GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
1 Đề tài " Xuất khẩu thủy sản Việt Nam –
Thách thức & Cơ hội sau khi gia nhập WTO”
2) Mục tiêu cụ thể 4
III. Phương pháp nghiên cứu 4
IV. Phạm vi nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1. Lý thuyết về xuất nhập khẩu 6
1.1. Xuất nhập khẩu 6
1.2. Xuất nhập khẩu thủy sản 6
2. Một số quy định về xuất nhập khẩu thủ y sản khi gia nhập vào
WTO 7
3. Những lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam 7
3.1. Lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ở Việt Nam 7
3.1.1. Vị trí địa lý 7
3.1.2. Điều kiện tự nhiên 8
3.2. Lợi thế về lao động 9
3.3. Vị trí của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân 10
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT – CHẾ BIẾN – XUẤT KHẨU
THỦY SẢN VIỆT NAM 14
1. Thực trạng khai thác, sản xuất – chế biến – xuất khẩu thủy sản ở Việt
Nam 14
1.1. Tình hình khai thác, sản xuất 14
1.1.1. Khai thác hải sản 14
1.1.2. Khai thác thủy sản nội địa 15
1.2. Tình hình chế biến và bảo quản 16
1.3. Tình hình xuất khẩu 18
1.3.1. Mặt hàng xuất khẩu thủy sản 18
1.3.2. Thị trường xuất khẩu 19
2. Đánh giá khả năng cạnh tranh đối với ngành thủy sản ở Việt Nam sau
khi gia nhập WTO 25
4
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam có truyền thống lâu đời trong các hoạt động khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản. Ngành thuỷ sản đóng góp hơn 3% GDP trong hơn mười năm qua và được
xem là một trong những ngành có bước trưởng thành nhanh chóng nhất trong thập kỷ
vừa rồi. Hiện nay, ngành thuỷ sản đang không ngừng tăng trưởng cả về số lượng và
chất luợng. Ngoài ra, ngành thủy sản đang là ngành có thế mạnh về xuất khẩu mang về
một lượng ngoại tệ lớn cho Việt Nam.
Đặc biệt, năm 2007 Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại
Thế Giới WTO – World Trade Organization. Ngành thuỷ sản đã bước đầu hoàn thiện
môi trường pháp lý nhằm chủ động hợp tác và hội nhập quốc tế và triển khai một số
Hiệp định hợp tác với các Tổ chức quốc tế, khu vực và các nước. Bộ Thuỷ sản đang có
gắng xây dựng Chiến lược Hợp tác quốc tế và Hội nhập kinh tế quốc tế ngành thuỷ sản
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
Để hiểu rõ hơn về xuất khẩu thủy sản Việt Nam, em đã chọn đề tài nghiên cứu
cho chuyên đề Kinh Tế của mình là “Xuất khẩu thủy sản Việt Nam – Thách thức &
Cơ hội sau khi gia nhập WTO”.
II. Mục tiêu của đề tài:
1) Mục tiêu chung:
Đánh giá tình hình xuất khẩu thủy Việt Nam trong những năm qua (2003 – 2007).
Từ đó, phân tích những lợi thế và nhận diện những thách thức trở ngại trong việc xuất
khẩu thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Trên cơ sở đó, đưa ra các chiến lược
đẩy mạnh hoạt động thương mại xuất khẩu thủy sản Việt Nam càng phát triển hơn.
2) Mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong
những năm qua.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam.
dụng, nhân quả.
• Đề ra giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam: phân tích
định tính.
IV. Phạm vi nghiên cứu:
1) Về không gian:
- Địa bàn nghiên cứu: Việt Nam.
2) Về thời gian:
- Số liệu sử dụng cho đề tài là số liệu thu thập từ 2003 – 12/2007.
3) Đối tựơng nghiên cứu:
- Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu.
PHẦN NỘI DUNG
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
hoạt động gia công với nước ngoài. Ngoại thương giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế
đối ngoại.
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về mặt vật chất và tài chính,
các quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong lĩnh vực khoa
học – công nghệ có liên quan đến tất cả giai đoạn của quá trình sản xuất, giữa các quốc
gia với nhau và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế.
