tìm hiểu về dân tộc tày ở Cao Bằng - Pdf 15

I. Phần mở đầu
1.1. Khái quát chung về tỉnh Cao Bằng.
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với
tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài trên 332 km.
Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.724,62 km
2
, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất,
có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 - 1.300 m so với mặt
nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình
thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây
nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.
Cao Bằng có 13 huyện, thị với 199 xã, phường, thị trấn.
Cao Bằng là một vùng văn hoá đa dạng, phong phú bởi sự giao hoà của văn hoá của
nhiều dân tộc anh em. Các dân tộc tiêu biểu ở Cao Bằng bao gồm Tày, Nùng, Dao, Sán
Chỉ, Kinh, Mông và dân tộc Hoa.Trong đó, dân tộc Tày chiếm ưu thế (khoảng 42%), dân
tộc Nùng (35%), còn lại là các dân tộc khác như Dao (9,8%), H’mong (6,3%), Kinh
(5,5%)… Mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình.
Các dân tộc thường sinh sống theo những quần thể trên các vùng khác nhau. Dân tộc
Kinh thường sống ở các thị xã, thị trấn thị tứ các nơi có điều kiện giao lưu buôn bán.
Họ có truyền thống văn hoá lâu đời, có chữ viết riêng (nhóm ngôn ngữ Tày - Nùng). Nét
đặc sắc về văn hoá của người Tày được thể hiện trong làn điệu Lượn, Hát then, Lượn
Slương, Lượn cọi, Lượn ngạn, múa Sluông, múa chầu, cây đàn tín, Phướng lỵ. Đàn ông
Tày xưa vốn trang phục áo dài chàm, quần trắng, đầu đội khăn xếp, đỉnh chếch về phía
sau, chân đi hài xảo, giầy vải. Phụ nữ Tày đầu vấn ngang, ngoài chùm khăn vuông mỏ
quạ, áo dài màu chàm gài khuy đồng bên phải, ngang lưng thắt dải chàm, hai đuôi dải
buông dài xuống đằng sau. Chất liệu vải chàm đều bằng tự dệt, tự nhuộm
Người Tày chiếm số lượng khá lớn trong tỉnh, sống ở hầu hết các huyện.
Dân tộc Nùng, sống đan chen trên các địa dư cùng người Tày. Dân tộc Nùng có nhiều
tộc, căn cứ vào ăn mặc và tiếng nói để phân biệt: Nùng Inh, Nùng An, Nùng Lòi, Nùng
Giang v.v Trang phục dân tộc Nùng phong phú hơn vì dân tộc Nùng có nhiều ngành
nhưng nhìn chung các nét cơ bản là giống nhau. Phụ nữ Nùng ống tay áo rộng, cổ tay, cổ

Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, người Tày còn di cư tới một số tỉnh Tây Nguyên
như Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam có dân số
1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh,
thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn (259.532 người, chiếm
35,4 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số người Tày tại Việt Nam), Cao Bằng (207.805
người, chiếm 41,0 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số người Tày tại Việt Nam), Tuyên
Quang (185.464 người, chiếm 25,6 % dân số toàn tỉnh và 22,5 % tổng số người Tày tại
Việt Nam), Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3 % dân số toàn tỉnh và 20,5 % tổng số
người Tày tại Việt Nam), Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9 % dân số toàn tỉnh và
18,9 % tổng số người Tày tại Việt Nam), Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3 % dân số
toàn tỉnh và 16,4 % tổng số người Tày tại Việt Nam), Thái Nguyên (123.197 người,
chiếm 11,0 % dân số toàn tỉnh và 15,0 % tổng số người Tày tại Việt Nam), Lào Cai
(94.243 người), Đắk Lắk (51.285 người)
Người Tày ở Cao Bằng cư trú ở tất cả các xã trong tỉnh, từ đô thị tới vùng sâu, vùng xa,
vùng biên giới. Tập trung nhiều ở các huyện miền Đông của tỉnh như: Trùng Khánh
(68,9%)' Hoà An (65,03%), Trà Lĩnh (49,67%), Hạ Lang (47,74%), Thị xã (47,58%),
Thạch An (44,2%). . . Ở phạm vi huyện, thị, xã, thị trấn, phường thì người Tày sinh sống
đan xen với các dân tộc khác, trong phạm vi bản làng thì vẫn có những bản thuần người
Tày. Ở các xã biên giới có 19,2- 11 % tổng số người Tày sinh sống, có vị trí, vai trò quan
trọng trong sự phát triển KT-XH vùng biên giới và bảo vệ an ninh tổ quốc.
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ
nhất trước Công nguyên.
Đặc điểm kinh tế: Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại
cây trồng như lúa, ngô, khoai và rau quả mùa nào thức đó.Người Tày có truyền thống
làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi
như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập
lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về
nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả Chăn nuôi phát
triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá

