăn và quản lý thức ăn (cho tôm ăn bằng máy) 35
3.3.2.2. Quản lý môi trường ao nuôi 36
3.3.2.2.1 Quản lý chất lượng nước trong ao nuôi 36
3.3.2.2.2. Diễn biến một số yếu tố môi trường trong ao nuôi 40
3.3.3. Phòng và trị bệnh trong ao nuôi: 43
3.3.3.1. Phòng bệnh 44
3.3.3.2. Trị bệnh 45
3.3.4. Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi: 46
3.3.4.1. Tốc độ tăng trưởng 46
3.3.4.2. Tỷ lệ sống 48
3.3.5. Đánh giá hiệu quả sử dụng máy cho ăn thức ăn công nghiệp: 48
iv
3.4. Thu hoạch và đánh giá hiệu quả kinh tế 49
3.4.1. Thu hoạch 49
3.4.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế: 49
PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 50
4.1. Kết luận 50
4.2. Đề xuất ý kiến 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51


Hình 3.8. Giăng lưới chắn chim cò 28
Hình 3.9. Kiểm tra nhá thức ăn 33
Hình 3.10. Đường cho tôm ăn 35
Hình 3.11. Thức ăn phun ra khi máy hoạt động 36
Hình 3.12. Diễn biến độ trong các ao theo thời gian nuôi 38
Hình 3.13. Diển biến pH trong ao A1 và A2 40
Hình 3.14. diễn biến độ kiềm trong ao nuôi A1 và A2 41
Hình 3.15. Diễn biến nhiệt độ trong ao nuôi A1 và A2 42
Hình 3.16. Diễn biến độ mặn trong ao nuôi A1 và A2 43
Hình 3.17. Sự tăng trưởng về chiều dài tôm trong ao nuôi A1 và A2 47
vii
DANH MỤC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

h: Giờ
ha: Hecta
FCR: Hệ số thức ăn
ppm: phần triệu
PL: poslarvea
HP: sức ngựa
DHA: Axít docosahexaenoic
EPA: Axít eicosapentaenoic
ARA:

Axít arachidonic
DO: Hàm lượng oxy hòa tan
trình kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931)
thương phẩm tại Trại nuôi Duy Phong, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh
Khánh Hòa”.
2
Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
Tìm hiểu đặc điểm điều kiên tự nhiên của khu vực nuôi và hệ thống công trình
trang thiết bị phục vụ trại nuôi tôm he thương phẩm của trại nuôi.
Kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi, chọn giống và thả giống.
Kỹ thuật chăm sóc và quản lý ao nuôi.
Thu hoạch và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu của đề tài:
Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học.
Tiếp cận thực tế sản xuất, áp dụng kiến thức đã học vào kiến thức sản xuất.
Rèn luyện khả năng thu thập, xử lý số liệu và viết báo cáo khoa học.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhưng trong quá trình thực hiện đề tài khó
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn.
Nhìn hình thái bên ngoài của tôm he chân trắng ta thấy gần giống với tôm bạc
(Penaeus meiguiensis) và tôm he Trung Quốc (Penaeus chinensis). Vỏ tôm có màu
4
trắng đục, mỏng có thể quan sát rõ đường ruột và các đốm trắng nhở ở lưng xuống
bụng, các chân bò có màu trắng ngà (nên gọi là tôm he chân trắng), các chân bơi có
màu vàng mơ, viền chân đuôi có màu đỏ nhạt và xanh. Râu tôm có màu đỏ, chiều
dài râu tôm gấp 1,5 lần chiều dài thân tôm. Phía trên tủy tôm có 8-9 gai, ở phía giới
có 2 gai. Tôm he chân trắng là loài tôm mà cá thể cái có thelycum hở, chiều dài có
thể tới 230 mm [1].
1.1.2. Đặc điểm sinh thái và phân bố
Trên thế giới, tôm he chân trắng phân bố chủ yếu ở các vùng biển tây Thái
Bình Dương, Châu Mỹ từ ven biển Mehico đến miền trung Peru, nhiều nhất là ở
vùng biển gần Ecuado. Đây là loài tôm được nuôi phổ biến nhất (chiếm tới 70% sản
lượng tôm nuôi) ở tây bán cầu [2].
Sự phân bố theo độ sâu của tôm he chân trắng nói riêng và tôm he nói chung
tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn ấu trùng, tôm he chân trắng
sống trôi nổi, dần dần thích nghi sống đáy. Khi chuyển sang giai đoạn ấu niên và
tiền trưởng thành, tôm sống ở vùng cửa sông. Khi trưởng thành sống ở ven biển gần
bờ, ban ngày tôm thường vùi mình ẩn nấp dưới bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn.
Trong tự nhiên, tôm he chân trắng sống ở vùng đáy cát, độ sâu khoảng 72m, nhiệt độ
ổn định từ 20-30
0
C, độ mặn từ 5- 30
‰,
pH từ 7.5÷8.3 [3].
1.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm he chân trắng là loài ăn tạp, thức ăn của chúng cần một tỷ lệ trong thành
phần dinh dưỡng như protein, lipid, gluxid, vitamin, khoáng… Dinh dưỡng thiếu
hoặc không cân đối đều ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng và sức khỏe của tôm [9].
Khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm he chân trắng là rất cao (FCR=1,2),
chúng không cần đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein cao như tôm sú. Thành phần
protein 35% được coi là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm he
chân trắng trong khi đó với tôm sú cần 40% protein trong thức ăn, tôm he Nhật Bản
cần 60% protein trong thức ăn [1], [9].
Tôm he chân trắng có thể sử dụng thức ăn tự nhiên trong ao nuôi (Wyban &
Sweeny, 1991) [2]. Chúng bắt mồi linh hoạt, khả năng bắt mồi tương đương nhau
nên tôm ít bị phân đàn [5]. Những kết quả nghiên cứu gần đây ở Indonesia đã cho
thấy khi nuôi tôm he chân trắng với thức ăn chứa 30-32% protein thì tỷ lệ tăng
trưởng, tỷ lệ sống và sản lượng tôm nuôi cao hơn khi sử dụng thức ăn chứa 38-40%
protein ở cùng mật độ nuôi 60 con/m
2
[12].
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng
Tôm he chân trắng là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh đặc biệt là ở 2 tháng đầu
mỗi tuần có thể tăng trưởng 3g với mật độ 100 con/m
2
[1], [13]. Do đó khi nuôi tôm
he chân trắng chú ý giai đoạn đầu cần tăng cường lượng thức ăn cho tôm ăn ngay từ
đầu để tận dụng hết khả năng lớn nhanh của tôm, rút ngắn thời gian nuôi. Sau đó khi
đạt cỡ 20g/con tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1 g/tuần. Tôm cái thường lớn
nhanh hơn tôm đực [13].
6