1.2. Xuất nhập khẩu thủy sản:
Các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản là khi mà hàng hóa (các
mặt hàng thủy sản: tôm, cá, mực …) được thực hiện mua bán từ quốc gia này sang
quốc gia khác, từ phạm vi lãnh thổ này sang lãnh thổ khác.
Ý nghĩa của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu:
• Đây là một hoạt động không thể thiếu ở các quốc gia bởi vì không một quốc gia
nào có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân trong nước.
• Nguồn tài nguyên có hạn và mỗi quốc gia có một lợi thế riêng.
• Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hằng năm mang về một lượng ngoại tệ
lớn.
• Xu hướng của thế giới hiện nay là mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các nước. 2. Một số quy định về xuất nhập khẩu thủy sản khi gia nhập vào WTO:
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
7
Từ năm 2007, Việt Nam là thành viên của WTO, và sẽ phải thực hiện đúng lộ
trình cắt giảm thuế theo như cam kết giữa Việt Nam và EU. Các hiệp định cơ bản của
WTO gồm hiệp định về thương mại hàng hoá gồm cả hiệp định chung về thuế quan và
Bình Dương; phía Tây và phía Bắc gắn liền với lục địa châu Á. Phần đất liền của Việt
Nam trải dài từ 23
o
23' đến 08
o
02' vĩ độ Bắc và chiều ngang từ 102
o
08' đến 109
o
28'
kinh độ Đông. Chiều dài tính theo đường thẳng trong đất liền từ Bắc xuống Nam
khoảng 1.650 km. Chiều ngang từ Đông sang Tây nơi rộng nhất trên đất liền là 600
km, nơi hẹp nhất 50 km.
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
8
Việt Nam có biên giới đất liền dài 3.730 km. Phía Bắc giáp nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa với chiều dài biên giới 1.150 km. Phía Tây giáp Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào trên chiều dài biên giới 1.650 km và giáp Vương quốc
Cămpuchia - 930 km. Qua biển Đông và vịnh Thái Lan là Cộng hòa Philippin, Cộng
hòa Inđônêxia, Cộng hòa Singapo, Cộng hòa Brunây và Liên bang Malaixia.
Ngoài ra, có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng
khoảng 1 triệu km
2
. Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú, cho phép
khai thác hàng năm 1,2 – 1,4 triệu tấn. Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư
trường trọng điểm là : ngư trường Minh Hải – Kiên Giang, ngư trường Ninh Thuận –
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
9
dài bờ biển có một cửa sông thông ra biển. Các cửa sông này chịu ảnh hưởng của chế
độ thuỷ triều khá phức tạp. Ngoài những con sông chảy trực tiếp vào biển, có một số
sông chảy qua các đầm phá lớn như phá Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô, Ô Loan, Thị
Nại.
d) Sông ngòi:
Trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 2.860 sông ngòi lớn nhỏ, nhìn chung
chảy xiết, do vậy thường làm xói mòn địa hình.
Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên như Hồ Tây (đại diện cho hồ miền đồng
bằng); Biển Hồ, Hồ Ba Bể, Hồ Lắk (đại diện cho hồ miền núi). Các hồ đó có mực
nước quanh năm ổn định, chu trình vật chất khép kín tự có trong hồ là chính. Diện tích
các hồ tự nhiên ở Việt Nam là 20.000 ha. Việt Nam có rất nhiều hồ chứa cỡ trung bình
và cỡ nhỏ (hiện chưa kiểm kê hết), một số hồ chứa lớn là Thác Bà, Hoà Bình (ở miền
Bắc), Dầu Tiếng, Trị An, Thác Mơ, Sông Hinh (ở miền Nam). Diện tích hồ chứa trên
180 nghìn ha. Tuy nhiên, với vai trò quan trọng trong công tác thuỷ lợi, thuỷ điện và
phân lũ, hiện nay nhiều hồ chứa mới đang tiếp tục được xây dựng.
