Quản lý Nguồn tài nguyên Thiên nhiên Vùng Ven biển tỉnh Sóc Trăng - Pdf 15

Quản lý Nguồn tài nguyên Thiên nhiên
Vùng Ven biển tỉnh Sóc Trăng

Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển
(ICAM)

Hội thảo Quốc gia tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, 24.11.2011 Phạm Thùy Dương, Bianca Schlegel

Phạm Thùy Dương, Bianca Schlegel Tháng 3 năm 2012
ii
Giới thiệu về GIZ
Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ (Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ)
GmbH) được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 2011, quy tụ những kinh nghiệm lâu năm của ba tổ chức
tiền nhiệm là DED (Tổ chức Dịch vụ Phát triển Đức), GTZ (Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức) và InWEnt
(Tổ chức Bồi dưỡng và Nâng cao Năng lực Quốc tế Đức). Là một tổ chức Liên bang, GIZ hỗ trợ Chính
phủ Đức đạt các mục tiêu trong lĩnh vực hợp tác quốc tế cho phát triển bền vững cũng như công tác giáo
dục quốc tế trên toàn cầu.
Các hoạt động của GIZ được tài trợ chủ yếu bởi Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ).
Ngoài ra, GIZ còn thực hiện sứ mệnh của mình dưới sự ủy nhiệm của các bộ khác của Đức, Chính phủ
các nước và các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc (United Nations), Ngân hàng Thế giới (World
Bank), cũng như hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân để thúc đẩy sự hiệp lực giữa các lĩnh vực phát
triển và ngoại thương. Ủy ban Châu Âu (European Commission) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia
(AusAID) là một trong những đối tác của GIZ tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, GIZ còn hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác bao gồm phát triển kinh tế và xúc tiến việc
làm; xây dựng nhà nước và khuyến khích dân chủ; an ninh, tái thiết và giải quyết mâu thuẫn dân sự; an
ninh lương thực, y tế, giáo dục phổ cập; bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và giảm thiểu tác động
của biến đổi khí hậu.

thức vào nhiều bối cảnh và ở nhiều quy mô. Tất nhiên tiến trình tập hợp không chỉ áp dụng đối với thông
tin hay chỉ tổng hợp những cân nhắc về kinh tế, xã hội và môi trường mà còn cần thống nhất những
quan điểm và cách nhìn khác nhau về các vấn đề và giá trị của vùng ven biển. Một cách tiếp cận tổng
thể cho phép phát triển các chiến lược QLTHVVB bền vững, khả thi và thường xuyên được cập nhật đầy
đủ thông tin, trên cơ sở nhận thức về các kịch bản có thể xảy ra trong tương lai mà có khả năng ảnh
hưởng đến vùng ven biển và các lĩnh vực, các cộng đồng phụ thuộc.
Các diễn đàn như Hội thảo Quốc gia về QLTHVVB tạo cơ hội cho việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm
của những bài học thành công và những thách thức trong quá trình quản lý vùng duyên hải. Những bài
học này sẽ được mở rộng thông qua những quan điểm trên nhiều quy mô không gian từ kinh nghiệm của
những sáng kiến tại địa phương và tỉnh đến những quan điểm trong nước và quốc tế, ở Việt Nam và
nước ngoài. Điều đó sẽ giúp chúng ta tìm hiểu về sự đa dạng của những thách thức trong QLTHVVB và
các giải pháp tiềm năng.
Những thách thức của các quốc gia ven biển càng nhiều thì nhu cầu học hỏi lẫn nhau trong những năm
tới sẽ càng tăng lên. Cơ chế chia sẻ kinh nghiệm và thiết lập một cộng đồng những người triển khai
QLTHVVB sẽ rất hữu ích nếu chúng ta muốn có cuộc sống bền vững trong môi trường ven biển đầy biến
động. Với những sáng kiến này, những người triển khai QLTHVVB có thể giúp đỡ các cộng đồng ven
biển xây dựng khả năng phục hồi và thích ứng với thay đổi.
Tôi vui mừng ủng hộ cho những nỗ lực và cam kết của UBND tỉnh Sóc Trăng và tổ chức GIZ trong việc
tiếp tục triển khai QLTHVVB, cũng như sự tham gia nhiệt tình của các quý vị đại biểu đã làm nên thành
công của hội thảo này. Giáo sư Tim Smith
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bền vững
Trường Đại học Sunshine Coast
Ô-xtrây-li-a