làm bếp. Tuỳ theo nhà lớn hoặc nhà nhỏ để tạo kích thước bếp, nhưng thông thường mỗi
bề khoảng 1 m và được kê chắc chắn bằng loại gỗ tốt. Những người đàn ông trong gia
đình sẽ dùng đất sét nhuyễn nện chặt vào ô vuông gỗ để làm nền. Nền bếp thường nằm
thấp hơn sàn nhà khoảng 5 cm. Theo truyền thống, người Tày dùng ba hòn đá kê lại để làm
đầu rau bếp.
Theo truyền thống, người Tày dùng ba hòn đá kê lại để làm đầu rau bếp. Tuy nhiên, hiện
nay rất nhiều gia đình người Tày dùng kiềng sắt ba chân. Phía trên bếp là giàn bếp gồm
hai tầng. Tầng trên là nơi chứa những đồ dùng cồng kềnh, ít sử dụng đến. Tầng dưới treo
lọ muối, lọ mỡ, hạt giống… hoặc đồ mới đan lát xong.
Khi đã làm xong nhà mới và bếp mới, trước khi vào ở nhà mới, việc quan trọng của đầu
tiên của người Tày là nổi lửa. Gia chủ sẽ đi mời một hoặc vài ông già có uy tín trong làng
bản đến châm bếp và chúc phúc cho căn nhà mới của mình. Những người đó sẽ vừa châm
lửa vừa nói to lên rằng: Tôi mang lửa đến cho gia đình. Cầu mong hạnh phúc và sung túc.
Người già khoẻ mạnh, người trẻ giỏi giang. Gia đình sinh sôi như ngọn lửa này… Sau đó,
gia đình sẽ chuyển vào ở trong ngôi nhà mới và phải giữ cho ngọn lửa trong cái bếp mới
cháy liên tục trong một ngày một đêm, ba ngày ba đêm thì càng tốt. Làm như vậy, gia
đình mới yên vui, hạnh phúc, ăn nên làm ra…
Giống như người Kinh, người Tày cũng thờ Táo quân và lập bàn thờ ngay bên
cạnh bếp. Họ không bao giờ gõ vào đầu rau bếp hay nhỏ nước bọt vào bếp lửa. Người
Tày cũng “cúng tiễn” ông Táo về chầu Ngọc hoàng vào ngày 23 tháng chạp. Nhưng họ
không “đón” ông Táo vào chiều ba mươi, mà đón vào chiều tối mùng một tết. Người dân
tộc Tày cho rằng nếu đón ông Táo mới sớm quá, dễ gặp phải ông Táo “háu ăn” sẽ thường
xuyên “quấy rầy gia đình”, nên cúng muộn hơn về tối để mong đón được một ông Táo
“điềm đạm” hơn trong năm mới.
2.1.2. Các món ăn của người tày.
Cao Bằng là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Tày,
vì vậy khi nhắc đến văn hóa ẩm thực nơi đây không thể

Xôi trứng kiến: Đồ xôi lẫn với trứng kiến đen lấy từ tổ kiến.

Cơm lam: Là món ăn đặc trưng của người Tày. Trước tiên, người ta ngâm gạo nếp rồi cho
vào ống tre non cùng một ít nước, đậy nút kín rồi đem nướng trên lửa hoặc đồ lên cho
chín. Để ống tre nguội, bóc vỏ ống để lại lượt áo mỏng bao quanh cơm. Khi ăn, dùng dao
xắt thành từng khúc nhỏ.