e) Đảo và quần đảo:
Việt Nam là một quốc gia có nhiều đảo và quần đảo. Hệ thống đảo ven
bờ gồm có 2.773 hòn đảo lớn nhỏ diện tích từ 0,001 km
2
đến 100 km
2
, diện tích tổng
Cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần
nông, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể như sau:
Tổng số lao động xã hội
1990
1995
2000
2005
Trong ngành nông, lâm và ngư nghiệp
73,00%
71,10%
68,20%
56,80%
Trong ngành công nghiệp
11,24%
11,40%
12,10%
Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Ngành Thuỷ sản cao
hơn các ngành kinh tế khác cả về trị số tuyệt đối và tương đối, đặc biệt so với ngành có
quan hệ gần gũi nhất là nông nghiệp. Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật
đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông
nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan
chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá,
sản xuất ngư lưới cụ, các thiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp
nhóm A, ngành chế biến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và
nhiều hoạt động dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc
lĩnh vực dịch vụ thì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông
nghiệp.
Vì vai trò ngày càng quan trọng của Ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá
phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối
của thập kỉ 90, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống thuỷ lợi để
không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
11
cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long.
Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay
một phần vào Ngành Thuỷ sản. Ngành Thuỷ sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn
ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng nhất nhì trong nền kinh tế ngoại
thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn gia tăng hàng năm và năm 2004 đạt gần
tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất
là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ. Nghề khai thác thuỷ sản ở
sông Cửu Long được duy trì đã tạo công ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã
ven sông.GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
12
c) Xoá đói giảm nghèo
Ngành Thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát
triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung
cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm
nghèo. Tại các vùng duyên hải, từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh
từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm
canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi
công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá
lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất
nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản.
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã
phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du
miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa.
d) Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
13
nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có
chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mè, trắm, các loại cá chép, trôi Ấn Độ và
các loài cá rô phi đơn tính.
f) Nguồn xuất khẩu quan trọng
Trong nhiều năm liền, Ngành Thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong
bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Ngành
Thuỷ sản còn là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD.
Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 2,7 tỷ USD.
g) Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa,
nhất là ở vùng biển và hải đảo
Ngành Thuỷ sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền
trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo, góp phần
thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Hệ thống cảng cá
tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần
bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc.
về sản lượng khai thác thuỷ sản.
1.1.1. Khai thác hải sản:
Khai thác hải sản luôn giữ vai trò quan trọng trong ngành thủy sản, góp
phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển.
Năng lực khai thác hải sản:
Tàu thuyền đánh cá:
Tàu thuyền khai thác phần lớn là loại vỏ gỗ. Các loại tàu vỏ thép, xi
măng lưới thép, composite chiếm tỷ lệ không đáng kể. Những năm gần đây, số lượng
tàu thuyền máy tăng nhanh, trong khi đó, thuyền thủ công giảm dần. Năm 2001, tổng
số thuyền máy là 74.495 chiếc và thuyền thủ công là 13.267 chiếc, chiếm tỷ lệ tương
ứng là 85% và 15% tổng số tàu thuyền khai thác hải sản. Tổng công suất tàu thuyền
máy đã đạt tới 3.497.457 CV (năm 2001), lớn gấp 4,3 lần so với năm 1991, công suất
bình quân đạt gần 45CV/chiếc, tăng 2,5 lần so với 1991. Năm 2004, theo báo cáo từ
các địa phương, tổng số tàu thuyền máy đã tăng lên đến 85.430 chiếc với tổng công
suất 4.721.700 CV, công suất bình quân đạt hơn 55 CV/tàu. Công suất trung bình các
đội tàu ở phía Nam đạt trên 90 CV/tàu và các vùng còn lại là 30 CV/tàu. Đáng chú ý
là, số lượng tàu quốc doanh đã giảm còn 44 tàu vào năm 2002.
Trong giai đoạn 1991 - 2004, số lượng tàu thuyền máy tăng bình quân
hằng năm 5,6%, nhưng mức tăng này có xu hướng chậm dần. Trong khi đó, mức tăng
tổng công suất trung bình hằng năm là 15,8 %, chiều hướng này cũng đang giảm dần.