iv
Mục lục
Giới thiệu về GIZ ii


v
Chữ viết tắt

BMZ Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức
Bộ TN-MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CBD Công ước về Đa dạng Sinh học
CENECCORD Hội đồng trung ương Đảo Negros về Phát triển nguồn tài nguyên ven biển
FARMC Hội đồng quản lý nguồn lợi thủy sản địa phương
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GIZ Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức
GPA-LBA Chương trình Hành động Toàn cầu để Bảo vệ Môi trường Biển từ các Hoạt động
trên Đất liền
LGU Đơn vị chính quyền địa phương ở Phi-líp-pin
MARPOL Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra
PEMSEA Tổ chức Hợp tác khu vực trong quản lý môi trường các biển Đông Á
PES Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường
QLTHVVB Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển
RAMSAR Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế
SEAFDEC Trung tâm Phát triển Thủy sản Đông Nam Á
Sở NN-PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Sở TN-MT Sở Tài nguyên và Môi trường
UBND Ủy ban Nhân dân
UNCED Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển
UNCLOS Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
UNEP Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc
USAID Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ
VASI Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
WSSD Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững

thể) và cần phải xem xét đồng loạt các mục tiêu khác nhau. Điều này có nghĩa rằng QLTHVVB phải
giải quyết cùng một lúc nhiều vấn đề và cần phải cân nhắc nhiều lợi ích cũng như những xung đột về
khai thác khác nhau. QLTHVVB cần phải tính đến không chỉ những vấn đề kinh tế hay môi trường
mà trước hết là vấn đề xã hội. Chính vì vậy, học hỏi (nhất là từ những bài học trong quá khứ và
những sai lầm) là yếu tố then chốt cho việc triển khai thành công cách tiếp cận quản lý vùng ven biển
sáng tạo. Những nhà quyết định chính sách QLTHVVB phải đối mặt với một số thách thức như: phải
đưa ra quyết định trong môi trường thay đổi, các quyết định phù hợp với từng địa điểm cụ thể phải
dựa trên sự hiểu biết đầy đủ về điều kiện hoàn cảnh, phải thông báo về các quyết định với tất cả các
bên có liên quan và phải cân nhắc đến mối quan tâm của họ nữa. Do vậy, nếu thực sự là một người
ra quyết định áp dụng đúng cách tiếp cận QLTHVVB thì họ sẽ không thể tự ra quyết định mà quyết
định cần được thông qua quá trình có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan, bao gồm cả
những người sẽ bị ảnh hưởng bởi những quyết định này. Để thực hiện được điều đó thì cần phải có
sự hợp tác chặt chẽ với tất cả các bên có liên quan và đặc biệt, sự phối hợp với các viện khoa học sẽ
là điều kiện tiên quyết cho một quá trình ra quyết định dựa trên sự thông tin đầy đủ được thành công.
Sự hiểu biết chung và thỏa thuận giữa tất cả các bên liên quan sẽ tạo điều kiện tốt cho sự hợp tác.
7
1. Giới thiệu
Dự án hợp tác phát triển Việt – Đức “Quản lý Nguồn tài nguyên Thiên nhiên Vùng ven biển tỉnh Sóc
Trăng, Việt Nam” có mục đích bảo vệ và sử dụng bền vững vùng đất ngập mặn ở Sóc Trăng vì lợi ích
của người dân địa phương. Nhằm thực hiện được mục đích này, dự án áp dụng phương pháp tiếp
cận hệ sinh thái, một chiến lược quản lý tổng hợp đất, nước và các nguồn tài nguyên trong đó thúc
đẩy sự cân bằng giữa bảo tồn và sử dụng bền vững. Điều này có thể thực hiện được thông qua
Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển (QLTHVVB), một phương pháp tiếp cận tổng thể, liên ngành, liên
lĩnh vực trong đó khu vực đất liền và biển ở vùng ven biển được quản lý theo một thể thống nhất.
Vùng ven biển chính là lợi thế lớn của Việt Nam. Những giá trị độc đáo của vùng ven biển và nguồn
tài nguyên có vai trò sống còn đới với đất nước. Và vùng ven biển là trọng tâm của hoạt động kinh tế,
công nghiệp và xã hội. Việt Nam có bờ biển dài gần 3.260 km, là nơi sinh sống của khoảng 30 triệu
người dân, gần 1/3 tổng dân số. Tuy nhiên, vùng ven biển lại cũng là khu vực nhạy cảm và dễ bị tổn
thương nhất, bị các hoạt động của con người khai thác kiệt quệ, bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt,
chất thải nông và công nghiệp và bị ô nhiễm do hoạt động của tàu bè. Trong khi đó, vùng ven biển