Cá nướng và cá sấy: Là cách chế biến thường thấy nhất ở người Tày. Cá làm sạch rồi xiên
vào que nướng trên lửa. Khi chín, gỡ thịt cá ra chấm với nước chấm. Khi có nhiều cá thì
người ta đem sấykhô trên giàn bếp để ăn dần.

Mắm cá và cá chua: Mắm cá chủ yếu làm từ cá nhỏ Mắm cá chủ yếu làm từ cá nhỏ. Cá
ướp chua trong vại với thính, rượu để gâymen chua. Cá chua dùng để ăn lâu dài, có thể ăn
sống hay nướng, rán.

Thịt lợn tái: Thịt lợn nạc thái mỏng trộn ít muối, vắt chanh vừa đủ cho thịt tái. Món này
thường dùng để nhắm rượu.

Thịt gà giò nấu canh gừng, nghệ: Món canh này những người già rất thích ăn vì mềm, bổ
và mát.

Canh xinh thang: Thịt nạc băm nhỏ cho vào nước trong, thêm gia vị.

Bánh chưng: đồ lên sẽ được xôi nhiều màu. Nguyên liệu chính để làm bánh là gạo nếp,
nhân bánh làm bằng đậu, thịt, hành hoặc lạc. Gạo nếp vo đãi sạch sau đó hoặc bằng lá
dong hay lá chuối rồi đem luộc chín. Bánh ăn trong dịp Tết Nguyên đán và tiết xuân.

Bánh dày: Thường làm vào dịp lễ hội, cưới xin. Bánh to, tròn (sì pưởng) thường làm để
biếu, bánh nhỏ, trò (sì ăn) làm để nhà ăn hay cúng. Bánh có thể có nhân hoặc không. Nhân
bánh làm bằng đậu, lạc, vừng, đường. Có loại bánh được nhuộm đỏ có loại vẽ lên trên bề

2.2. Văn hóa tinh thần.
2.2.1. Phong tục tập quán lễ nghi.
* Lễ cưới Tày
Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại
tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không.
Lễ cưới Tày là một nghi lễ của người đồng bào dân tộc Tày, Tây Bắc.
Lễ Dạm hỏi
Tại lễ này, một người chú, bác đại diện cho nhà trai mang theo một đôi gà trống thiến,
gạo nếp cùng một người đi cùng gánh lễ vật để xin ăn hỏi.
Lễ Ăn hỏi (Lễ nhận thông gia)
Thành phần gồm 1 ông chú hoặc bác bên bố chàng trai làm trưởng đoàn, 1 ông chú hoặc
bác bên mẹ chàng trai làm phó đoàn. Lễ vật đám hỏi 12 mâm khách gồm:
• 12 con gà hoặc 1 con lợn khoảng 40-50kg
• Bánh chưng
• Bánh giày
• Rượu
Từ lễ ăn hỏi này, hai bên xin phép được qua lại nhà nhau như người nhà trong những
ngày lễ tết hay có công việc lớn.
Lễ cưới
Nhà trai xem ngày tốt để tiến hành lễ cưới. Tục thách cưới, nhà trai phải lo toàn bộ đồ ăn
cho khách mời của nhà gái trong ngày cưới như: gà, lợn, xôi, bánh, gạo, rượu Trước
đây, thách cưới bằng bạc trắng, nay thách cưới bằng tiền để sắm đồ cưới.
Theo phong tục, những gia đình có con gái từ 10 tuổi trở lên phải trồng bông dệt vải. Khi
cô dâu về nhà chồng phải chuẩn bị cho ông bà nội, ngoại, bố mẹ chồng, cô, dì, chú bác
bên chồng mỗi gia đình một đôi gối, một cái chăn bông. Nếu anh em chưa có gia đình thì
mỗi người sẽ được cô dâu tặng một cái chăn và một cái gối. Đồng thời, cô dâu còn phải
chuẩn bị đầy đủ mọi dụng cụ, phục vụ sinh hoạt và lao động sản xuất để mang theo về
nhà chồng. Cô dâu trong ngày cưới mặc áo dài đen, váy đen, vấn tóc trong vành khăn.
Trước khi nhà trai đi đón dâu phải làm lễ cúng tổ tiên. Khi đi đón dâu, nhà trai gồm có 2
người cao tuổi đại diện, chú rể, phù rể, bà gia hặp (bà đưa cơi trầu). Đi đến chân cầu