Hội chứng taura (TSV)
Hội chứng taura, do virus thuộc giống Piconavirus, đã xảy ra lần đầu tiên trên
tôm he chân trắng ở gần sông Taura, tại Ecuado 1992 [7]. Bệnh TSV có 3 giai đoạn:
Cấp tính, chuyển tính, mãn tính được phân biệt rõ. Dấu hiệu lâm sang thấy rõ nhất
khi tôm he chân trắng bị bệnh ở giai đoạn cấp tính và chuyển tiếp là yếu, lờ đờ bơi
vào bờ hoặc trên mặt nước, đuôi phồng chuyển màu đỏ và hoại tử.
Mặc dù bệnh xảy ra ít ngày, dấu hiệu bệnh ở giai đoạn chuyển tiếp có thể chẩn
đoán được. Ở giai đoạn này tôm có các đốm đen, nâu trên biểu bì, tôm có thể hoặc
không bị phồng đuôi chuyển mà đỏ. TSV có thể xảy ra từ giai đoạn postlarvea P12
trở đi gây tỷ lệ chết cao 40-90% tùy theo giai đoạn. Hiện nay bệnh không có thuốc
đặc trị, do đó tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã khuyến cáo các quốc gia chỉ nên nhập
tôm he chân trắng (gồm trứng, ấu trùng, tôm giống, hay tôm bố mẹ) từ những quốc
gia, vùng lãnh thổ sạch bệnh Taura và phải có giấy phếp chứng nhận của tổ chức này [12].
Bệnh virus đốm trắng (WSSV)
Bệnh đốm trắng, do virus Bacilovirus, là bệnh gây nguy hiểm và phổ biến nhất
với các loài tôm he với tỷ lệ chết rất cao 90-100% trong khoảng 5-10 ngày. Khi bị
bệnh, tôm có dấu hiệu bỏ ăn, có trường hợp tôm tăng cường bắt mồi vài ngày sau đó
mới bỏ ăn. Tôm bị bệnh vào bờ, lờ đờ với dấu hiệu đặc trưng là xuất hiện các đốm
trắng tròn đường kính 0,5-2 mm ở dưới lớp vỏ kitin, đặc biệt là các đốm trắng tập
trung ở vỏ đầu ngực và đốt bụng cuối cùng, màu sắc tôm có thể chuyển thành màu
đỏ. Là bệnh có tính thời vụ rõ ràng, bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng bắt gặp với
tần số cao vào mùa có nhiệt độ thấp, đặc biệt là thời điểm thời tiết có sự chuyển đổi
từ nắng sang mưa. Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, pH, NH
3
… biến
động là điều kiện cho bệnh bùng phát [7]. Bệnh vẫn chưa có biện pháp chữa trị hiệu quả.
Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu của tôm he (IHHNV)
Bệnh IHHNV, do virus Parvovirus gây ra, thường biểu hiện ở dạng mãn tính:
còi cọc, dị dạng râu và vỏ kitin, kém ăn và phân đàn rõ rệt. Mức độ cảm nhiễm tùy
8