Chương trình Hành động Toàn cầu để Bảo vệ Môi trường Biển từ các Hoạt động trên Đất liền - năm
1995). Điều này cho thấy QLTHVVB không phải là một khái niệm mới nhưng những thực tế triển khai
thành công trên thế giới lại rất đa dạng tùy theo cách hiểu và cách triển khai.
QLTHVVB bao gồm chu trình đầy đủ: thu thập và xử lý thông tin, lập kế hoạch, ra quyết định, quản lý
và giám sát việc triển khai. Sự tham gia và hợp tác của tất cả các bên liên quan được cung cấp đầy
đủ thông tin là yếu tố chủ chốt để đánh giá các mục tiêu xã hội ở từng khu vực vùng ven biển, và để
hành động nhằm hướng tới những mục tiêu này. QLTHVVB nhằm cân bằng giữa tất cả các mục tiêu
môi trường, kinh tế, xã hội, văn hóa và giải trí trong khuôn khổ cho phép do tiến trình phát triển tự
8
nhiên quy định. Những tiến trình phát triển diễn ra ở khu vực vùng ven biển tạo ra những hệ sinh thái
đa dạng và phong phú, vốn có vai trò rất quan trọng đối với cư dân và đòi hỏi phải xét đến nhiều mục
tiêu cũng như nhiều công cụ cần có để đạt được những mục tiêu đó. “Tổng hợp” nghĩa là tất cả các
chính sách có liên quan đến các khu vực, các ngành và các cấp chính quyền phải được thiết lập như
một thể thống nhất và đối với các thành phần trên đất liền và biển ở khu vực triển khai, về không gian
và thời gian, cũng phải như vậy.
QLTHVVB nghĩa là áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia để quản lý nhiều lợi ích khác nhau
ở khu vực vùng ven biển – cả trên đất liền và trên biển. Đó là quá trình làm hài hòa các chính sách và
cơ cấu ra quyết định khác nhau và tập hợp các bên có liên quan cùng phối hợp hành động hướng tới
các mục tiêu chung. Một mục tiêu chính của QLTHVVB là duy trì, phục hồi hoặc cải thiện chất lượng
hệ sinh thái ven biển trong đó có những dịch vụ đa dạng sinh học mà hệ sinh thái cung cấp cho các
hoạt động thương mại và phi thương mại. Một môi trường trong lành có vai trò rất quan trọng đối với
những hoạt động kinh tế ven biển: đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, tàu thuyền, nông nghiệp, du lịch và
phát triển nói chung. QLTHVVB tốt sẽ cân bằng được giữa sự phát triển hoặc sử dụng bền vững và
nhu cầu bảo tồn.
Hội thảo được tổ chức nhằm giới thiệu ý tưởng về cách những bài học kinh nghiệm quốc tế có thể
đóng góp cho việc triển khai hiệu quả QLTHVVB ở Việt Nam. Các bên ra quyết định từ cấp trung
ương, các nhà khoa học và đại diện các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ và nhà tài trợ
cùng tham gia hội thảo này để cung cấp kiến thức chuyên môn về khái niệm QLTHVVB cũng như
chia sẻ và học hỏi thêm từ những kinh nghiệm triển khai QLTHVVB trên thế giới và trong khu vực, và
để tạo ra sự hiểu biết chung về QLTHVVB ở Việt Nam và đặc biệt là ở khu vực đồng bằng sông Cửu

tin trong nội bộ và giữa các cơ quan với nhau), sự chậm chạp của các cơ quan
Một trong những thách thức khi ta chỉ nhìn vào từng thành phần đó là chúng ta sẽ rất khó để nhìn
thấy bức tranh tổng thể. Tuy nhiên có một số phương pháp có thể giúp chúng ta:
 Bằng cách kết nối hệ thống xã hội và sinh thái, cùng lúc đó, tập trung vào việc học hỏi bền
vững. Học hỏi là chìa khóa thành công cho việc đổi mới quản lý vùng ven biển. Đối với quản
lý vùng ven biển, cần phải áp dụng hệ thống quan điểm (phương pháp tiếp cận toàn diện) và
cố gắng đạt được nhiều mục tiêu cùng lúc.
 Thông qua các phương pháp tiếp cận quản trị và sắp xếp cách quản trị mới, trong đó tập
trung vào quan hệ đối tác hợp tác và sự tham gia hiệu quả của cộng đồng, người dân tham
gia vào quá trình ra quyết định. Lý do cần có sự tham gia của cộng đồng là trước hết, bởi vì
người dân nên tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến mình (theo lẽ thường); thứ hai
là vì người dân có thể có những đóng góp độc đáo cho các quyết định chung và các giá trị
cũng như hiểu biết về mặt kỹ thuật của người dân có thể giúp cung cấp thông tin trước khi
quyết định cuối cùng được thông qua (theo đúng danh nghĩa) và cuối cùng là vì khi người
dân tham gia quyết định, họ sẽ không chỉ ủng hộ kết quả của quyết định mà còn tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình thực hiện quyết định đó (ý nghĩa thực tiễn). 1
Đường dẫn để tải tài liệu và các bài thuyết trình:
10
Quản lý vùng ven biển đã phát triển khá nhanh, đặc biệt là trong vòng 30-40 năm trở lại đây. Nó đã
trải qua một sự thay đổi mô hình từ quản lý sang quản trị, từ phương pháp chỉ đạo từ trên xuống dưới
sang cách tiếp cận tổng thể và có sự tham gia. Nhưng tính phức tạp của chủ đề này (các cơ cấu tổ
chức, các kế hoạch quản lý vùng ven biển của từng vùng, kế hoạch sử dụng đất, v.v khác nhau) và
những điều chưa chắc chắn về tác động của biến đổi khí hậu là những thách thức quan trọng đối với
công tác quản lý vùng ven biển trên toàn thế giới. Không quá khó để đối phó với vấn đề nước biển
dâng, nhưng các hiện tượng thời tiết cực đoan lại là một thách thức lớn! Chính vì vậy, nâng cao năng
lực thích ứng để đối phó với các hiện tượng thời tiết cực đoan thông qua ví dụ các mạng lưới giáo
dục và xã hội là hết sức cần thiết để thích ứng với những thác thức ở khu vực vùng ven biển trong