theo không người ta.
Người Tày còn có một phong tục đẹp khác. Đó là tục “khẩu lẩu” (gạo rượu). Khi gia đình
nào có đám cưới (cũng như những việc hiếu hỉ khác như : vào nhà mới, thôi nôi, mừng
thọ, ma chay…), ngoài số tiền phong bao như thường lệ, nhiều người còn đem gạo và
rượu đến. Mươi ống gạo, chục lít rượu, nhiều ít tùy theo. Số gạo rượu đó được gia chủ
ghi chép vào sổ cẩn thận. Để khi nào nhà khác có việc, mình lại đi khẩu lẩu lại người ta.
Đây là một hình thức giúp đỡ lẫn nhau bằng hiện vật, đỡ phần nào chi phí cho gia chủ khi
nhà có công việc. Thập niên chín mươi trở về trước, khi kinh tế còn khó khăn, đặc biệt là
vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, thì việc làm đó thật có ý nghĩa. Nó thể hiện tính cộng
đồng rất cao của cư dân nơi đây.
Người Tày có câu “slắng lẩu cẩu vằn”, có nghĩa là mời khách tới dự đám cưới phải mời
trước chín ngày, không sớm hơn mà cũng không muộn hơn. Điều này có lẽ xuất phát từ
việc xưa kia do đi lại khó khăn, đường sá cách trở, phải mời trước như thế người được
mời mới có thời gian chuẩn bị, sắp xếp công việc đến mừng. Anh em, bạn bè ở xa có thể
đến trước một ngày. Dự đám cưới xong còn ở chơi thêm một hai ngày nữa mới chia tay.
Trong thời gian đó, gia chủ tiếp đãi rất thịnh tình, chu đáo, không để điều gì khiến khách
phiền lòng. Điều đó cho thấy lòng hiếu khách của người miền núi.
Có một điều đặc biệt là lễ cưới cử hành xong, cô gái không ở lại nhà chồng mà quay về
nhà bố mẹ đẻ ngay đêm đó. Dù đêm đã khuya, chú rể và đại diện nhà trai vẫn phải đưa cô
dâu và phái đoàn nhà gái trở về. Nếu vì lý do nào đó như đường sá quá xa xôi, không thể
về ngay mà phải ở lại thì đêm đó cô dâu và các cô gái phù dâu sẽ ngủ chung một phòng
rồi sáng hôm sau về sớm. Ngày thứ ba tính từ ngày cưới, chàng trai mới đi đón vợ về.
Đêm đó mới chính thức là đêm tân hôn của hai người.
Tục gọi đó là lễ slam nâư (ba ngày)- hiểu nôm nay là lễ lại mặt.

Theo cách giải thích của những người cao tuổi thì sở dĩ có tục này là bởi trước và trong
ngày cưới chú rể sẽ rất mệt mỏi vì phải lo nhiều việc, nhất là phải uống rất nhiều rượu
mừng của mọi người, nếu động phòng ngay thì sẽ không có lợi. Nhưng cô dâu cũng chỉ ở
nhà chồng chừng dăm bảy ngày, sau đó lại quay về sống với bố mẹ đẻ. Bởi theo phong
tục của người Tày, khi nào con dâu có con mới được về ở hẳn nhà chồng. Chính vì thế