9
Độ trong và màu nước: Độ trong là một thông số giúp người nuôi điều chỉnh
sự phát triển của tảo. Trong quá trình nuôi, độ trong nên cố gắng duy trì trong
khoảng từ 25 -50 cm, càng về cuối vụ nuôi thì độ trong càng giảm, khi mới thả, yêu
cầu độ trong cao khoảng 40-50 cm nhưng nếu độ trong quá cao sẽ ảnh hưởng không
tốt tới tôm. Khi đó, tôm dễ bị sốc, chậm lớn, phân đàn, bỏ ăn, dễ bị nhiễm bệnh,
đồng thời đáy ao dễ phát triển lab - lab.
Độ trong thấp (< 20cm) do tảo phát triển quá dày nên dễ gây thiếu oxy vào
buổi sáng, pH ao nuôi tăng cao (pH > 9) vào buổi trưa nắng. Nguyên nhân là do về
ban ngày tảo quang hợp thải ra khí O
2
, nhưng về ban đêm tảo hô hấp thụ khí O
2

thải ra khí CO
2
làm giảm lượng O
2
và pH. Đồng thời, nếu độ trong nước thấp do tảo
nở hoa, khi tảo tàn, mang tôm rất dễ bị tổn thương (đen mang, vàng hoặc hồng
mang). Màu nước đậm sẽ là nguyên nhân làm biến độ pH dao động giữa ngày và
đêm lớn. Độ trong của nước ao nuôi phụ thuộc vào kĩ thuật quản lí thức ăn, chế độ
thay nước, tính chất thổ nhưỡng, nguồn nước cấp, ngoài ra còn phụ thuộc vào điền
kiện thời tiết của từng mùa. Tuy nhiên, khi có mưa lớn nước cũng có màu đậm,
nguyên nhân là một số bờ ao nuôi bằng đất, do vậy bùn ở trên bờ sẽ chảy xuống làm
đục ao nuôi.
Màu nước tốt đối với ao nuôi tôm he chân trắng là xanh non chuối, xanh nhạt
vỏ đậu, vàng ánh là màu nước do tảo lục và tảo khuê phát triển mạnh chiếm ưu thế.
Đây là những loài tảo làm sạch nước, kích thước phù hợp với cỡ mồi của sinh vật
làm thức ăn của tôm. Môi trường tảo phát triển tốt, nước sạch, làm tăng khả năng bắt

-
, CO
3
2-
trong nước, được quy
định bởi các ion kiềm thổ Na
+
, K
+
, Mg
2+
, Ca
2+
có ở trong nước, kết hợp với acid yếu
H
2
CO
3
. Vai trò của độ kiềm là duy trì hệ đệm của môi trường trong ao. Ao nuôi tôm
he chân trắng có độ kiềm thích hợp là từ 80 – 140 mg/L.
Oxy hòa tan: Hàm lượng oxy hòa tan trong nước là một trong các yếu tố quan
trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ sống và sinh trưởng của tôm trong ao nuôi. Nếu DO thấp
sẽ làm tôm chậm lớn, có thể chết hàng loạt. Nếu DO khoảng 2 - 3 mg/L thì tôm sẽ
ngừng bắt mồi và kém linh hoạt, nếu DO < 2 mg/L sẽ gây chết tôm. Nhưng nếu DO
quá cao cũng có thể gây bệnh bọt khí cho tôm. DO thích hợp nhất là khoảng 4 -
12mg/L. Ngưỡng oxy còn phụ thuộc vào cỡ tôm, tôm càng lớn ngưỡng oxy càng tăng.
Khí độc H
2
S và NH
3