Sự chênh lệch mức tăng giữa số lượng tàu và tổng công suất trong giai đoạn này cho
thấy, trong số tàu tăng hằng năm, số tàu công suất lớn chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đây là
xu thế tích cực khi người dân chú trọng đóng tàu vươn khơi xa, giảm dần áp lực khai
thác vùng ven bờ. Chủ trương phát triển khai thác xa bờ, ổn định khai thác vùng gần
bờ của ngành thủy sản thực hiện trong nhiều năm qua cũng đã góp phần quan trọng
+ Nghề đáy cao tại một số tỉnh đã có tác động xấu đến bảo vệ nguồn lợi,
vì đối tượng đánh bắt chủ yếu là các đàn cá chưa trưởng thành thường vào vùng
cửa sông kiếm ăn.
1.1.2. Khai thác thủy sản nội địa
Khai thác ở hồ
Việt Nam có trên 200.000 ha mặt nước hồ, trong đó diện tích hồ tự nhiên trên
20.000 ha, còn lại là hồ chứa.
Tổng sản lượng thủy sản khai thác ở hồ hằng năm
khoảng 9.000 tấn, trong đó 4.000 tấn khai thác ở hồ tự nhiên và 5.000 tấn khai thác ở
các hồ chứa.
Khai thác ở vùng trũng ngập nước
Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ không có vùng trũng ngập nước lớn. Vùng đồng
bằng sông Cửu Long có nhiều vùng ngập nước theo mùa rất lớn. Ví dụ, vùng đồng
Tháp Mười là 140.000 ha và vùng tứ giác Long Xuyên là 218.000 ha.
Cá ở hệ thống
sông Cửu Long di cư vào vùng trũng ngập nước trong mùa mưa để kiếm ăn. Đến mùa
khô lại di chuyển ra sông. Nông dân ở hai vùng trũng ngập nước này hằng năm khai
thác được khoảng trên 20.000 tấn.
Khai thác trên sông
Nước ta có hàng ngàn sông, rạch. Trước đây, nguồn lợi cá sông rất phong phú.
Vào thập kỷ 70, trên sông Hồng có trên 70 hợp tác xã đánh cá. Sản lượng khai thác
• Chế biến sản phẩm xuất khẩu
Là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm mục tiêu xuất khẩu thu ngoại tệ.
Trước những nguy cơ và thách thức mới, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất
khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long đã không ngừng đổi mới phương thức quản lý và tác
phong làm việc; tích cực đầu tư máy móc và trang thiết bị hiện đại để tiến hành qui
trình tự động hoá sản xuất.
Áp dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ bảo quản sau thu
hoạch, công nghệ surimi, công nghệ ngủ đông trong vận chuyển thuỷ sản tươi sống,
công nghệ đông rời IQF… Tập trung chế biến các mặt hàng giá trị gia tăng như mặt
hàng phi lê đông lạnh, mặt hàng surimi, sản phẩm sẵn sàng để nấu hoặc sản phẩm ăn
liền, nhờ đó tỷ trọng các mặt hàng này trong tổng sản phẩm chế biến xuất khẩu đã tăng
lên.
Đoàn thanh tra Liên minh châu Âu (EU) đã có những nhận xét tốt về việc kiểm
soát an toàn vệ sinh tại các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu vào EU của Việt
Nam, cũng như việc sửa chữa, khắc phục lỗi của cơ sở chế biến đối với các khuyến
cáo mà EU đưa ra.
Chế biến thủy sản là khâu rất quan trọng của chu trình sản xuất, kinh doanh thủy.
Những hoạt động trong lĩnh vực chế biến trong 10 năm qua được đánh giá là có hiệu
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
17
quả, đã góp phần tạo nên sự khởi sắc của ngành thủy sản. Các khía cạnh được đánh giá
cụ thể như sau:
Nguồn nguyên liệu và cơ cấu sử dụng nguyên liệu cho chế biến thủy sản
Do tổng sản lượng thuỷ sản tăng mạnh và công nghệ chế biến, thói quen tiêu
dùng cũng có nhiều thay đổi nên lượng nguyên liệu được đưa vào chế biến ngày càng
Đến năm 2000, lượng hàng thuỷ sản đông lạnh vẫn tiếp tục tăng mạnh (chiếm
86% về giá trị các mặt hàng thuỷ sản chế biến của Việt Nam). Trong các sản phẩm
thuỷ sản đông lạnh thì tôm đông lạnh chiếm khoảng 23% về khối lượng chế biến. Mực
và bạch tuộc đông lạnh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, trung bình là 38,57%/năm.