khác như Nùng, Dao, Mông ở lòng hồ Nêôgen (nay là lòng máng sông Bằng), lưu vực
sông Bắc Vọng, Vi Vọng, sông Quây Sơn, những cánh đồng rộng Cẩu Pung (Hoà An),
Đào Ngạn (Hà Quảng)
Họ lấy việc trồng lúa nước làm nguồn sống chính, vì vậy, làng bản thường ở những địa
điểm thuận lợi cho việc canh tác lúa nước. Ở đầu bản thường có con lạch hoặc mương
nước chảy qua, tiếp đó là những vạt ruộng bằng phẳng hay những vạt ruộng vàn - ruộng
bậc thang.
Cư dân Tày có đời sống tín ngưỡng tâm linh phong phú. Họ quan niệm cõi người đang
sống là mường gần và cõi mà người chết sẽ đến là mường phi (nơi cư trú của linh hồn
người chết, nơi cũng có nhà cửa ruộng vườn, có một cuộc sống tốt đẹp hơn ). Họ còn
cho rằng, con người gồm hai phần: thể xác và hồn vía (khoăn), con trai có 7 khoăn, con
gái có 9 khoăn. Có nhiều tập tục liên quan đến khoăn: khi ốm là lúc khoăn đi chơi hay bị
lạc, thầy Tào phải làm lễ gọi khoăn về. Khi khoăn rời khỏi thân xác (khoăn pây) nghĩa là
người đó đã chết, phải làm ma cho họ.
Thành ngữ người Tày có câu: Hết kin nhoòng mỏ mạ (Làm ăn nhờ mồ mả), vì thế, khi có
người chết, gia đình cố gắng làm bằng được đám tang, còn gọi là Lễ báo hiếu. Gia đình
nào không có điều kiện thì vẫn chôn người chết, nhưng những nghi lễ báo hiếu sẽ phải
làm sau, khi có điều kiện. Lễ báo hiếu chính là lễ đưa linh hồn người chết lên trời sống
cuộc đời nhàn nhã, có như vậy hồn người chết mới phù hộ cho cháu.
Trong thủ tục làm đám, gia đình phải mời từ 1 đến 3 vị thầy Tào tiến hành những nghi
thức tang lễ. Người chết quàn trong nhà khoảng từ 3, 5, 7 hoặc 9 ngày tùy theo quyết
định của thầy Tào.
Một trong những nghi lễ đầu tiên là thủ tục nhập quan. Người ta chọn những cây gỗ tốt
để làm áo quan, sau đó là lễ nhập quan. Khi đóng nắp, người ta lấy thóc nếp đốt thành tro
đổ nước đun, quấy thành hồ trát kín áo quan.
Nhà táng làm 2 tầng, tầng trên để ở, tầng dưới là chỗ nuôi súc vật, mô phỏng kiểu nhà sàn
cổ của người Tày. Trước khi phát tang, gia đình làm thủ tục che ban thờ tổ tiên. Áo quan
để ngang gian chính, đầu đặt hướng Nam, phía trên có bát cơm quả trứng (hướng Nam là
hướng đi xa, người mất phải dời xa những người đang sống). Cửa nhà táng đặt theo
hướng nhà, bên trong là bài vị làm bằng giấy đỏ ghi họ tên, ngày sinh và ngày mất của