+
(ion hóa) từ 300 - 400 lần. Nồng độ gây chết của NH
3
là 0,5 – 1 mg/L.
11
1.3. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nuôi tôm he chân trắng trên thế giới
Từ năm 1995 đến nay, tôm he chân trắng đã được di nhập và nuôi ở nhiều quốc
gia và lục địa ở châu Á như: Đài Loan (năm 1995), Philippines (năm 1997), Trung
Quốc và Thái Lan (năm 1998), Việt Nam (năm 2000), Indonesia, Malaysia và Ấn Độ
(năm 2001). Nuôi tôm he chân trắng cho thấy lợi nhuận hơn những loài tôm khác: Tăng
trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, có khả năng chống chịu bệnh tật, sự thay đổi môi
trường và tỉ lệ chuyển đổi thức ăn hiệu quả hơn. Thêm vào đó thực hành nuôi tôm he
chân trắng cũng tương tự như tôm sú, mặc dù nuôi tôm he chân trắng yêu cầu duy trì
nguồn nước thường xuyên hơn. Dễ dàng quản lý và có triển vọng thu hoạch tốt đã
khuyến khích người dân quan tâm nuôi tôm he chân trắng nhiều hơn. Tất cả những điều
đó khiến nghề nuôi tôm he chân trắng trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Nuôi tôm he chân trắng đang ngày một trở thành đối tượng nuôi quan trọng đem
lại năng suất cao và hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Với những ưu thế vượt trội và
đang dần thay thế tôm sú, sản lượng tôm he chân trắng không ngừng tăng (Bảng 1.2).
Bảng 1.1. Sản lượng và giá trị tôm he chân trắng trên thế giới (2001-2005)
Năm Sản lượng (tấn/năm) Giá trị (nghìnUSD/năm)
2001 280.114

1.644.005

2002 481.044

2.459.092


Tại Quảng Ninh năm 2002, công ty Công nghệ Việt Mỹ đã nuôi thử nghiệm tại
Lê Lợi – Hoành Bồ, đạt năng suất 8,4-12,3 tấn/ha/vụ. Năm 2003 công ty tiếp tục thả
nuôi ở các tỉnh phía bắc như Hải Phòng, Thái Bình, Hà Tĩnh. Do những vùng này
không thích hợp cho sự phát triển của tôm he chân trắng nên năng suất không cao.
Năm 2005, các tỉnh Nam Trung Bộ nuôi tôm he chân trắng trên diện tích 330
ha, thu sản lượng 2.568 tấn (năng suất bình quân 7,7 tấn/ha/vụ). Tuy nhiên, năng
suất vẫn chưa ổn định, có xuất hiện dịch bệnh tại một số nơi. Tại Phú Yên (2004),
năng suất tôm thấp chỉ đạt 3,2 tấn/ha/vụ và có đến 305 hộ lỗ vốn. Tháng 2/2004 tại
huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, ở vụ nuôi thứ 3, tôm he chân trắng bị chết rải rác
trên diện tích 20 ha.
Bảng 1.2. Diện tích và sản lượng nuôi tôm he chân trắng ở nước ta
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
2008 14.000 41.000
2009 19.171 87.964
2010 23.500 150.000
2011 33.049 139.400

Năm 2011, diện tích nuôi tôm nước lợ trên cả nước là 656.426 ha đạt sản lượng
430.000 tấn, chủ yếu là tôm sú theo phương thức thâm canh, bán thâm canh và
13
quảng canh cải tiến, trong đó phần lớn là nuôi quảng canh cải tiến. Ngoài đối tượng
tôm sú ra, ở các tỉnh ven biển miền Trung trở ra phía Bắc đã nuôi tôi he chân trắng
khá thành công trên những diện tích nuôi tôm sú trước đây luôn bị dịch bệnh. Diện
tích nuôi tôm he chân trắng là 33.049 ha đạt sản lượng 139.400 tấn. Do đặc điểm
tôm he chân trắng là sống ở tầng giữa không vùi mình xuống đáy bùn như tôm sú
nên thích hợp ở chất đáy cát. Thực tế điều tra cho thấy nuôi tôm he chân trắng ở
đồng bằng Sông Cửu Long sẽ kém hơn miền Trung vì chất đáy bùn và sét sẽ ảnh
hưởng tới việc lấy thức ăn và hoạt động sống, hạn chế sự sinh trưởng của chúng nếu
nuôi dày dẫn đến nhiều rủi ro.
1.3.3. Tình hình nuôi tôm he chân trắng ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