Năm 2000, lượng mực chế biến đông lạnh xuất khẩu lên tới 38.104 tấn, chiếm 18%
khối lượng hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Mực thường được sản xuất dưới
dạng đông lạnh nguyên con, đông rời hoặc gần đây là Sashimi, Seafood mix, mực trái
thông v.v
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
18
Mặt hàng cá đông lạnh những năm gần đây cũng có tốc độ tăng rất mạnh. Năm
2000 đã đạt 56.052 tấn, chiếm 19% tổng sản lượng thuỷ sản xuất khẩu. Mặt hàng filet
đông lạnh phần lớn được chế biến cho xuất khẩu. Đông lạnh nguyên con tăng nhanh
do được tiêu thụ cho cả thị trường nội địa, thị trường Trung quốc và một phần xuất
khẩu cãc thị trường khác.
Các loại đông lạnh khác: chủ yếu là các loại ghẹ, ốc, cua, sò, điệp, các mặt hàng
phối chế (như ghẹ nhồi Kany boy, Kany girl, gạch ghẹ đóng bánh đông lạnh). Các sản
phẩm này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh cùng với sự tăng trưởng của các mặt hàng
có giá trị gia tăng. Năm 2000, sản lượng của các mặt hàng này tăng lên tới 77.212 tấn,
đạt 26% tổng sản lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam.
b. Mặt hàng tươi sống
Cơ cấu sản lượng và giá trị theo các nhóm hàng sản phẩm thủy sản xuất
khẩu luôn có nhiều biến động, chỉ có mặt hàng tôm đông lạnh tương đối ổn định ở
mức trên 50% thị phần. Mặt hàng mực và tuộc đông lạnh có xu hướng giảm liên tục,
từ 15% năm 1997 xuống con 7% năm 2004. Mặt hàng cá đông lạnh tương đối ổn định
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
19
ở mức trên 10% thị phần những năm 2004 đã tăng lên chiếm 22% thị phần. Nhóm mặt
hàng thủy sản tươi sống có xu hướng tăng nhẹ. Nhóm mặt hàng thủy sản đông lạnh
khác và nhóm hàng khô có sự tăng giảm thất thường, không có xu hướng rõ rệt. Hàng
xuất khẩu đã qua chế biến tăng từ 201.724 tấn năm 1997 lên 516.952 tấn năm 2004,
tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997-2004 là 14,4%/năm.
Biểu đồ 1: Mặt hàng xuất khẩu thủy sản qua hai năm 1997 và 2004
0%
10%
20%
30%
40%
50%
1997 2004
Tôm
Mực
Cá
518.747
2400,781
626.991
2739,000
811.510
3348,291
(Nguồn: tổng hợp theo báo cáo của Bộ thủy sản, lấy từ các sở Thủy Sản
[email protected])
1.3.2. Thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu đã được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, bao
gồm cả năm châu lục, trong đó Nhật Bản và Mỹ là hai thị trường lớn đầy tiềm năng.