nước; vái lạy 5 phương, lạy xong phương nào vứt về phương đó một tờ tiền. Tang chủ
xuống bờ sông múc nước. Trong lúc đó, thầy Tào khấn bài Long Vương cấp nước thần.
Lấy nước xong, bài vị và cành phan được rước về nhà, tang chủ cầm tấm vải trắng che
đầu để hồn người chết không bị mưa, nắng, gió xâm phạm.
Người Tày quan niệm con người lúc sống ai cũng có tội nên khi chết hồn bị giam hãm
dưới ngục tối (thủy phủ). Hồn rời khỏi thân xác thì ngay lập tức dưới địa phủ giam lại, có
9 vị thần canh giữ. Muốn cho người chết siêu thoát, người ta phải phá ngục, chuộc hồn
lên làm lễ khai quang để người chết về trời.
Lễ phá ngục được tiến hành vào ban ngày. Ngục bao giờ cũng dựng trong khuôn viên
nhà, phía trước là ban thờ với lễ vật thủ lợn, cỗ tạp để dâng cúng thần linh trong bản.
Người ta còn cúng một con gà, một con vịt sống dùng đưa hồn vượt ngục về nhà.
Ngục quây vải đen là ngục dương; quây vải trắng là ngục âm; quanh ngục cắm 9 bài vị
đặt ở 9 hướng; bài vị người chết đặt ở cửa ngục. Nếu người chết do tuổi già, đau ốm thì
chỉ phá một ngục 9 lao tù; chết vì tai nạn thì phá thêm ngục nữa là thương ngục, chết do
ngã vực núi thì phá thần núi ngục; chết vì nước thì phá thêm thủy phủ ngục; chết vì sấm
sét phá thêm lôi vương ngục; phụ nữ chết do sinh nở phá thêm ngục huyết bồn.
Thầy Tào mời các thần về chứng giám, giúp phá ngục chuộc hồn về. Lễ tẩy uế được diễn
ra nơi dựng ngục để chuẩn bị làm lễ phá ngục. Thầy Tào tụng kinh cứu khổ cho người
chết. Tờ xá văn và cáo văn được để trên bát gạo đặt trước cửa ngục tù cầu xin xá tội cho
người chết. Sau đó thầy Tào hát cầu thánh thần chuộc tội và thả hồn về.
Khi phá ngục thầy đi vòng quanh ngục theo chiều kim đồng hồ 3 vòng vừa đi vừa tụng
kinh cứu khổ cho người chết để phá bỏ vòng ngoài. Khi vòng ngoài được giỡ bỏ, thầy
cùng gia đình đi vòng quanh ngục, lấy chân giẫm các cột hương dựng vòng ngoài để
chuẩn bị phá ngục Âm và ngục Dương.
Cửa ngục được phá với động tác thầy Tào dùng dao nhọn chặt tượng trưng cờ cắm ở đó.
Phá trước tiên là cửa phương Đông đến phương Nam, phương Tây, phương Bắc, rồi
Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, cuối cùng là trung tâm ngục.
Tiếp theo thầy Tào tay trái cầm con vịt sống, tay phải làm bùa chú để giúp linh hồn người
chết vượt biển từ ngục Âm lên ngục Dương. Thầy lại đi vòng quanh ngục và làm phép
tẩy uế nơi ngục Âm vừa được phá, đồng thời gọi linh hồn về trú ngụ trên bài vị để lên

cho mười ông vua đèn (thập vương đèn) có nhiệm vụ đưa linh hồn người chết lên trời.
Lễ nhiễu quan được bắt đầu với nghi thức thầy Tào cùng gia quyến đi quanh vong linh
người chết than khóc. Thầy Tào cầm quyển kinh vừa đi vừa khấn, bò tiếp sau là tang chủ
(cháu nối dòng của người quá cố) trên lưng buộc linh vị, con rể cầm cành phan, con gái
gánh gạo, gánh gà vịt, sau cùng là những người thân trong gia đình. Họ vừa đi vừa nghe
các bài ca Khởi linh nhiễu quan, Cứu khổ nhiễu quan, Thập nguyệt hoài thai (Bài này chỉ
dùng cho trường hợp người mẹ mất), Thập biệt khoa và Giải hạn cho vong hồn người
chết. Họ quan niệm, những người thân đi quanh vong linh người chết nhiều bao nhiêu thì
hồn người chết sớm được siêu thoát bấy nhiêu và đây cũng thể hiện mức độ báo hiếu của
con cháu đối với công ơn của cha mẹ.
Xưa người ta thường làm lễ giải oan cho người chết. Thầy Tào lấy 3 bơ gạo đổ vào nong
và đặt vào chỗ gạo đó 36 ngọn cỏ gianh để trừ tà. Thầy Tào tay cầm cành phan vừa đi
vừa xướng bài ca giải kết, theo sau là tang hiếu. Đến trước nong gạo, thầy cúi xuống cầm
3 ngọn cỏ và viết bùa chú. Đi hết mỗi vòng thầy ném cỏ ra phía ngoài cửa cho đến khi hết
36 ngọn thì chuyển sang lễ khoa hoa tan, là lễ cúng hoa, đưa ngũ cốc cho người chết.
Đoàn tang hiếu tiếp tục cùng thầy Tào đi vòng quanh áo quan, đến trước nong gạo thầy
Tào cúi xuống vốc gạo vãi lên trên vong linh.
Lễ cấp phó là lễ cấp tiền bạc, nhà cửa, những vật dụng cho người chết dùng khi bắt đầu
cuộc sống mới. Thầy Tào ghi lại những thứ mà gia đình gửi cho người mất. Thầy đọc tờ
cấp phó, sau đó tang hiếu điểm chỉ để chứng nhận những vật dụng mà người chết sẽ
mang theo. Tờ cấp phó được cho vào phong bì cùng vài hạt gạo, ít tiền thật rồi phong lại,
treo lên cành phan. Bài vị của người chết cũng được gắn lên cành phan để chuẩn bị làm lễ
khai khoa lộ, mở đường cho hồn người chết về trời. Người ta lấy một tấm vải trắng, mở
hai viên ngói trên cửa nhà đặt một đầu vải vào lỗ đó, đầu kia thả xuống đất nơi cửa nhà
táng đặt linh vị người chết hướng ra. Gia đình từ biệt người chết và hóa vàng mã, quần
áo, giấy thông hành cho người chết. Thầy Tào cùng tang hiếu đến trước đàn làm lễ tạ ơn
các vị thần linh chứng giám và giúp đưa linh hồn người chết về trời.
Lễ tách hồn (pjải khoăn) có nghĩa là chia tay với vong hồn. Thầy Tào lấy bát mỡ dùng
giấy bản xoắn làm bấc để thắp đèn, đặt lên lưng tang chủ và làm lễ tách hồn. Khi tang
chủ ngồi dậy bát úp ngược xuống đất là điềm tốt. Hồn người chết được thầy Tào đưa lên