63,5

Vạn Long 96

65

Vạn Khánh 187

210

Vạn Thắng 171

86

Thị trấn Vạn Giã 10

7

Vạn Lương 11

8

Vạn Hưng 72

155

Tổng 789

724,4


phẩm tôm he chân trắng hàng năm luôn được người tiêu dùng lựa chọn do sản lượng
luôn ổn định, giá rẻ, kích cỡ tôm ngày càng lớn do kỹ thuật nuôi tiến bộ.
Mặc dù sức sinh sản thấp hơn nhiều so với tôm sú nhưng tỷ lệ sống của ấu
trùng tôm he chân trắng (50-60%) cao hơn tôm sú (20-30%). Mặt khác, tôm he chân
trắng đã được thuần hóa nên người ta có thể bắt tôm nuôi ngay trong ao nuôi thương
phẩm để tiến hành nuôi vỗ cho đẻ.
Khó khăn của nghề nuôi tôm he chân trắng
Mặc dù là loài tôm dễ nuôi, sức kháng bệnh cao, chịu đựng tốt với sự thay đổi
của môi trường nhưng tôm he chân trắng không những mắc nhiều bệnh của tôm sú
như: đốm trắng (WSSV), nhiễm khuẩn phụ bộ, bệnh đen mang,… mà nó còn mắc
them hội chứng Taura gây nên dịch bệnh lớn, có khả năng lây lan sang các loài tôm khác.
Quy trình sản xuất tôm giống đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, tôm he chân trắng
bố mẹ dùng trong sản xuất giống nhân tạo hiện chưa chủ động, hầu hết dựa vào
nguồn giống nhập ngoại. Đây là nguyên nhân làm ảnh hưởng tới chất lượng tôm
giống trong các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ bởi họ không đủ điều kiện nhập giống chất
lượng cao. Ngoài ra việc giám sát, kiểm tra chất lượng tôm giống trước khi đưa vào
nuôi còn bị thả nổi và hệ thống phòng thí nghiệm chẩn đoán, xét nghiệm bệnh thủy
sản ở các địa phương chưa được chuẩn hóa và đồng bộ.
Môi trường ao nuôi ngày càng bị suy thoái do mức độ thâm canh xoay vòng ao
nuôi quá cao. Vẫn còn nhiều vùng người dân nuôi tự phát, thậm chí có những diện
tích đã được nhà chức năng khuyến cáo là không thuận lợi cho việc nuôi loài tôm he
chân trắng nhưng nhiều hộ dân vẫn tiến hành cho thả nuôi. Chưa có sự quy hoạch cụ
thể vùng nuôi cho đối tượng nuôi này.
16
PHẦN II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tôm he chân trắng (Litopenaeus vannamei Boone, 1931)
Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 08/03 – 02/06/2012
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại trại nuôi Duy Phong, xã Vạn
Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Tìm hiểu quy trình kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng (Litopenaeus vannamei
Boone, 1931) thương phẩm trại nuôi Duy Phong, xã Vạn Hưng, huyện Vạn
Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Kỹ thuật nuôi thương phẩm
Theo
dõi tốc
độ tăng
trưởng
của
tôm
nuôi
Quản lý
thức ăn
và kỹ
thuật
cho ăn
bằng
máy
Chuẩn
bị ao
nuôi
chọn
giống
và thả
giống
Quản
lý môi
trường
ao nuôi

DO (mg/L)
Test O
2

0,2
±

6h, 14h Hàng ngày
Độ kiềm (mg/L) Test so màu
17
±

9h 7 ngày/lần
Độ mặn (‰) Tỷ trọng kế
5,0
±

9h 7 ngày/lần
Độ trong (cm) Đĩa secchi 14h 3 ngày/lần
Độ sâu (cm) Thước gỗ
5,0
±

14h 7 ngày/lần
Màu nước Trực quan 14h Hàng ngày Công thức tính và phương pháp xử lý số liệu
Công thức tính toán:
 Tính tỷ lệ sống:

12
12
tt
WW



Trong đó:
L: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài, đơn vị cm.
L
1
: Chiều dài trung bình tại thời điểm t
1
, đơn vị cm.
L
2
: Chiều dài trung bình tại thời điểm t
2
, đơn vị cm.
t
1
: Thời gian lúc kiểm tra L
1
và W
1
, đơn vị là ngày nuôi.
t
2
: Thời gian lúc kiểm tra L
2

 Hạch toán lợi nhuận trong doanh nghiệp (Phạm Xuân Thuỷ, 2007)
Lợi nhuận được tính theo công thức:
L = D – (Z
tb
+ T)
Trong đó:
L: Lợi nhuận của doanh nghiệp, đơn vị là đồng
D: Doanh thu, đơn vị là đồng
Doanh thu = sản lượng
×
giá bán
Z
tb
: Giá thành toàn bộ sản, đơn vị là đồng

Trích đoạn Kỹ thuật chọn giống, vận chuyển và thả giống Kỹ thuật cho ăn và quản lý thức ăn (cho tôm ăn bằng máy) Phòng bệnh Theo dõi tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nuôi: Thu hoạch và đánh giá hiệu quả kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status