Tuy thị trường Nhật vẫn là một thị trường lớn nhưng cũng giảm dần về tỷ trọng, từ
50% thị phần (năm 1997) xuống còn 32,2% (năm 2004). Thị trường Mỹ có tốc độ phát
triển khá nhanh, từ chỗ chỉ đạt 5% vào năm 1997, đến năm 2000 đã 20% thị phần và
năm 2004 chiếm 25%. Thị trường châu Á (trừ Nhật Bản) chủ yếu là Đài Loan và Hàn
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
20
Quốc có xu hướng giảm, tỷ trọng năm 1997 là 31%, đến năm 2000 giảm còn 28% và
Mỹ
20.2
Hàn Quốc
7.6
Nga
3.1
Úc
3.9
Singapore
1.8
Canada
1.8
Trung Quốc
2.5
Thị trường khác
7.9
Hông Kông
2.9
Đài Loan
3
(Nguồn: Thông tin thương mại thuỷ sản số 27/3/2006)
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
21
Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tới các thị trường chính 2 tháng đầu
80
90
100
EU Nhật Bản Mỹ Hàn Quốc Úc Nga Đài Loan Hồng
Kông
Trung
Quốc
Singapore
2 tháng đầu năm 2006
2 tháng đầu năm 2005
b
(Nguồn: Thông tin thương mại thuỷ sản số 27/3/2006)
Bảng 2:Thị trường xuất khẩu hàng thuỷ sản VN trong 12 tháng năm 2007
Thị trường
Số
lượng(tấn)
Giá
trị(USD)
EU 162139.2
527872801
Hoa Kỳ 56240.6
413589217
Nhật Bản 64351.2
Total 527510.7
2104404660
(Nguồn
:
Trung tâm Tin học Thuỷ sản)
• Thị trường EU:
Trong các năm qua EU là một thị trường thương mại quốc tế quan trọng. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự có chỗ đứng đáng kể trên thị trường này và
EU vẫn còn là thị trường giàu tiềm năng cần khai phá. Do đó, để thâm nhập tốt thị
trường này doanh nghiệp cần chú ý đến các khía cạnh về an toàn, sức khỏe, chất lượng
và các vấn đề môi trường và xã hội. Hiện nay và cả trong tương lai, quyền lợi của
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
22
người tiêu dùng được đặt lên hàng đầu. Do vậy, chất lượng sản phẩm là yếu tố thành
công quan trọng nhất khi nhắm vào thị trường EU.
EU là thị trường đòi hỏi yêu cầu chất lượng rất cao, điều kiện thương mại
nghiêm ngặt và được bảo hộ đặc biệt. Các khách hàng EU là nổi tiếng về mẫu mốt, thị
hiếu, khác với khách hàng Việt Nam thì giá cả có vai trò quyết định trong việc mua
hàng. Do đó, khi các sản phẩm đạt các yếu tố về chất lượng, thời trang và giá cả hấp
dẫn thì sản phẩm mới có cơ hội hấp dẫn được người tiêu dùng ở Châu Âu. Đây là các
vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải chú ý để thâm nhập và thành công ở thị trường
này.
90,7
73,7
116,7
231,5
367,3
Khối lượng
(tấn)
20.290,8
26.659,1
28.612,8
38.186,8
73.459,2
110.911,2
(Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản)Bảng 4: Xuất khẩu thuỷ sản đông lạnh của Việt Nam theo thị trường EU
(Tấn)
Giá trị
(1000USD)
Eu-15
Ai Xơ Len
63.4
314.7
9.1
35.4
675.6
Italy
6 841.9
13 074.7
10 048.9
17 490.8
11 589.4
23 043.2
Đức
4 896.5
20 707.6
3 834.0
11 750.0
5 383.5
18 244.8
4 308.2
14 599.3
Tây Ban Nha
1 858.2
4 802.5
2 042.0
5 122.0
3 739.5
8 261.6
Đan Mạch
284.7
1 254.6
465
1 258.3
569.1
Séc - Czech
963.2
973
1 147.3
1 345.7
1 337.4
1 217.1
Ba Lan - Poland
50.6
130.5
157.7
335.9
568.2
1 101.5
EU-25
cả thế giới nên cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu vào Hoa Kỳ cũng vô cùng gay gắt và
quyết liệt. Việt Nam mới chỉ thực sự thâm nhập thị trường Hoa Kỳ kể từ năm 2002 sau
khi BTA có hiệu lực, trong khi các đối thủ cạnh tranh của ta đã có hệ thống bạn hàng
nhập khẩu và phân phối tại thị trường này từ rất lâu.