phó, một số đồ dùng tư trang thì hơ qua lửa tượng trưng là đã chu cấp cho người chết.
Sau khi chôn người chết, thầy Tào lập bài vị cho người chết để thờ tại gia đình. Con cháu
đã báo hiếu được với người thân đã mất, họ đã lo được mồ yên mả đẹp, đất đai, nhà cửa
để người thân của mình được hưởng phúc ở thế giới bên kia .
2.2.2 Lễ hội, lễ tết.
* Lễ hội
Là một tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, Cao Bằng có nền văn hóa truyền thống rất phong
phú. Người Tày chiếm số lượng khá lớn trong tỉnh, sống ở hầu hết các huyện. Họ có
truyền thống văn hóa lâu đời, có chữ viết riêng (nhóm ngôn ngữ Tày - Nùng), có điều
kiện kinh tế khá hơn các dân tộc khác. Nét đặc sắc về văn hóa của người Tày được thể
hiện trong các hộïi làng, ca hát đối đáp, hát ví, hát then. Về nhạc cụ, đàn tính là loại đàn
dân tộc đặc trưng của người Tày. Dân tộc Nùng sống đan xen với dân tộc Tày nên về mặt
văn hóa chịu nhiều ảnh hưởng của dân tộc Tày. Dân tộc Dao sống chủ yếu ở vùng núi
thấp, văn hóa còn ít nhiều hạn chế, đặc biệt còn có nhiều phong tục tập quán lạc hậu. Dân
tộc Mông sống ở vùng núi cao hẻo lánh, có ngôn ngữ thuộc nhóm Mông - Dao. Họ
thường sử dụng các loại nhạc cụ như khèn và đàn môi để gọi bạn tình và ca ngợi cuộc
sống quê hương. Lễ hội truyền thống của tỉnh Cao Bằng là nét đặc trưng của các dân tộc
sinh sống trong vùng, tiêu biểu là:
• Hội mời Mẹ Trăng: Đây là lễ hội của người Tày vùng Đông Khê, được tổ chức vào
đầu mùa xuân sau Tết Nguyên Đán, kéo dài từ 10 - 15 ngày. Hội chỉ mở riêng
trong từng bản, hoặc có mời thêm một số người thân thuộc từ các bản lân cận cùng
tham gia. Mọi nhà trong bản điều nô nức tham gia lễ hội. Lễ hội mang mục đích
cầu Mẹ Trăng ban điều lành, điều tốt cho dân bản, mùa màng bội thu, gia súc sinh
sôi không bị dịch bệnh Không khí lễ hội như trộn lẫn giữa thực tại và huyền ảo
trong mối giao lưu giữa người trần thế và người cõi tiên của tiết trời xuân. Trong
thời gian diễn ra lễ hội có các trò chơi như chọi gà, đánh quay, đánh yến Lễ kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status