Ở Đức, ta có thể quan sát rất nhiều khía cạnh khác nhau của QLTHVVB. Về vấn đề Quản lý ngập
lụt đô thị, thành phố Hamburg là một ví dụ quan trọng vì thành phố đang phải đối phó với nhiều
thách thức. Nằm cách cửa sông Elbe, Hamburg vẫn chịu ảnh hưởng thủy triều của dòng song. Cảng
Hamburg có vai trò rất quan trọng vì đây là cảng lớn nhất nước Đức và lớn thứ 3 ở châu Âu sau cảng
Rotterdam và Antwerp. Chính vì vậy, cảng Hamburg có vai trò chủ chốt không chỉ đối với thành phố
Hamburg mà còn đối với cả khu vực.
Thành phố có ba phương pháp phòng chống lụt: đê và tường, các công trình xây dựng trên gò đất đá
nhân tạo và các giải pháp phù hợp với từng địa điểm. Phương pháp sử dụng gò đất đá nhân tạo có
vai trò quan trọng ở thành phố mới Hafen, nơi mà tất cả các công trình đã được xây dựng phía trước
của để và các khu vực đó được cho phép bị ngập. Ở thành phố này, các giải pháp cụ thể cho cơ sở
hạ tầng và các giải pháp bảo vệ từng khu vực là cần thiết.
Sông Elbe là cửa sông năng động và dễ bị tổn thương trước tác động của con người. Chính vì vậy,
Quản lý cửa sông là vấn đề quan trọng cho việc quản lý vùng ven biển từ thành phố Hamburg đến
Biển Bắc. Những tác động của con người trước đây như việc đào sâu hơn đường dẫn cho phép tàu
bè lớn hơn có thể đi vào cảng gây nhiều tranh cãi đã dẫn đến tăng phạm vi thủy triều và tốc độ dòng
chảy. Điều này hiện đang đe dọa các chức năng sinh thái. Chỉ có một lượng nhỏ trầm tích được vận
chuyển ngược dòng theo con nước lên là được chuyển xuôi dòng trở lại theo con nước triều xuống.
Đây là hiện tượng tăng bơm thủy triều, làm gia tăng trầm tích và đây là một trong những thách thức

Đây là giải pháp đắt đỏ và điều đó chỉ có thể được lý giải từ khoản thu nhập cao do ngành du lịch
đem lại.
Một công cụ quản trị bảo vệ vùng ven biển rất hay ở Đức được gọi là Hội đồng Tư vấn Bảo vệ
Tổng hợp Vùng ven biển trực thuộc Bộ Môi trường, có sự tham gia của các cộng đồng, thị trưởng,
các nhà bảo vệ môi trường và nhiều người khác. Hội đồng này họp hai lần/năm. Tại các cuộc họp,
“nhà nước sẽ lắng nghe nhu cầu của cộng đồng địa phương”. Hiện nay, một kế hoạch tổng thể đang
được phát triển để quản lý tổng hợp vùng ven biển trong đó tập hợp tất cả các khía cạnh: quy hoạch
sử dụng đất ven biển, các hoạt động kinh tế/du lịch, cũng như phòng chống thiên tai và bảo vệ thiên
nhiên. Hoạt động kinh tế du lịch có vai trò rất quan trọng, bởi vì Biển Wadden được công nhận là Di
sản Thế giới và thu hút nhiều du khách. Đây là một ví dụ rất tốt cho việc kết hợp giữa bảo vệ vùng
ven biển và môi trường.
Thông thường các tai nạn và trường hợp khẩn cấp ít khi dừng lại ở trong phạm vi của từng nước hay
quốc tế. Do vậy, cần thiết phải có một cơ chế hiệu quả để quản lý các trường hợp khẩn cấp và
xuyên biên giới. Ở Đức, Trung tâm chỉ huy các tình huống khẩn cấp biển có trách nhiệm lập kế
hoạch, tập huấn và triển khai các biện pháp ứng phó. Họ cũng tham gia cùng các nước láng giềng
trong khu vực phản ứng nhanh, đó là nơi họ có thể hoạt động trong tình huống khẩn cấp mà không
cần thông qua các kênh ngoại giao. Trung tâm chỉ huy có thể sử dụng trang thiết bị và nhân lực của
đối tác và có quyền giám sát hoạt động và phối hợp chung, thậm chí là xuyên biên giới, cho tới khi
tình huống khẩn được giải quyết xong. Trung tâm chỉ huy hoạt động độc lập, không phải chịu bất cứ
sự chỉ đạo bên ngoài nào trong quá trình hoạt động và có nền tảng pháp lý rõ rang.
Quản lý vùng ven biển không chỉ có nghĩa là bảo vệ vùng ven biển hoặc bảo vệ thiên nhiên mà nó
còn liên quan đến các hoạt động kinh tế, ví dụ: năng lượng gió. Năng lượng gió ngoài khơi là một
cách sử dụng trực tiếp và kinh tế của vùng ven biển. Nước Đức có hơn 20 năm kinh nghiệm về năng
lượng gió ngoài khơi ở Biển Bắc là Biển Ban-tích. Gió mạnh và liên tục cung cấp điều kiện tốt hơn so
với đất liền. Các phương pháp mới được thử nghiệm thường xuyên và các tác động đến môi trường
cũng được tính đến.
Tóm lại, các bài học kinh nghiệm chính từ nước Đức là:
 Không có một giải pháp duy nhất cho toàn bộ vùng bờ biển
 Cần có sự kết hợp giữa các giải pháp trên quy mô lớn và các giải pháp riêng phù hợp
 Đặc điểm và yêu cầu của từng địa phương đòi hỏi những giải pháp riêng