Thuỷ sản chế biến xuất khẩu sang Hoa Kỳ chưa nhiều, chủ yếu mới xuất khẩu
dưới dạng sơ chế cho nên trị giá xuất khẩu thấp. Nguyên nhân là do các cơ sở thuỷ sản
chưa hiểu hết được nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ, chưa có sự hợp tác đầu tư với đối
tác Hoa Kỳ về công nghệ chế biến thuỷ sản như chúng ta đã làm với các nhà đầu tư
Nhật Bản. GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế Sinh viên thực hiện: Phạm Lê Đông Hậu - 4054388
24
Bảng 5: Mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ năm 2000 - 2004
Đơn vị : Nghìn USD
Mặt hàng
2000
2001
Cá sấy khô, ướp muối, hun
khói …
374
596
722
1,005
3,549
Hải sản thân mềm, nhuyễn
thể
8,17
6,16
5,82
7,44
6,18
Cá đông lạnh (không bao
gồm cá filê hoặc cá thịt khác)
69,17
56,45
78,36
(Nguồn : Số liệu của Bộ Thương mại Hoa Kỳ)
Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng hải sản (kể cả chế biến) đạt
777.66 triệu USD, tiếp tục xếp vị trí thứ hai sau hàng dệt may trong bảng xuất khẩu
của Việt Nam vào Hoa Kỳ, chiếm 35,3% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
Trong nhóm hàng thuỷ sản, tôm đông lạnh đạt kim ngạch 469 triệu, chiếm 64% tổng
kim ngạch nhóm hàng thuỷ sản. Tôm và cua chế biến đạt 162 triệu USD. Kim ngạch
xuất khẩu cá phi lê giảm khoảng 19% so với trước do tác động của thuế chống bán phá
giá.
Năm 2004, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào Hoa Kỳ các mặt hàng như mực
đông lạnh, bạch tuộc đông lạnh, tôm đông lạnh, cá ngừ, cá đông lạnh, mực khô, các
khô và các mặt hàng khác với tổng số lượng đạt 91.380.6 tấn, trị giá là 602.9 triệu
USD. Hoa Kỳ chiếm 25,1% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam. Trong đó, tôm
đông lạnh đạt 37.060 tấn, trị giá 397 triệu USD, cá đông lạnh đạt 33.680 tấn, trị giá
119 triệu USD.
Năm 2005, do tác động đồng thời của việc áp thuế chống bán phá giá cá tra, cá
ba sa philê đông lạnh và tôm đông lạnh, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Hoa
Kỳ có phần giảm sút, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm 23% thị phần xuất khẩu của Việt
Nam.
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam là khá rộng lớn và
đầy tiềm năng. Hiện nay, thị trường còn được mở rộng ra thêm. Tuy nhiên, vẫn còn
GVHD: Cô Trương Khánh Vĩnh Xuyên Chuyên đề Kinh Tế
Do vậy, chính Việt
Nam lại đang tạo một thị trường tốt để cho sản phẩm các nước nhảy vào. Thủy sản
Việt Nam đang xuất sang các thị trường có điều kiện hơn về công nghệ, về mức sống;
và các nhà máy chế biến của nước ta đã đáp ứng được yêu cầu của họ. Song, hạ tầng
cơ sở của nhiều nhà máy vẫn là sản xuất nông nghiệp, manh mún. Điều này có thế
mạnh trong việc phát huy nội lực nhưng lại rơi vào thế yếu khi sản xuất hàng hóa với
khối lượng lớn.
Trước đây, vấn đề An Toàn Vệ Sinh sản phẩm thủy sản quyết định ở sản phẩm
cuối nhưng nay đã khác, phải "sạch" ngay từ khâu con giống, quá trình nuôi mới đến
chế biến, nếu không sản phẩm không sạch. Rõ ràng là quả bóng trong chân mình, mình
phải tự quyết định.
Nhược điểm chính của xuất khẩu thủy sản Việt Nam là chưa định hình, tập
trung sức để tạo một số mặt hàng chủ lực, chưa có các giải pháp đồng bộ (tạo nguồn
nguyên liệu lớn, ổn định, đúng tiêu chuẩn kích cỡ, độ tươi và công nghệ chế biến cao).
Chưa tập trung giải quyết tốt việc đổi mới công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với