giá rủi ro, tầm nhìn chính sách, lập kế hoạch có sự tham gia và quy hoạch không gian, xây dựng
năng lực, đào tạo nghề, các chiến dịch truyền thông-giáo dục và giám sát và đánh giá. Khái niệm về
QLTHVVB xoay quanh những nguyên tắc quan trọng của môi trường bền vững, nguyên tắc phòng
ngừa, đánh giá tác động lên môi trường, phát triển công bằng, cách tiếp cận đa ngành và quản lý
dựa trên hệ sinh thái. Tất cả các hoạt động liên quan đến QLTHVVB cần phải tuân thủ các nguyên
tắc này.
Dự án FISH (Cải thiện ngành thủy sản vì khai thác bền vững) của tổ chức USAid ở Phi-líp-pin là một
ví dụ tốt về cách đưa việc quản lý dựa trên hệ sinh thái, quản trị tốt và thích ứng với biến đổi khí hậu
thống nhất với quản lý vùng ven biển tại địa phương. Bài học từ dự án này của USAid là cần phải có
sự cam kết lâu dài, từng bước hội nhập và can thiệp đa cấp.
14
Hiện tại, chỉ có một vài trường đại học ở Đông Nam Á đóng vai trò là trung tâm cung cấp tư vấn kỹ
thuật về QLTHVVB. Những tổ chức khác trong mạng lưới kiến thức ở tất cả các quốc gia là các bộ
Môi trường, Thủy sản, Kế hoạch hoặc là bộ Tài nguyên Biển. Hai tổ chức chính làm về QLTHVVB là
SEAFDEC (Trung tâm Phát triển Thủy sản Đông Nam Á) và PEMSEA (Tổ chức Hợp tác khu vực
trong quản lý môi trường các biển Đông Á). Đây là hai ví dụ tốt cho các sáng kiến châu Á.
Các rào cản chính trong quá trình triển khai QLTHVVB là quyền hạn về tài nguyên ven biển không rõ
rang và người dân cùng với chính quyền địa phương chưa tuân thủ đầy đủ quy định của nhà nước.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên địa phương thường nằm dưới sự kiểm soát của một bên liên quan nhỏ
có ảnh hưởng.
Tổng kết lại, QLTHVVB thành công là theo cách tiếp cận phù hợp riêng với từng địa điểm! Các chiến
dịch thông tin giáo dục và xây dựng năng lực rất quan trọng, đặc biệt trong quá trình khởi động triển
khai QLTHVVB. QLTHVVB phù hợp với những khu vực được công nghiệp hóa cao cũng như với các
khu vực nông thôn. QLTHVVB là sự cam kết dài hạn, và là một quá trình cần được duy trì thường
xuyên.
Bốn bài học để triển khai QLTHVVB và quản trị vùng ven biển hiệu quả là:
 Hiểu và xem xét kinh tế biển qua một góc độ khác là cần thiết, không chỉ tập trung vào bảo vệ
các hệ sinh thái biển như môi trường sống mà còn cần xem xét các giá trị sinh thái và kinh tế.
 Ủng hộ quản lý dựa trên hệ sinh thái. Khái niệm này cần được ưu tiên cao trong mọi hoạt
động.

Một ví dụ về Liên minh LGU là CENECCORD (Hội đồng trung ương Đảo Negros về Phát triển nguồn
tài nguyên ven biển). Hội đồng này bao gồm 7 thành viên là các thành phố và đô thị ở gần nhau. Họ
đã cùng nhau phát triển một chương trình quản lý nghêu dọc địa phận bờ biển. Kết quả là, ngư dân ở
các liên minh LGU đã đồng ý theo chương trình quản lý và nghêu được bảo vệ rất tốt.
Các hội đồng quản lý nguồn lợi thủy sản địa phương (FARMC) là một ví dụ điển hình về sự tham gia
tích cực của người dân địa phương vào việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển. Hội đồng
này có nhiệm vụ theo quy định trong pháp luật ở tất cả các cấp chính quyền địa phương ở Phi-líp-pin.
Hội đồng có các đại diện cho người dân đánh bất cá và các cơ quan, và hơn 50% các đại diện trong
hội đồng phải là ngư dân. Các hội đồng FARMC tư vấn cho các cơ quan chính quyền về quản lý
nguồn tài nguyên ven biển thông qua luật và quy định và chính quyền phải lắng nghe ý kiến của các
đại diện của ngư dân.
Nhận thấy được các lợi ích của các hội đồng FARMC, chính quyền địa phương đã nỗ lực ủng hộ và
tăng cường các hội đồng này. Tăng cường hội đồng FARMC sẽ nâng cao nhận thức của ngư dân về
16
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự tham gia của họ ở cấp địa phương nhằm cải thiện việc
quản lý nguồn lợi thủy sản. Nhận thức được nâng cao sẽ khuyến khích người dân thành lập các
tổ/nhóm tự nguyện, ví dụ như: Tổ bảo vệ rừng tự nguyện “BantayDagat” và Tổ giám sát thủy sản
“BantayKatunggan” (những người tự nguyện nâng cao thực thi pháp luật tại địa phương).
Do nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ, môi trường là một khía
cạnh rất quan trọng trong quản lý vùng ven biển. Sở Sagay và San Carlos, nâng cao ý thức được đặt
biệt tập trung vào đối tượng trẻ em. Ví dụ như việc khuyến khích học sinh tái sử dụng chất thải ví dụ
như chai nhựa, túi ni-lông và giấy để làm các sản phẩm thủ công hoặc để trưng bày ở bảo tang đầu
tiên về biển cho trẻ em ở Phi-líp-pin. Ở đây, khách tham quan sẽ được các em học sinh từ 8-13 tuổi
giới thiệu về môi trường biển, rừng ngập mặn và hệ sinh thái ven biển.
Ngoài ra, một trung tâm sinh thái cho tái chế và tái sử dụng đã được thành lập. Nhằm hỗ trợ các hoạt
động này, các thành phố cũng có những quy định rằng người dân phải phân loại rác tại nguồn, tức là
tại gia đình. Thêm vào đó là một khoản phí sử dụng nước được thu để bảo vệ nguồn nước ở khu vực
thượng nguồn. Ở San Carlos, cứ mỗi mét khối nước, người dân phải nộp thêm 0.7 pê-sô. Các quỹ
này được sử dụng cho việc phục hồi và tái trồng rừng ở khu vực thượng nguồn.
QLTHVVB cũng bao gồm phân khu và thiết lập khu vực biển được bảo vệ. Khu vực biển được bảo vệ


Chiến lược QLTHVVB ở Việt Nam hiện vẫn còn là bản thảo và sau khi hoàn thành chiến lược, Bộ
TN-MT sẽ trình lên bộ trưởng.
Việt Nam là một quốc gia biển với hơn 3.260 km đường biển và khoảng 30 triệu người sống ở 125
huyện ven biển. Bờ biển cung cấp 80% lượng đánh bắt thủy sản của cả nước và đóng góp gần 4.5 tỷ
đô la Mỹ giá trị xuất khẩu vào GDP năm 2010 và khoảng 5 tỷ đô la Mỹ vào năm 2011. Bên cạnh
những tiềm năng của hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên sinh thái và sinh học, khu vực ven biển
của Việt Nam còn giàu về các nguồn tài nguyên khác như dầu mỏ, khoáng sản và khí đốt. Khoáng
sản được phân bố dọc bờ biển. Tiềm năng du lịch duyên hải cũng cao với 125 bãi biển lớn và một số
di sản thế giới ở vùng ven biển (Vịnh Hạ Long, Quảng Bình, Huế, Hội An).
Do đó, khu vực ven biển của Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển của quốc
gia cũng như trong hệ thống quản lý của chính phủ. Nhưng Việt Nam lại chưa công nhận là một quốc
gia mạnh về QLTHVVB và kinh tế biển. Bờ biển của Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều đe dọa,
ví dụ như: mất đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển xuống cấp, môi trường sống ven biển bị phá hủy
và các tác động của hoạt động trên đất liền gia tăng. Thêm vào đó, do đặc điểm về vị trí địa lý, Việt
Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất từ thiên tai. Sự cố ở biển Đông như tràn
dầu cũng sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. Việt Nam nằm trong danh sách 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng
nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Trong khi đó, Việt Nam cũng đang phải đối mặt
với vấn nạn khai thác cạn kiệt và phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ven biển quá mức. Nuôi trồng
thủy sản khiến cho mất đi 70% hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển.
Mặc dù sử dụng nhiều nguồn tài nguyên ven biển. Nhưng phương pháp tiếp cận truyền thống trong
quản lý và chính sách vẫn còn đó. Giải quyết xung đột về sử dụng tài nguyên đòi hỏi sự quản lý hiệu
quả các hệ sinh thái và cần có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan phối hợp với nhau. Khu
vực biển và ven biển ở Việt Nam do 15 bộ/ngành quản lý theo ngành dọc do đó có sự chồng chéo và
phân tán. Do đó, cần phải có một cơ quan trung ương đề phối hợp liên ngành về bờ biển, biển và
đảo và cũng cần có chính sách quản lý vùng ven biển liên ngành.
Từ năm 1995, sáng kiếm Quản lý tổng hợp đới bờ đã được xây dựng ở cấp trung ương và triển khai
dưới dạng dự án thí điểm do nha nước và các tổ chức quốc tế tài trợ ở cấp địa phương. Năm 1996,
Bộ Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ các dự án quốc gia nghiên cứu phát triển kế hoạch Quản lý
Tổng hợp Đới bờ để gìn giữ hệ sinh thái và bảo vệ môi trường. Đó là nghiên cứu đầu tiên đề cập đến

gian biển. Luật về QLTHVVB đang được bàn luận. Sau khi thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam (VASI), bộ TN-MT giao cho VASI nhiệm vụ quản lý tổng hợp biển và đảo và trực tiếp quản lý
các hoạt động ở vùng ven biển.
Thách thức/trở ngại chính cho triển khai QLTHVVB ở Việt Nam là:
 Thiếu cơ chế cho Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển ở các cấp
 Thiếu hệ thống quốc gia về chính sách và luật cho Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển và thực thi
chưa tốt
 Cơ chế phối hợp liên ngành/liên bộ và giữa các bên có liên quan về phát triển và triển khai Quản
lý Tổng hợp Vùng ven biển còn nhiều hạn chế
 Lồng ghép Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển vào kế hoạch kinh tế-xã hội của quốc gia và tỉnh còn
yếu và thiếu những hướng dẫn kỹ thuật cụ thể
 Lồng ghép việc quản lý ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng với Quản lý Tổng hợp
Vùng ven biển chưa được thực hiện
 Thiếu nguồn nhân lực và năng lực về phát triển và triển khai Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển
 Thiếu cơ chế tài chính bền vững cho kế hoạch triển khai Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển ở cấp
trung ương và địa phương
 Nhận thức và sự tham gia của cộng đồng tại địa phương vào Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển
chưa rõ ràng
 Chương trình tập huấn và đào tạo về Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển còn hạn chế
 Kỹ năng của cán bộ các cơ quan chịu trách nhiệm về Quản lý Tổng hợp Vùng ven biển ở cấp
trung ương và địa phương còn yếu

19
Mục tiêu chung của QLTHVVB ở Việt Nam đến năm 2020 là:
 QLTHVVB được áp dụng trên 28 tỉnh duyên hải
 Phát triển kế hoạch QLTHVVB ở 22 tỉnh duyên hải
 Thông qua và triển khai kế hoạch QLTHVVB ở 20 tỉnh duyên hải
 Thể chế hóa các hoạt động QLTHVVB
 Nâng cao nguồn nhân lực và năng lực cho phát triển và triển khai QLTHVVB


 Phối hợp liên bộ/ngành
 Hợp nhất QLTHVVB vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội
 Lồng ghép QLTHVVB vào kế hoạch của vùng duyên hải để thích ứng với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng
 Về khoa học-kỹ thuật: cơ sở dữ liệu vùng ven biển, tình trạng của các bờ biển, kế hoạch
phân vùng chức năng vùng ven biển, các vùng biển được bảo vệ…
 Hợp tác quốc tế
 Tổ chức kế hoạch hành chính cho triển khai chiến lược (Bộ Tài nguyên-Môi trường/Tổng cục
Biển và Hải đảo, UBND các tỉnh có liên quan…)

Hình 2: Lĩnh vực hoạt động QLTHVVB
20
2.3.2 Khái niệm QLTHVVB ở tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam
Ts. Klaus Schmitt, Cố vấn trưởng, Dự án Quản lý Nguồn tài nguyên Thiên nhiên Vùng ven biển của tổ
chức GIZ, Sóc Trăng, Việt Nam

rằng nếu chỉ nhìn vào thực trạng hiện nay thì chưa đủ để đưa ra quyết định. Do đó, nên sử dụng
thông tin trong lịch sử và hiểu về sự biến động của vùng ven biển để phát triển bền vững vùng ven
biển và có những giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, trông rừng cũng chỉ đem lại một lợi ích nhỏ mà thôi. Rừng trồng cần phải được bảo vệ và
quản lý. Với trường hợp của Sóc Trăng, điều này có nghĩa là đồng quản lý. Đồng quản lý phải là một
21
phần của QLTHVVB và cũng hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương. Tất cả các hoạt động này
phải được thực hiện trong khuôn khổ khung xây dựng năng lực cho cán bộ địa phương và nâng cao
nhận thức cho người dân. Các kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy việc giao đất hay hợp đồng bảo
vệ rừng không có hiệu quả khi chỉ có một dải rừng ngập mặn hẹp dọc theo bờ biển nhiều biến động.
Do đó, một cách thức quản lý mới được thử nghiệm ở Sóc Trăng: đồng quản lý, một cách thức quản
lý dựa trên thỏa thuận, quá trình ra quyết định có sự tham gia, một mức độ chia sẻ quyền hạn và sự
phân phối lợi ích công bằng giữa tất cả các bên liên quan.
Đồng quản lý là quá trình bao gồm 4 bước và 4
nguyên tắc. Có 3 thành phần chính: quá trình
có sự tham gia; thỏa thuận và quản trị cơ chế
đa nguyên. Thêm vào đó là tính bền vững đạt
được thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi
trường (PES). Nguyên tắc chung là QLTHVVB,
do đó đồng quản lý phải là một bộ phận trong
đó. Những nguyên tắc quan trọng khác là sự
tham gia, phân khu, giám sát và đánh giá. Hình
4 thể hiện 4 bước và sự liên kết giữa chúng.
Thỏa thuận thông qua 6 câu hỏi: ai làm cái gì,
khi nào và ở đâu, như thế nào và bao nhiêu.
Đồng quản lý rừng ngập mặn đã được chứng
minh là thành công. Mô hình này cải thiện sinh
kế của người dân theo cách tạo ra nhiều thu
nhập hơn từ việc thu hoạch được từ nguồn
thủy sản dồi dào hơn. Người dân cũng không

phải được thiết lập theo cách có thể giảm thiểu xói lở cuối dòng càng nhiều càng tốt. Điều này có thể
được thực hiện thông qua nghiên cứu động lực học hình thái và mô hình toán số mô phỏng thủy
động lực học và sự phát triển của bờ biển. Ngoài ra, mô hình vật lý trong máng sóng hỗ trợ thiết kế
hàng rào chắn sóng hiện tại với vật liệu và độ thấm phù hợp. Tóm lại, QLTHVVB cần có sự hiểu biết
đầy đủ về tình trạng/quá trình tự nhiên và, dựa trên đó, triển khai các giải pháp thích hợp.
Bài học từ dự án ở Sóc Trăng là:
 Đồng quản lý là cách duy trì và tăng cường hiệu quả việc bảo vệ chức năng của đai rừng
ngập mặn và đồng thời cải thiện sinh kế của người dân địa phương.
 Chi trả dịch vụ sinh thái đóng góp cho sự bền vững của đồng quản lý và cải thiện sinh kế.
 Cần phải có những giải pháp cụ thể và phù hợp với từng địa điểm. Đây là một phần của các
tiếp cận tổng hợp dọc theo vùng ven biển (không nên chỉ nhìn vào một khu vực hoặc tiếp cận
theo ngành dọc).
 Trước mối đe dọa của biến đổi khí hậu, chiến lược dàn trải rủi ro cần phải được triển khai
cùng với việc thử nghiệm các giải pháp sáng tạo và mới.
 Cần có sự hỗ trợ toàn diện về mặt chính sách từ tất cả các cấp, thỏa thuận giữa tất cả các
bên có liên quan, đồng thuận và tham gia.
 Thể chế QLTHVVB cần thích ứng với thay đổi và học hỏi từ những tiến trình triển khai
QLTHVVB.
 Mô hình toán số giúp hiểu được các quá trình phức tạp và biến động của bờ biển. Bản thân
mô hình không đưa ra quyết định nhưng nó giúp các nhà hoạch định đưa ra quyết định đúng
đắn.
23
3. Bàn tròn với các chuyên gia

Hình 4: Các chuyên gia tham dự phiên Bàn tròn với các chuyên gia
Từ trái qua phải: Ts. Thorsten Albers (von Liebermann GmbH, CHLB Đức), Ts. Klaus Schmitt (GIZ Sóc
Trăng), Gs. Tim Smith (Trường Đại học Sunshine Coast, Ô-xtrây-li-a), Ts. Stefan Groenewold (Trường Đại
học Cần Thơ), Ts. Andrea Barcelona (GIZ Phi-lip-pin), Ts. Nguyễn Hương Thụy Phấn (Ủy hội sông Mê Công)
và Ts. Nguyễn Chu Hồi (Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status